Thương mại điện tử và khai phá dự liệu trong thương mại điện tử - Pdf 33


1
Lời giới thiệu

Hiện nay, Thương mại điện tử phát triển nhanh theo xu thế toàn cầu
hoá. Việc giao dịch thông qua các Website Thương mại điện tử tạo ra lượng
dữ liệu vô cùng lớn. Dữ liệu này chính là thông tin về khách hàng cũng như
các sản phẩm giao dịch. Nếu có thể khai thác được nguồn dữ liệu này thì
chúng ta sẽ có một hệ thống thông tin rất giá trị phục vụ cho phát triển
Thương mại đi
ện tử. Tuy nhiên công việc này vẫn còn là một thách thức.
Trong nỗ lực thúc đẩy giao dịch thông qua mạng máy tính, xây dựng hệ
thống khuyến cáo sản phẩm cho khách hàng là công việc không thể thiếu
được. Hệ thống khuyến cáo sản phẩm ứng dụng trong các Website Thương
mại điện tử nhằm mục đích tư vấn cho khách hàng những mặt hàng thích hợp
nhất. Hệ thống khuyến cáo sản phẩm là một ứ
ng dụng của khai phá dữ liệu
trong Thương mại điện tử.
Ý thức được lợi ích của hệ thống khuyến cáo sản phẩm cho khách hàng
trong Thương mại điện tử, tôi đã chọn hướng nghiên cứu cho khoá luận là xây
dựng hệ thống khuyến cáo sản phẩm.

Mục tiêu của khoá luận
Trong khoá luận này, mục tiêu chính là đưa ra được một hệ thống khuyến
cáo các sản phẩm phù hợp nhất với nhu cầu của khách hàng. Hệ thống có thể
đưa vào ứng dụng được, nhằm mục tiêu gia tăng xác suất giao dịch.
Để làm được điều đó, trước hết chúng ta cần xây dựng được một hệ thống
mô hình phục vụ cho việc dự đoán xu thế mua hàng của khách hàng, các sản
phẩ
m được khách hàng ưa chuộng nhất, các sản phẩm có thể tiêu thụ nhiều
nhất trong thời gian tới, … Các mô hình này có thể xây dựng được từ dữ liệu
3
Mục lục
Chương 1. Thương mại điện tử và Khai phá dữ liệu trong Thương mại điện tử
........................................................................................................................... 5

1.1 Thương mại điện tử ................................................................................. 5

1.1.1 Khái niệm .......................................................................................... 5

1.1.2 Các nội dung cơ bản .......................................................................... 5

1.1.3 Tình hình Thương mại điện tử ở Việt Nam ...................................... 8

1.2 Khai phá dữ liệu trong Thương mại điện tử .......................................... 14

1.2.1 Khai phá dữ liệu trong Thương mại điện tử ................................... 14

1.2.2 Cơ sở dữ liệu giao dịch ................................................................... 15

Chương 2. Một số mô hình Khai phá dữ liệu trong Thương mại điện tử ....... 21

2.1 Hệ thống khuyến cáo sản phẩm ............................................................. 21

Mô hình tăng trưởng Hotmail .................................................................. 23



4
3.4.1 Xây dựng mô hình ........................................................................... 48

3.4.2 Kết quả ............................................................................................ 50

3.5 So sánh hai phương pháp xây dựng hệ thống ........................................ 52

Kết Luận .......................................................................................................... 53

hoạt động mua bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là một phạm vi rất nhỏ trong
thương mại điện tử.
1.1.2 Các nội dung cơ bản
Theo định nghĩa vừa nêu trên, Thương mại điện tử là việc mua bán
hàng hoá và dịch vụ thông qua mạng máy tính toàn cầu. Hoạt động giao dịch
trên mạng có rất nhiều điểm khác biệt so với hoạt động giao dịch truyền
thống về phương thức trao đổi hàng hoá, đối tượng tham gia giao dịch, cách

6
thức thanh toán, … Căn cứ theo những khác biệt đó, chúng tôi xem xét một số
khía cạnh của Thương mại điện tử mà hoạt động thương mại truyền thống
không có.
a. Đặc trưng của Thương mại điện tử
Dựa trên phương thức trao đổi hàng hoá giữa hai bên, Thương mại điện
tử có một số đặc trưng cơ bản sau:
¾ Các bên tiến hành giao d
ịch trong Thương mại điện tử không tiếp xúc
trực tiếp với nhau và không đòi hỏi biết nhau từ trước.
¾ Các giao dịch trong Thương mại điện tử thực hiện trong một thị trường
không có biên giới (thị trường toàn cầu). Thương mại điện tử trực tiếp
tác động đến môi trường cạnh tranh toàn cầu.
¾ Trong hoạt động giao dịch Thương m
ại điện tử có sự tham gia của ít
nhất ba chủ thể trong đó một bên không thể thiếu được là người cung
cấp dịch vụ mạng và các cơ quan chứng thực.
¾ Đối với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là phương
tiện để trao đổi dữ liệu còn với thương mại điện tử thì mạng lưới thông
tin là thị trường.
b. Các hình th
ức giao dịch trong Thương mại điện tử

