MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của xã hội, con người cũng đang tự mình
hướng tới sự hoàn thiện nhân cách của mình. Mục tiêu đào tạo của nhà trường
là hình thành nhân cách phát triển toàn diện và trưởng thành về mặt xã hội
của mỗi học sinh, sinh viên. Muốn vạch ra được những định hướng và
phương pháp thực hiện mục tiêu đó, trước hết chúng ta cần tìm hiểu vầ nhân
cách cũng như nhân cách phát triển và trưởng thành về mọi mặt như thế nào.
Đó là lí bài tập lớn học kì, em chọn trình bày vấn đề “phân tích vai trò các yếu
tố đối với sự hình thành, phát triển nhân cách. Liên hệ thực tiễn”.
NỘI DUNG
II. NHÂN CÁCH VÀ SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH.
1. Khái niệm nhân cách.
Triết học Mac-Lê nin quan niệm: “ nhân cách là khái niệm chỉ bản sắc
độc đáo, riêng biệt của mỗi cá nhân, là nội dung và tính chất bên trong của
mỗi cá nhân”
Nhân cách thường được xác định như một hệ thống các quan hệ của
con người với thế giới xung quanh và với bản thân mình. Nó là hiện tượng
tâm lí có tình quy luật chứ không phải xuất hiện một cách ngẫu nhiên, bao
gồm những thuộc tính tâm lý có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau
làm thành một hệ thống thể hiện ở bản sắc và giá trị xã hội của con người ấy.
2. Sự phát triển nhân cách.
Sự phát triển của con người là sự trưởng thành cả về thể chất và tinh
thần. Sự phát triển về chất là sự phát triển sinh học… . Sự phát triển về tinh
thần là sự trưởng thành về tâm lý, ý thức theo quy luật tâm lý và quy luật xã
hội trên cơ sở lĩnh hội nền văn minh nhân loại. sự phát triển thể chất luôn luôn
đi kèm với sự phát triển tinh thần, điều này tạo nên nhân cách con người
Nói cách khác sự phát triển nhân cách là quá trình cải biến một cách sâu
mang bản chất xã hội lich sử sâu sắc, và nhân cách con người cũng chỉ có thể
được phát triển trong hoạt động của bản thân cá nhân đó với các mối quan hệ
xã hội. Bất cứ một tài năng bẩm sinh nào cũng sẽ không được bộc lộ nếu
không có điều kiên xã hội cho nó rèn luyện và phát triển. Bên cạnh đó, những
cá thể có giải phẫu sinh lí giống nhau khi mới sinh ra như những cặp song
sinh cùng trứng cũng sẽ dần dần biểu hiện những đặc điểm khác biệt ở nhân
cách trong quá trình trưởng thành do mỗi cá thể đã dần dần được tiếp xúc và
tác động với những điều kiện xã hội khác nhau.
Nhận thức rõ điều đó để không nên tuyệt đối hóa hoặc đánh giá quá cao
nhân tố sinh học trong sự phát triển nhân cách để có thái độ đúng đắn trước
những thuyết định mệnh do di truyền, thuyết sinh học hóa giáo dục hoặc
những chính sách giáo dục không đúng bắt nguồn từ thuyết chủng tộc trong
giáo dục, thuyết hai hệ thống giáo dục cho trẻ bình dân và trẻ ưu tú…, đồng
thời cũng tránh việc quá xem nhẹ ảnh hưởng của nhân tố sinh học trong công
tác giáo dục nhằm phát triển toàn diện nhân cách.
2. Hoàn cảnh sống.
Hoàn cảnh sống ở đây được hiểu là hệ thống phức tạp, đa dạng các hoàn
cảnh bên ngoài, các điều kiện tự nhiên và xã hội xung quoanh cần thiết cho
sinh hoạt và phát triển của con người. Từ định nghĩa trên ta có thể nhân thấy
có hai loại hoàn cảnh đó là hoàn cảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã hội.
a. Hoàn cảnh tự nhiên.
Mỗi cá nhân trong xã hội lại sinh sống, an cư trên một lãnh thổ nhất
định, mỗi vùng miền với khí hậu, địa hình khác nhau như nắng, gió, núi
sông, trời biển… chính những đặc điểm địa lí đó đã quy định những phương
thức sản xuất nhất định của con người phải phù hợp với nó. Qua đó, các giá
trị vật chất và tinh thần dần dần được xây dựng tạo thành các phong tục
khác nhau lại có những kiểu loại nhân cách khác nhau. Thời cổ đại, khi nền
kinh tế chưa phát triển, nhân cách mỗi người hòa vào nhân cách tập thể.
