HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
LỚP BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN VIÊN CHÍNH
TỔ CHỨC CHO CB-CC CỦA BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
(Từ 06/5/2008 đến 15/10/2008)
TIỂU LUẬN
PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT 1 VỤ TRANH CHẤP
VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Họ và tên: TẠ VĂN ĐẠI
Chức vụ : THANH TRA VIÊN
Đơn vị
: BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
Hà Nội, tháng 9 năm 2008
MỞ ĐẦU
Nói đến vai trò to lớn của đất đai đối với kinh tế Mác đã khái quát:
“Đất là mẹ, sức lao động là cha sản sinh ra mọi của cải vật chất”. Đúng
như vậy đất đai là một tài sản đặc biệt và cực kỳ quan trọng của mỗi quốc
gia. Nó không phải là sản phẩm từ lao động của con người mà là tặng
phẩm vô giá của thiên nhiên trao cho loài người. Đất đai là yếu tố cần
thiết và không thể thiếu được của mọi quá trình sản xuất và tái sản xuất
xã hội “Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng
hàng đầu của môi trường sống”. Lịch sử phát triển nông, lâm nghiệp của
nhất là đối với nông dân mà còn là một khâu then chốt trong điều hành vĩ
mô của Nhà nước với mục tiêu ổn định và phát triển.
Thấy rõ tầm quan trọng của đất đai cho nên ngay sau khi giành
được chính quyền năm 1945 Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm đến
vấn đề liên quan đến đất đai. Luật pháp của Việt Nam đã quy định “Đất
đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý”. Nhà nước
chỉ giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trên cơ sở các quy định
của Luật đất đai ban hành ngày 14 tháng 7 năm 1993 và Luật sửa đổi bổ
sung một số điều của Luật Đất đai ngày 2 tháng 12 năm 1998.
Ngày nay chúng ta càng phải trân trọng sự quý giá của đất, cần
phải có kế hoạch khai thác tiềm năng của đất. Chúng ta cần sử dụng đất
không những hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả mà phải sử dụng đất theo mô
hình bền vững đáp ứng được nhu cầu hiện tại song không làm ảnh hưởng
đến việc khai thác sử dụng đất của các thế hệ mai sau.
Trong giai đoạn hiện nay, đất đai đang là những vấn đề hết sức
nhạy cảm của xã hội. Để quản lý đất đai được tốt, sử dụng đất đúng mục
đích, đạt hiệu quả cao đòi hỏi mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi địa phương, mỗi
tổ chức, mỗi đơn vị và từng cá nhân phải thực hiện nghiêm chỉnh Luật
Đất đai, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và các văn bản
dưới luật khác trong việc quản lý và sử dụng đất đai.
Thực tế thời gian qua cho thấy những cố gắng của Đảng và Nhà
nước, việc quản lý và sử dụng đất đai đã và đang đi vào nền nếp. Tuy
nhiên ở một số địa phương việc quản lý đất đai có những biểu hiện buông
lỏng, giao đất trái thẩm quyền, vượt thẩm quyền, nghiêm trọng hơn là
một số cán bộ lợi dụng chức vụ quyền hạn, thiếu tinh thần trách nhiệm
trong việc giải quyết tranh chấp đất đai hoặc cấp đất gây những hậu quả
-3-
nghiêm trọng làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước
-4-
Tháng 1 năm 2002 do tuổi cao, sức yếu ông P lâm bệnh nặng và
qua đời, trong di chúc để lại ông P ghi rõ: “Nay để lại cho anh Hà Văn
Thao 1.200 m2 đất trồng lúa và 6000 m2 đất lâm nghiệp” trong tổng số
đất mà UBND xã T giao cho ông P khi bà còn sống theo Nghị định
64/CP và Nghị định 02/CP ngày 15/1/19994 của Chính phủ.
Được biết anh Hà Văn Thao là con trai của người bạn thân với ông
P sống cùng thôn K, xã T và theo Nghị dịnh 64/CP và Nghị định 02/CP
thì anh Thao cũng được UBND xã T cấp đủ diện tích trồng lúa và đất lâm
nghiệp theo tiêu chuẩn đã quy định. Ngoài ra trong di chúc để lại ông P
không đề cập gì đến việc phân chia tài sản thừa kế cho các con của ông.