thị
trường, nhờ đó có thể xây dựng được các chiến lược sản xuất và kinh
doanh thích hợp với xu thế phát triển của thị trường trong nước, khu
vực và quốc tế. Điều này hiện nay đang được nhiều quốc gia quan tâm
và được coi là một trong những động lực phát triển kinh tế.
− Giảm chi phí sản xuất: Thương mại điện tử giúp giảm chi phí sản xu
ất,
trước hết là chi phí văn phòng. Các “văn phòng không giấy tờ” chiếm
diện tích nhỏ hơn rất nhiều hay chi phí tìm kiếm chuyển giao tài liệu
cũng giảm nhiều lần. Theo ví dụ có trong [2], tiết kiệm trên hướng này
đạt tới 30%. Điều quan trọng là các nhân viên có năng lực được giải
phóng bởi nhiều công đoạn, có thể tập trung vào nghiên cứu phát triển
và đưa đến những lợi ích to lớn lâu dài.

Giảm chi phí bán hàng, tiếp thị và giao dịch: Thương mại điện tử giúp
giảm thấp chi phí bán hàng và chi phí tiếp thị. Bằng phương tiện
Internet một nhân viên bán hàng có thể giao dịch với rất nhiều khách

8
hàng. Các catalogue điện tử thường xuyên được cập nhật và phong phú
hơn nhiều so với catalogue in ấn có khuôn khổ giới hạn và luôn luôn lỗi
thời. Theo ví dụ của [2], hãng máy bay Boeing của Mỹ có tới 50%
khách hàng đặt mua 9% phụ tùng qua Internet (và nhiều các đơn hàng
về lao vụ kỹ thuật), và mỗi ngày giảm bán được 600 cuộc gọi điện
thoại.
Thương mại điện tử qua Web giúp người tiêu dùng và doanh nghiệp
giảm đáng k
ể thời gian và chi phí giao dịch. Thời gian giao dịch qua
Internet chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua Fax, bằng 0.05% thời gian
giao dịch qua bưu điện chuyển phát nhanh, chi phí thanh toán điện tử

của các doanh nghiệp, trong đó số tên miền .vn (như .com.vn, .net.vn,...) đã
tăng từ 2.300 (n
ăm 2002) lên 5.510 (năm 2003) và 9.037 (năm 2004). Đến
cuối năm 2007 số tên miền .vn khoảng 55000. Những con số trên cho thấy tốc
độ phát triển rất lớn của Mạng và các lĩnh vực có liên quan khác ở Việt Nam.
Năm 2003, 2004 các website sàn giao dịch B2B (marketplace), các
website rao vặt, các siêu thị trực tuyến B2C... thi nhau ra đời. Số liệu thống kê
của Bộ Công Thương tính đến thời điểm đó này cho thấy đang có khoảng 38%
số doanh nghiệp Việt Nam có website riêng và hơn 93% s
ố doanh nghiệp kết
nối Internet để phục vụ cho sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, các website này
vẫn còn phát triển hạn chế, chưa có website nào thực sự phát triển đột phá
theo xu hướng Thương mại điện tử. Lý do vì phần lớn doanh nghiệp ở Việt
Nam các website chỉ được xem như kênh tiếp thị bổ sung để quảng bá hình
ảnh công ty và giới thiệu sản phẩm, do đó các doanh nghiệp chưa đầu tư khai
thác hết nh
ững lợi ích thương mại điện tử có thể mang lại. Cũng có nhiều cá
nhân, doanh nghiệp thành lập các website như: sàn giao dịch, website phục vụ
việc cung cấp thông tin, website rao vặt, siêu thị điện tử... để nhằm mục đích
giao dịch trên mạng. Tuy nhiên các website này chưa thực sự được quảng bá
và phát triển tốt để mang lại lợi nhuận kinh tế đáng kể.
b. Các doanh nghiệp Việt Nam với Thương m
ại điện tử [2]
Thương mại điện tử là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển.
Doanh nghiệp Việt Nam đa số là doanh nghiệp vừa và nhỏ nên Thương mại
điện tử sẽ là cầu nối giúp mở rộng thị trường, tham gia hội nhập tích cực. Với
một chi phí rất thấp và có tính khả thi, bất cứ một doanh nghiệp Việt Nam nào
cũng có thể nhanh chóng tham gia Th
ương mại điện tử để đem lại cơ hội phát
triển cho doanh nghiệp. Tuy nhiên các doanh nghiệp Việt Nam cũng gặp rất