Thời Trung cổ với sự ra đời của Kito giáo, nhân cách chủ yếu hướng về đời
sống tinh thần, về những giá trị đạo đức thuần túy. Thời cận đại, với sự
khẳng định của giá trị con người, nhân cách mang tính độc lập sáng tạo…
C.Mác đã nói: “nếu con người bẩm sinh là sinh vật có tính xã hội thì
do đó con người chỉ có thể phát triển bản tính của mình của mình trong xã
hội và cần phải phán đoán lực lượng bản tính của anh ta, không phải căn
cứ vài lực lượng cá nhân riêng lẻ mà là căn cứ vào lực lượng của toàn xã
hội”. Thực tế không ai có thể phủ nhận vai trò của xã hội đối với sự hình
thành và phát triển nhân cách. Ví như sự những cô bé lớn lên trong nền văn
hóa đàn ông chi phối sẽ lép vế hơn so với các cô bé được nuôi dưỡng trong
nền văn hóa mẫu hệ về lòng tự trọng và các đặc điểm nhân cách
khác(nghiên cứu của nhà tâm lí học người Mĩ K.Horney). Thống kê Tội
phạm học cũng cho thấy điều đó: Trẻ em phạm pháp có nguồn gốc gia đình
làm nghề buôn bán bất hợp pháp chiếm 51,94%; gia đình có người phạm
tội chiếm 40%; trẻ em chưa ngoan do nguồn gốc gia đình sống không trong
sạch, lành mạnh chiếm gần 83%,…
Bên cạnh đó, ta còn thấy có
nhiều tâm lí xã hội quần chúng khác ảnh hưởng tới sự phát triển nhân cách
như môi dư luận xã hội hay “tâm trạng chung”. Có thể nhận thấy sự ảnh
hưởng rõ nhất của bầu tâm trạng chung này ở thế hệ thanh niên Việt Nam
một thời trong kháng chiến hay thế hệ thanh niên Nhật Bản những năm
của thập kỉ 60 thế kỉ trước. Cùng những năm tháng đó, nếu như bao trùm
xã hội Việt Nam là một tinh thần thép, tràn đầy lạc quan về cuộc chiến đấu
thần kì để từ đó hun đúc lên những người anh hùng dũng cảm thì ngược
cách theo chiều hướng đó.
Giáo dục có thể mang lại những thứ mà yếu tố bẩm sinh-di truyền
hay môi trường không thể đem lại được. Chẳng hạn theo sự phát triển
của cơ thể thì đến một giai đoạn nào đó thì trểm sẽ biết nói, biết đi
nhưng nếu không có hoạt động học tập thì trẻ sẽ không thể biết đọc
-
biết viết.
Giáo dục có thể bù đắp những thiếu hụt do bệnh tật mang lại cho con
người. Ví dụ: những trẻ em khuyết tật vẫn hoàn toàn có thể phát triển
trí tuệ một cách bình thường nếu nhận được sự giáo dục kịp thời,
-
đúng đắn.
Giáo dục có thể uốn nắn những phẩm chất tâm lí xấu. Đây là cơ sở lí
luận cho công tác giáo dục, cải tạo trẻ em và những người phạm tội
-
khi học phạm pháp.
Giáo dục có thể đi trước hiện thực, trong khi tác động tự phát của xã
hội chỉ ảnh hưởng đến cá nhân ở mức độ hiện có. Chẳng hạn hiện nay
mặc dù đất nước ta đang chỉ mới ở những bước đi ban đầu trong công
cuộc xây dựng XHCN, thế nhưng mục tiêu mà nhà trường chúng ta
đề ra là phấn dấu xây dựng, giáo dục học sinh thành những con người
cầu xã hội, vật chất hay tinh thần của đời sống riêng hay đời sống xã hội.
Con đường tác động có mục đích, tự giác của xã hội bằng giáo dục đến
thế hệ trẻ sẽ không có hiệu quả nếu như bản than học sinh, sinh viên không
tiếp nhận, hưởng ứng những tác động đó, không tham gia vào các hoạt động
phát triển tâm lí, hình thành nhân cách. Bởi vậy hoạt động mới là nhân tố tác
động trực tiếp, đối với sự hình thành và phát triển của nhân cách cá nhân.
Tính cách của con người cũng có thể được hình thành trong hoạt động. Thử
quan sát những người sống quoanh ta, ta sẽ thấy rằng hoạt động nghề nghiệp
đã làm thay đổi bề ngoài và thế giới tinh thần của họ như thế nào. Đồng thời
qua cách ứng xử, lời ăn tiếng nói… của họ ta cũng có thể đoán biết họ làm
nghề gì.
Chúng ta hiểu hoạt động của con người là hoạt động có mục đích tính
chất xã hội, tập thể được thực hiện bởi những thao tác nhất định. Với mỗi họat
động lại đòi hỏi con người với những phẩm chất tâm lý nhất định. Qúa trình
tham gia hoạt động làm cho con người hình thành và phát triển những phẩm
chất và năng lực. Nhân cách của của họ, do đó, được hình thành và phát triển.
Từ mối quan hệ giữa hoạt động và nhân cách như vậy,chúng ta cần thấy
rằng hình thành nhân cách học sinh, phải đưa các em vào những hoạt động
nhất định. Hoạt động (với các dạng khác nhau) phải là một phương tiện giáo
dục cơ bản. Nói cách khác, giáo dục trước hết phải là quá trình tổ chức các
hoạt động tích cực sang tạo của học sinh, qua đó để học sinh tiếp thu, “chiếm
linh” những tinh hoa văn hóa của nhân loại, hình thành những phẩm chất mà
xã hội đòi hỏi.
5. Yếu tố giao tiếp.
Giao tiếp có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của xã hội
cũng như cá nhân. Không thể có xã hội nếu không có giao lưu, vì xã hội là
cộng đồng người chứ không phải là một dấu cộng đơn giản của nhiều người.
Tóm lại, sự phát triển của con người là toàn bộ sự phát triển về thể chất
và tinh thần, nó bị chi phối bởi hang loạt những yêu tố chủ quan và khách
quan. Nhân cách con người là tổ hợp những phầm chất xã hội. Sự phát triển
nhân cách ngoài sự ảnh hưởng của các yếu tố bẩm sinh-di truyền còn được
thưc hiện dưới ảnh hưởng của hệ thống các quan hệ xã hội mà con người,
sống hoạt động và giao lưu.