Tháng 5 năm 2002, sau khi ông P mất được 4 tháng thì anh Trần
Quang Hà là con trai trưởng của ông P tự ý đứng ra phân chia tài sản, đất
đai không theo di chúc của ông P để lại, cụ thể là:
- Phân chia đều 2.700 m2 đất trồng lúa và 45.000 m2 đất cho 2 anh
em là Trần Quang Hà và Trần Minh Hồng. Trường hợp anh Trần Quốc
Hải không được chia đất với lý do là đi nước ngoài, không có hộ khẩu ở
nhà.
- Riêng đối với diện tích đất vườn 480 m2, vì đây là diện tích đất có
cả đất thổ cư, do đó anh Hà đã phân chia đều cho cả 3 anh em (Trần
Quang Hà, Trần Quốc Hải và Trần Minh Hồng) mỗi người 160 m2.
Đối với anh Hà Văn Thao thì anh Trần Quang Hà không chia đất
cho anh này (theo di chúc của ông P để lại thì anh Thao được chia) với lý
do: Anh Thao không phải là con trong gia đình ông P.
Tháng 10 năm 2002, anh Trần Quốc Hải từ nước ngoài trở về thăm
quê hương (anh Hải không có ý định ở lại quê hương sinh sống), sau khi
nghe người anh cả là Trần Quang Hà trình bày lại việc phân chia tài sản,
đất đai trong gia đình, anh Hải đã không đồng tình với cách phân chia của
đình anh Hà và anh Thao ngày càng trở lên căng thẳng, tình cảm hàng
xóm thấy khó có thể hàn gắn như trước được.
Với sự việc này phần lớn nhân dân ở thôn K xã T đã có quan điểm
đồng tình ủng hộ đối với những quyết định của UBND xã T, tuy nhiên
cũng có một số ít không đồng tình với quyết định của UBND xã với các
lý do: UBND xã T đã giải quyết vụ việc chưa thấu tình, đạt lý và chưa
đúng thẩm quyền... để vụ việc giải quyết vừa đúng pháp luật, ổn thoả,
vừa giữ được tình cảm anh em trong gia đình và mối quan hệ hàng xóm,
-6-
láng giềng, thì từ những vấn đề đặt ra, chúng ta nên xử lý như thế nào cho
phù hợp và đúng pháp luật hiện tại.
II- PHÂN TÍCH, XỬ LÝ TÌNH HUỐNG:
1. Mục tiêu đề ra khi giải quyết câu chuyện tình huống:
Như vậy, để giải quyết vụ tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất
ở xã T được đúng theo các trình tự mà pháp luật quy định, đảm bảo đúng
đắn, nhanh chóng, kịp thời chúng ta cần chú ý một số vấn đề sau:
1.1- Việc ông P lập bản di chúc trao quyền sử dụng 1.200 m2 đất
trồng lúa và 6000 m2 đất lâm nghiệp cho anh Hà văn Thao có đúng với
quy định của pháp luật không?
1.2 - UBND xã T đứng ra giải quyết đơn khiếu nại của công dân
Trần Quốc Hải và Hà Văn Thao có đúng thẩm quyền được pháp luật quy
định không ?
1.3 - Những quyết định của UBND xã T đưa ra để giải quyết khiếu
nại 2 trường hợp trên có vấn đề nào đúng hoặc vấn đề nào sai so với quy
định của pháp luật không?
cao) chính vì lẽ đó đất đai trở thành tài sản quý giá của con người có thể
chuyển đổi, chuyển nhượng, thế chấp, thừa kế, cho thuê... Trong khuôn
khổ bài viết này khi ông P lập di chúc trao quyền thừa kế quyền sử dụng
đất sao cho đúng các quy định của pháp luật. Tuy nhiên mỗi loại đất thì
có vai trò và giá trị khác nhau. Luật đất đai quy định: Quyền sử dụng đất
đai khi trao quyền thừa kế được chia làm 2 loại như sau:
+ Đất nhóm 1: Bao gồm đất sản xuất nông nghiệp hàng năm và đất
nuôi trồng thuỷ sản.
