MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1
NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận của vấn đề .............................................................................. 2
II. Khái niệm chung về nhân cách ......................................................................... 2
III. Vai trò của các yếu tố ảnh hưởng .............................................................. 3
tới sự hình thành và phát triển nhân cách
1. Nhân tố bẩm sinh - di truyền có vai trò tiền đề vật chất ............................. 3
2. Nhân tố hoàn cảnh sống .............................................................................. 4
a. Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng ................................................................... 4
đến sự hình thành và phát triển nhân cách
b. Môi trường xã hội có vai trò quan trọng ..................................................... 5
trong sự hình thành và phát triển nhân cách
3. Nhân tố giáo dục giữ vai trò chủ đạo ......................................................... 6
4. Nhân tố hoạt động giữ vai trò quyết định trực tiếp .................................... 7
5. Nhân tố giao tiếp giữ vai trò cơ bản ........................................................... 7
IV. Liên hệ thực tế .........................................................................................
9
KẾT LUẬN ................................................................................................... 10
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 11
MỞ ĐẦU
Vấn đề nhân cách được coi là một trong những vấn đề cơ bản song cũng là
một vấn đề phức tạp nhất của khoa học tâm lý nói riêng và của khoa học xã hội
và nhân văn nói chung.
Nhân cách không phải được sinh ra, không phải có sẵn và được bộc lộ dần
trong cuộc sống mà là một cấu tạo tâm lý mới được hình thành và phát triển trong
quá trình sống, hoạt động, giao tiếp ... Chính bằng các hoạt động xã hội, con
Cá tính dùng để chỉ cái đơn nhất, có một không hai, không lặp lại trong tâm
lý (hoặc sinh lý) của cá thể động vật hoặc cá thể người
Nghiên cứu về nhân cách đã được nhiều lý thuyết trong tâm lý học đề cập đến,
và các lý thuyết này đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về nhân cách. Hiện
nay có rất nhiều lý thuyết khác nhau về nhân cách trong khoa học tâm lý. Có thể
nêu lên một số thuyết sau: Thuyết phân tâm học của Freud, thuyết siêu đẳng và bù
trừ của A.Adler, thuyết lo lắng của K.Horney, thuyết phát huy bản ngã của
A.Maslow, thuyết đặc trưng của A.Allport ...
3
- Quan điểm sinh vật hóa nhân cách: coi bản chất nhân cách nằm trong các
đặc điểm hình thể (Krestchmev), ở góc mặt (C. Lombrozo), ở bản năng vô thức
(S.Freud) ...
- Quan điểm xã hội hóa nhân cách lấy các quan hệ xã hội (gia đình, họ hàng, làng
xóm ...) để thay thế một cách đơn giản, máy móc các thuộc tính tâm lý của cá nhân.
Từ những cách hiểu trên đây, có thể nêu lên một định nghĩa về nhân cách
như sau: Nhân cách là tổ hợp những thuộc tính tâm lý của một cá nhân biểu
hiện ở bản sắc và giá trị xã hội của người ấy.
Như vậy, nhân cách không phải là tất cả các đặc điểm cá thể của con người mà
chỉ bao hàm những đặc điểm quy định con người là một thành viên của xã hội, nói
lên bộ mặt tâm lý xã hội, giá trị và cốt cách làm người của mỗi cá nhân. Nhân cách
quy định bản sắc riêng, cái riêng của cá nhân trong sự thống nhất trọn vẹn với cái
chung.
III. Vai trò của các yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển
nhân cách.
1. Nhân tố bẩm sinh - di truyền có vai trò tiền đề vật chất.
Ngay từ lúc trẻ em ra đời đều có những đặc điểm hình thái - sinh lý của con
người bao gồm các đặc điểm bẩm sinh và di truyền. Những thuộc tính sinh học
con người trong một số lĩnh vực nhất định.
2. Nhân tố hoàn cảnh sống.
Môi trường là hệ thống các hoàn cảnh bên ngoài, các điều kiện tự nhiên và
xã hội xung quanh cần thiết cho hoạt động sống và phát triển của con người. Có
thể phân thành 2 loại: môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.
a. Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân
cách
Môi trường tự nhiên bao gồm các điều kiện tự nhiên - hệ sinh thái phục vụ
cho các hoạt động sinh sống của con người. Hoàn cảnh địa lý, nước, không khí,
đất đai, động vật, thực vậtt, khí hậu, thời tiết ... đều thuộc môi trường tự nhiên.