- Tìm cơ hội xuất khẩu
Quá trình tham gia Thương mại điện tử là quá trình doanh nghiệp từng bước
chuẩn bị nguồn lực và kinh nghiệm để hội nhập với thế giới. Để tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp Việt Nam gia nhập thị trường th
ế giới, chính phủ đã ban
hành nghị định về Thương mại điện tử. Nghị định là cơ sở pháp lý đảm bảo
cho các doanh nghiệp tham gia giao dịch.
11
c. Quyết định của Chính phủ trong chính sách với Thương mại điện tử ở Việt
Nam

Ngày 9 tháng 6 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị
định số 57/2006/NĐ-CP về thương mại điện tử. Đây là nghị định đầu tiên
trong 5 nghị định hướng dẫn Luật Giao dịch điện tử và nghị định thứ sáu trong
số 12 nghị định hướng dẫn Luật Thương mại được ban hành. Nghị định về
Thương mại điện tử ra đờ
i đánh dấu một bước tiến lớn trong việc tạo hành
lang pháp lý để các doanh nghiệp yên tâm tiến hành giao dịch thương mại điện
tử, khuyến khích thương mại điện tử phát triển, bảo vệ quyền và lợi ích của
các bên tham gia, đồng thời cũng là căn cứ pháp lý để xét xử khi có tranh chấp
liên quan đến hoạt động thương mại điện tử.
Nghị định gồ
m 5 chương, 19 điều với những nội dung chính như sau:
− Chương I: Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 6) nêu lên phạm
vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, giải thích một số thuật ngữ, xác định
nội dung quản lý nhà nước về thương mại điện tử và cơ quan thực hiện
nhiệm vụ này.

Chính phủ đối với các doanh nghiệp, tạo điều kiện để các doanh nghiệp có thể
tham gia vào thị trường thế giới. Mục tiêu hướng đến là hệ thống các doanh
nghiệp vững mạnh, đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trên thế giới.
d. Mục tiêu đề ra
Trong quyết định Phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển thương mại đi
ện tử
giai đoạn 2006-2010, đến năm 2010 sự phát triển của thương mại điện tử phấn
đấu đạt được các mục tiêu chủ yếu sau:
− Khoảng 60% doanh nghiệp có quy mô lớn tiến hành giao dịch thương
mại điện tử loại hình “doanh nghiệp với doanh nghiệp”.
− Khoảng 80% doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ biết tới tiện ích của
thương mại
điện tử và tiến hành giao dịch thương mại điện tử loại hình
“doanh nghiệp với người tiêu dùng” hoặc “doanh nghiệp với doanh
nghiệp”.
− Khoảng 10% hộ gia đình tiến hành giao dịch thương mại điện tử loại
hình “doanh nghiệp với người tiêu dùng” hoặc “người tiêu dùng với
người tiêu dùng”.
− Các cơ quan Chính phủ phải đưa hết dị
ch vụ công như thuế, hải quan,
thủ tục xuất nhập khẩu, thủ tục đầu tư và đăng ký kinh doanh,…vào
giao dịch điện tử
Để đạt các mục tiêu trên, Chính phủ đề ra nhiều chính sách và giải
pháp chủ yếu tập trung vào một số vấn đề sau [2]:

13
− Phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông, đẩy mạnh
học tập và ứng dụng internet trong nhà trường, các vùng nông thôn,
trong thanh niên .
− Phát triển nguồn nhân lực về công nghệ thông tin, ứng dụng công nghệ

tri thức có ích đó các phương pháp Khai phá dữ liệu ra đời. Chúng cho phép
chúng ta trích xuất những thông tin hữu ích mà chúng ta chưa biết. Các tri
thức vừa tìm thấy có thể vận dụng để cả
i thiện hiệu quả hoạt động của hệ
thống thông tin ban đầu.
Khai phá dữ liệu có thể định nghĩa [10] là việc khám phá tri thức trong
cơ sở dữ liệu, là một quá trình trích xuất những thông tin ẩn, trước đây chưa
biết và có khả năng hữu ích trong cơ sở dữ liệu.
Quá trình Khai phá dữ liệu bao gồm 5 giai đoạn chính như sau [11]:
− Xác định vấn đề và không gian dữ liệu
để giải quyết vấn đề
(Problem understanding and data understanding).
− Chuẩn bị dữ liệu (Data preparation), bao gồm các quá trình làm
sạch dữ liệu (data cleaning), tích hợp dữ liệu (data integration),
chọn dữ liệu (data selection), biến đổi dữ liệu (data transformation).
− Khai phá dữ liệu (Data mining): xác định nhiệm vụ khai phá dữ liệu
và lựa chọn kĩ thuật khai phá dữ liệu. K
ết quả cho ta một nguồn tri
thức thô.
− Đánh giá (Evaluation): dựa trên một số tiêu chí tiến hành kiểm tra
và lọc nguồn tri thức thu được.
− Triển khai (Deployment).
Hiện nay có rất nhiều lĩnh vực ứng dụng khai phá dữ liệu như: thiên
văn học, tin sinh học, bào chế thuốc, thương mại điện tử, phát hiện gian lận,
quảng cáo, marketing , quản lý quan hệ
khách hàng, chăm sóc sức khỏe, viễn
thông, thể thao, giải trí , đầu tư , máy tìm kiếm… Trong đó khai phá dữ liệu