+ Đất nhóm 2: Là đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm
nghiệp và đất thổ cư.
Về vấn đề thừa kế có 2 loại:
- Thừa kế theo pháp luật: Là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện
và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.
- Thừa kế theo di chúc: Có nghĩa là người chết viết lại bản di chúc
giao lại toàn bộ hoặc một phần tài sản của mình cho người còn sống,
người còn sống được toàn quyền sở hữu tài sản đó.
-8-
1. Theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật đất đai thì
những người được hưởng thừa kế đối với đất đai thuộc nhóm 1 được quy
định như sau:
Điều 679 và 680 của Bộ luật Dân sự quy định tại khoản 1 những
người được hưởng thừa kế bao gồm:
- Hàng thừa kế thứ nhất: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ
nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
- Hàng thừa kế thứ 2 gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại,
anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết;
- Hàng thừa kế thứ 3 gồm: Cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác
ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của
kế quyền sử dụng đất do Toà án nhân dân giải quyết”. UBND xã T chỉ
có chức năng phối hợp với các tổ chức, đoàn thể tổ chức hoà giải giúp
cho những cá nhân khiếu kiện hiểu rõ được những quy định của pháp luật
(cụ thể trong vụ việc này là anh Hải và anh Thao) đồng thời tạo sự thông
cảm, đoàn kết giữa các anh em trong gia đình, giữ mối quan hệ tốt giữa
gia đình anh Hà và anh Hải để từ đó anh Hà và anh Hải tự mình rút đơn
khiếu nại.
Trong trường hợp hoà giải không thành thì UBND xã hướng dẫn
anh Trần Quốc Hải và anh Hà Văn Thao gửi đơn khiếu kiện lên Toà nhân
dân để yêu cầu giải quyết.
Như vậy, việc UBND xã T đứng ra giải quyết đơn khiếu kiện của
anh Hải và anh Thao là không đúng thẩm quyền, trái với các quy định
của pháp luật hiện hành.
d) Đối với trường hợp UBND xã T giải quyết cho anh Hà Văn
Thao được quyền thừa kế sử dụng 1.200 m2 đất trồng lúa và 6000 m2 đất
lâm nghiệp theo di chúc của ông P có thể giải đáp như sau:
- Đối với diện tích 1.200 m2 đất trồng lúa (đất nhóm 1) tại điều 740
Bộ luật Dân sự quy định: Người được quyền thừa kế phải có đủ 2 điều
kiện:
+ Có nhu cầu sử dụng đất, trực tiếp sử dụng đất đúng mục đích.
+ Chưa có đất hoặc đang sử dụng đất dưới hạn mức quy định của
Luật Đất đai.
- 10 -
Từ các căn cứ trên đây ta thấy rằng UBND xã T giải quyết cho anh
Hà Văn Thao được thừa kế sử dụng 1.200 m 2 đất trồng lúa theo di chúc
của ông P là trái với quy định của pháp luật (vì anh Thao đã được giao đủ
diện tích đất trồng lúa theo quy định).
- Đối với diện tích 6000 m 2 đất lâm nghiệp (đất nhóm 2) như trên
kế chúng ta cần phân loại di sản, đối tượng để áp dụng theo đúng quy
định của pháp luật.
Tại khoản 3 điều 76 Luật Đất đai và điều 743 Bộ luật Dân Sự quy
định, đối với diện tích đất trồng cây lâu năm và đất ở 480 m2, cần phải
được phân chia đều cho các người con kể cả người ở trong nước và người
ở nước ngoài. Nếu trong trường hợp anh Hải từ chối không nhận di sản ở
Việt nam thì mới đem chia cho 2 người ở trong nước như vậy mới đảm
bảo đúng các quy định của pháp luật.
Đối với diện tích 45. 000 m2 đất lâm nghiệp theo di chúc của ông P
thì chia 6000 m2 đất cho anh Hà Văn Thao, số còn lại là 39.000 m 2 thì
chia đều cho 3 anh em (Hà, Hải, Hồng) trong gia đình.