Mỗi dân tộc sống trên một lãnh thổ nhất định với những độc đáo riêng về
hoàn cảnh địa lý. Những điều kiện ấy qui định đặc điểm của các dạng, các ngành
sản xuất, đặc tính nghề nghiệp và một số nét riêng trong phạm vi sáng tạo nghệ
thuật. Qua đó, quy định giá trị vật chất và tinh thần ở một mức độ nhất định.
Cho nên có thể nói, tâm lý dân tộc mang dấu ấn của hoàn cảnh tự nhiên thông
qua khâu trung gian là phương thức sống. Ví dụ như những người ở đồng bằng
thì trồng lúa còn người sống ở thành thị thì thường là tiểu thương, buôn bán.
Xét cho cùng, nhiều phong tục tập quán đều có nguồn gốc từ điều kiện và
hoàn cảnh sống tự nhiên. Một số nét tâm lý nào đó của bản địa, của nghề nghiệp
5
cũng có thể được hiểu theo logic ấy. Nhân cách như là một thành viên xã hội,
chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên thông qua những giá trị vật chất và tinh
thần, qua phong tục tập quán của dân tộc, của địa phương, của nghề nghiệp những cái vốn có liên hệ với điều kiện tự nhiên ấy mà qua phương thức sống của
chính bản thân nó. Ví dụ, những người sống ở nơi gần biển thì thường làm nghề
đi biển, dạn dày với nắng gió. Vì vậy họ thường phát triển theo lối sống mạnh
mẽ, từng trải nhưng vô cùng thuần hậu.
b. Môi trường xã hội có vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển
nhân cách
triển qua thi đua.Ví dụ: sự thi đua trong lớp học nhằm đạt kết quả cao trong học
tập sẽ tạo điều kiện thuận lợi để phát triển ở mỗi thành viên sự nỗ lực học tập.
Bắt chước: Thể hiện ra trong mọi lĩnh vực của đời sống. Bắt chước diễn ra
một cách có ý thức hay không có ý thức, bắt chước trong cách giao tiếp, ngôn
ngữ, trong ăn mặc. Đặc biệt trẻ con trong độ tuổi ấu thơ rất hay bắt chước người
lớn. Vì vậy, cách xử sự của người lớn có tác động rất lớn đến sự hình thành và
phát triển nhân cách của trẻ sau này.
3. Nhân tố giáo dục giữ vai trò chủ đạo.
Giáo dục thường được hiểu như là quá trình tác động có ý thức, có mục đích và
có kế hoạch về mặt tư tưởng, đạo đức và hành vi trong tập thể trẻ em và học sinh,
trong gia đình và cơ quan giáo dục ngoài nhà trường. Trong sự hình thành và phát
triển nhân cách thì giáo dục giữ vai trò chủ đạo, điều đó được thể hiện:
- Giáo dục vạch ra phương hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách
và dẫn dắt sự hình thành và phát triển của học sinh theo chiều hướng đó. Quá
trình này được thực hiện bằng các mục tiêu đào tạo của nhà trường các cấp và
các cơ quan giáo dục ngoài nhà trường.
- Giáo dục có thể mang lại những cái mà các yếu tố bẩm sinh di truyền hay
môi trường tự nhiên không thể đem lại được. Ví dụ như đến một độ tuổi nào đó,
đứa trẻ làm được mọi động tác vốn có của con người nhưng muốn có được
những kỹ xảo nghề nghiệp thì dứt khoát phải học nghề.
- Giáo dục có thể phát huy tối đa các mặt mạnh của các yếu tố khác chi phối
sự hình thành nhân cách như các yếu tố thể chất (bẩm sinh di truyền), yếu tố xã
hội. Ví dụ như những trẻ khi sinh ra đã có khả năng về âm nhạc sẽ được giáo
dục một cách bài bản để có nhận thức đầy đủ nhất về âm nhạc. Đồng thời giáo
dục bù đắp cho những thiếu hụt, hạn chế do bệnh tật đem lại cho con người. Ví
dụ là nhạc sĩ chơi ghita nổi tiếng Văn Vượng của nước ta bị mù từ bé, nhờ giáo
dục mà thành tài năng âm nhạc.
7
bằng những thao tác nhất định với những công cụ nhất định. Do đó mỗi hoạt động
bao giờ cũng đặt ra trước con người những phẩm chất và năng lực nhất định thì
8
mới thực hiện được. Chính trong quá trình tham gia trực tiếp hoạt động đó mà con
người hình thành và phát triển được những phẩm chất năng lực này.