- Đối với đất nông nghiệp (trồng lúa) tại khoản 1 điều 679, 680 Bộ
luật Dân sự (Như đã nêu ở trên) và điều 470 Bộ luật Dân sự quy định
người thừa kế phải có 2 điều kiện:
+ Có nhu cầu sử dụng đất, có điều kiện trực tiếp sử dụng đất đúng
mục đích.
+ Chưa có đất hoặc đang sử dụng đất dưới hạn mức theo quy định
của pháp luật về đất đai.
Như vậy việc anh Hà Văn Thao đòi quyền thừa kế 1.200 m 2 đất
nông nghiệp theo di chúc của ông P là không đúng vì anh Thao đã được
UBND xã T cấp đủ diện tích đất đai theo quy định của pháp luật.
Đối với việc đòi chia đất của anh Trần Quốc Hải do anh Hải đang
đi lao động và học tập ở nước ngoài và không có nhu cầu sử dụng đất do
vậy anh Hải không đủ điều kiện để hưởng thừa kế loại đất này. Chính vì
thế cách giải quyết đúng pháp luật là chia 2700 m 2 đất trồng lúa này cho
2 người con đang sinh sống ở trong nước là Trần Quang Hà và Trần
Minh Hồng (mỗi người 1300 m2).
- 12 -
III- KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN
1- Kiến nghị:
Các vấn đề liên quan đến đất đai đã, đang và sẽ luôn là một trong
những vần đề nhạy cảm và phức tạp của đời sống xã hội nói chung. Khi
phát sinh các tranh chấp về đất đai các cơ quan quản lý Nhà nước ở địa
phương phải có trách nhiệm, nghĩa vụ giải quyết 1 cách dứt điểm trên cơ
sở các quy định của pháp luật sao cho mọi quyền lợi chính đáng, hợp
pơháp của mọi công dân về đất đai được tôn trọng, đảm bảo, tránh phát
sinh những “điểm nóng” như đã từng xảy ra ở 1 số địa phương gây ảnh
hưởng đến trật tự xã hội, an ninh Quốc gia và sự phát triển của đất nước.
Khi giải quyết các vấn đề về đất đaiđòi hỏi những cơ quan Nhà nước và
người có trách nhiệm phải thực sự công tâm, phải nắm vững và áp dụng 1
cách chính xác, khoa học các quy định của pháp luật về đất đai; quá trình
điều tra, xác minh, thu thập tài liệu, tìm hiểu vụ việc phải đầy đủ, toàn
diện.
Xuất phát từ những tồn tại trong quá trình xử lý một vụ tranh chấp
về thừa kế quyền sử dụng đất ở xã T năm 2002, tôi xin có một số kiến
nghị sau:
- Trước hết phải khẩn trương xây dựng 1 nền hành chính thực sự
dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá , hoạt động
có hiệu lực, hiệu quả tuân theo nguyên tắc Nhà nước pháp quyền XHCN
dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm
chất đạo đức,, có trình độ, năng lực, đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây
dựng, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Kiện toàn bộ máy và đẩy
nhanh cải cách hành chính trong quản lý đất đai, nâng cao năng lực công
tác và trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai, thường
xuyên tham mưu đề xuất kịp thời các giải pháp với các cấp chính quyền
để từng bước giải quyết dứt điểm những tồn tại, vướng mắc trong quản lý
- Trong cơ chế thị trường cần chú ý đến vấn đề quy hoạch và kế
hoạch sử dụng đất; đó là thể hiện sự tính toán khoa học, hợp lý phù hợp
với quy luật vận động và phát triển kinh tế xã hội vừa mang tính chất
chiến lược vừa có tính khả thi và thực sự là công cụ pháp lý để Nhà nước
quản lý đất đai có hiệu quả...
Mặt khác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải tạo điều kiện cho
người sử dụng đất chủ động trong việc lựa chọn phương án khai thác, sử
dụng đất sao cho đem lại lợi ích kinh tế cao nhất.
- 15 -
- Đối với những quyết định liên quan đến quyền lợi và lợi ích của
nhân dân phải được nhân dân thảo luận cụ thể với phương châm: “Dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Phát huy triệt để quyền làm chủ
của nhân dân lao động trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
- Cần tiến hành đồng bộ việc cải cách bộ máy hành chính nhà nước từ
trung ương đến địa phương, đặc biệt là bộ máy chính quyền cơ sở, xây
dựng bộ máy nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh, đoàn kết, tránh quan
liêu, hách dịch, cửa quyền, buông lỏng quản lý và gây phiền hà cho nhân
dân, gây ách tắc trong khâu quản lý và thực hiện các chủ trương chính sách
của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
- Phải tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật bằng
nhiều hình thức như bằng các phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức
các cuộc thi... cần xác định đây là công tác thường xuyên liên tục, không
ngừng nâng cao sự hiểu biết và chấp hành luật pháp cho mọi cán bộ,
đảng viên và nhân dân.
- Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra đảm bảo vừa phát huy
quyền làm chủ của nhân dân vừa tăng cường thiết lập kỷ cương của pháp
luật. Xây dựng bộ máy chính quyền vững mạnh. Tiến hành thanh tra,
kiểm tra kịp thời không để vụ việc (Đặc biệt là những vụ việc tranh chấp
Chú trọng công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý nhà nước cấp
cơ sở đây là việc làm thường xuyên và lâu dài, chọn lọc ra đội ngũ cán bộ
đủ đức, đủ tài, có chuyên môn nghiệp vụ giỏi đủ sức hoàn thành tốt
nhiệm vụ được giao góp phần bình ổn trật tự xã hội ở địa phương, phát
triển kinh tế địa phương nói riêng và đất nước ta nói chung theo hướng
công nghiệp hoá và hiện đại hoá; thực hiện được mục tiêu “Dân giàu,
Nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” .
2- Kết luận:
Qua việc giải quyết vụ tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất
trên đây tại xã T chúng tôi thấy:
- Thực tế hiện nay về cơ chế quản lý đất đai còn buông lỏng, những
quy định của pháp luật chưa đồng bộ. Sự hiểu biết pháp luật, đặc biệt là
pháp luật về đất đai của người dân còn hạn chế, 1 số người dân có ý thức
pháp luật chưa cao, chưa tuân thủ nghiêm túc các quy định của pháp luật,
có lúc còn coi nhẹ đạo đức xã hội, mới chỉ xem trọng lợi ích cá nhân nên
đã xâm phạm lợi ích hợp pháp của người khác; công tác thanh tra, kiểm
tra chưa được tiến hành thường xuyên, liên tục. Đội ngũ cán bộ quản lý
- 17 -
làm công tác quản lý, giải quyết tranh chấp đất đai nhìn chung còn yếu
về chuyên môn nghiệp vụ.
- Về công tác quản lý, sử dụng đất còn tuỳ tiện, thiếu cơ sở pháp lý,
không đảm bảo cho trước mắt và lâu dài.
- Có một thực tế đáng lo ngại là hiện nay một số cán bộ trong bộ
máy quản lý của chính quyền địa phương còn thiếu tinh thần trách nhiệm
trong quản lý đất đai gây hậu quả nghiêm trọng, làm mất lòng tin của
nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
- Mặt khác việc giải quyết các vụ khiếu kiện liên quan đến đất
điều của Luật đất đai năm 1998; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của
Luật đất đai năm 2001.
5. Luật đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003.
6 Các văn bản khác có liên quan.
- 19 -
MỤC LỤC
MỞĐẦU................................................................................................................2
I- CÂU CHUYỆN TÌNH HUỐNG........................................................................4
1. Hoàn cảnh ra đời của câu chuyện của tình huống:...................................4
2. Diễn biễn câu chuyện tình huống..............................................................6
II- PHÂN TÍCH, XỬLÝ TÌNH HUỐNG:..............................................................7
1. Mục tiêu đề ra khi giải quyết câu chuyện tình huống:............................7
2. Cơ sở lý luận để xử lý:................................................................................7
3. Phân tích tình huống:.................................................................................9
4. Các phương án, biện pháp giải quyết tình huống:..................................11
III- KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN.........................................................................14
1- Kiến nghị:..................................................................................................14
2- Kết luận:....................................................................................................17
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................19
- 20 -