5. Nhân tố giao tiếp giữ vai trò cơ bản.
Nhân cách không phải là một nét, một phẩm chất tâm lý riêng lẻ mà là một
cấu tạo tâm lý mới, là tổng hợp các đặc điểm tâm lý đặc trưng với một cơ cấu
xác định. Do đó, nhân cách của con người chỉ được hình thành trong quá trình
tham gia vào các mối quan hệ xã hội.
Giao tiếp là điều kiện tồn tại của cá nhân và xã hội loài người. Giao lưu là sự
tiếp xúc giữa hai hay nhiều người để trao đổi với nhau những thông tin cần thiết.
Giao lưu tạo ra các quan hệ người - người, các quan hệ xã hội. Nếu với xã hội,
giao lưu là một điều kiện tồn tại và phát triển của nó, thì đối với cá nhân, giao lữu
cũng có vai trò như thế. Không có sự giao lưu với người khác, cá nhân không
phát triển được tâm lý, ý thức của mình, không thể trở thành một nhân cách.
C.Mác đã chỉ ra rằng: “Sự phát triển của một cá nhân được quy định bởi sự phát
triển của tất cả các cá nhân khác và nó giao lưu một cách trực tiếp và gián tiếp
với họ”.
Thực tế chứng minh những trường hợp trẻ con do động vật nuôi đã mất bản
tính người, mất nhân cách và chỉ còn lại đặc điểm tâm lý, hành vi của con vật.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng sự giao tiếp quá hạn chế, nghèo
nàn đã dẫn đến những hậu quả nặng nề là dễ mắc bệnh “đói giao lưu do nằm
viện lâu ngày” (hospitalism).
Nhờ giao tiếp, con người tham gia vào các mối quan hệ xã hội, lĩnh hội nền
văn hoá xã hội, chuẩn mực xã hội và “tổng hoà các quan hệ xã hội” thành bản
chất con người. Cụ thể hơn, con người học được cách đánh giá hành vi, thái độ,
thức về xã hội để xác định được những yêu cầu chuẩn mực của thời đại mới, từ đó
có sự rèn luyện bản thân theo hướng đáp ứng một cách tốt nhất những yêu cầu đó.
Tích cực giao tiếp với bạn bè, thầy cô và mọi người tạo mối quan hệ rộng
lớn, thu thập nhiều kiến thức lịch sử - xã hội giúp nhân cách được phát triển toàn
diện. Cần có sự năng động, hoạt động trên nhiều lĩnh vực. Là một sinh viên,
kiến thức về chuyên môn là cần thiết nhưng kiến thức, kinh nghiệm đời sống
cũng quan trọng không kém.
Phải luôn luôn tự nhìn nhận lại bản thân đánh giá đúng sai những việc đã làm,
vạch ra mục đích cần vươn tới, luôn luôn phải nghiêm khắc với chính mình, nhìn
nhận, đánh giá cuộc sống để giảm bớt những hành vi sai lệch. Quá trình tự giáo
dục phải được xác định là thường xuyên liên tục thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi.
Cuối cùng, bởi yếu tố môi trường xã hội ảnh hưởng rất lớn tới sự hình thành
và phát triển nhân cách, cho nên bản thân ta phải là một tấm gương về nhân cách
tốt để có thể tác động một cách tích cực tới những nhân cách mới hình thành
như: những đứa em, đứa cháu nhỏ của mình.
10
KẾT LUẬN
Năm yếu tố: bẩm sinh di truyền, hoàn cảnh sống, giáo dục, hoạt động và giao
tiếp đều có tác động đến sự hình thành và phát triển nhân cách, nhưng có vai trò
không giống nhau. Theo quan điểm của tâm lý học macxit thì yếu tố bẩm sinh di
truyền giữ vai trò làm tiền đề; yếu tố môi trường, đặc biệt là môi trường xã hội
có vai trò quyết định; yếu tố hoạt động và giao tiếp của cá nhân có vai trò quyết
định trực tiếp; yếu tố giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với sự hình thành và phát
triển nhân cách.
Có thể nói, sự hình thành và phát triển nhân cách là một quá trình lâu dài và
phức tạp. Trong quá trình đó, giữa các yếu tố đã nêu thường xuyên tác động lẫn
nhau và có sự thay đổi trong từng giai đoạn phát triển của mỗi người. Nhân cách
không phải là một cái gì đó đã hoàn tất mà là quá trình luôn đòi hỏi sự trau dồi