15
Thương mại điện tử là một trong những lĩnh vực thu hút nhiều nghiên cứu

xu hướng thương mại hoá. Các lĩ
nh vực thương mại hoá của Web như thương
mại điện tử, quảng cáo, đăng ký các dịch vụ, ... khiến Web thâm nhập sâu vào
trong cuộc sống hiện đại, có thể nói mạng đã trở thành một bộ phận không thể

16
thiếu trong cuộc sống của chúng ta. Trong khai phá dữ liệu Thương mại điện
tử có rất nhiều nghiên cứu phục vụ cho giao dịch trên mạng như :
• Thiết kế những mô hình cho hệ thống khuyến cáo những sản phẩm mới
tới người tiêu dùng căn cứ vào lịch sử mua hàng của họ.
• Hiểu được những nhân tố nào gây ảnh hưởng đến việc mua sắm c
ủa
khách hàng trên một Website.
• Dự đoán các định hướng mua sắm của khách hàng trong thời gian thực.
Trong cơ sở dữ liệu giao dịch điện tử, thông tin mua sắm của khách
hàng (như thông tin về sản phẩm hay số lần mua sắm) cũng như thông tin cá
nhân của khách hàng là vô cùng lớn. Thông tin đó có thể được lưu trữ từ khi
khách hàng mua sản phẩm đầu tiên đến lần bình chọn giá trị sử dụng sả
n phẩm
cuối cùng. Khi khách hàng mua một sản phẩm, thông tin mua sắm được thêm
vào thông tin của khách hàng. Nó tạo ra một cơ sở dữ liệu khổng lồ khi các
trang Web Thương mại điện tử lớn có hàng nghìn người đăng nhập mỗi ngày
(như www.amazon.com
). Với lượng thông tin như vậy, các nghiên cứu trong
giao dịch trên Mạng gặp phải thách thức vô cùng lớn.
Dữ liệu khách hàng trên mạng:
Các nghiên cứu về giao dịch trên mạng đều thực hiện trên cơ sở dữ liệu
thông tin mua hàng của khách hàng. Trong các trang Web Thương mại điện
tử, dữ liệu được lưu trữ theo các mẫu tiêu chuẩn (ví dụ một danh sách các sự
kiện trong một khoảng thời gian, bản ghi mà trang yêu cầu,

dựa trên hai cơ sở :
− Các sản phẩm cũ mà khách hàng này đã mua, xem xét hay bình
chọn giá trị sử dụng
− Các sản phẩm mà khách hàng khác quan tâm trước đó.
Các website thương mại điện tử thì luôn mong muốn phát triển số
lượng khách hàng. Để có thể thu hút đượ
c nhiều khách hàng thì nhà cung cấp
phải đa dạng hóa các loại sản phẩm để đáp ứng được nhu cầu mua sắm của
nhiều loại khách hàng. Khi đó số lượng sản phẩm và loại sản phẩm được trưng
bày trong website ngày càng tăng và hạn chế khả năng chọn lựa sản phẩm của
khách hàng, khách hàng phải duyệt qua nhiều liên kết, sàng lọc nhiều thông
tin mới có thể tìm được sản phẩ
m mong muốn. Vậy làm sao hỗ trợ khách hàng
trong công việc lựa chọn sản phẩm mua sắm? Cụ thể, những sản phẩm nào
nên được đề xuất tiếp theo các sản phẩm đã được khách hàng đánh giá hoặc
chọn mua? Nên đề xuất bao nhiêu sản phẩm là tốt nhất cho khách hàng? Hệ
thống khuyến cáo sản phẩm được hình thành và phát triển nhằm mục đích hạn
chế những điểm yế
u này trong giao dịch thương mại điện tử.
Trong chương 2, chúng tôi sẽ đề cập đến một số mô hình khai phá dữ
liệu trong Thương mại điện tử ứng dụng vào hệ thống khuyến cáo sản phẩm.

18
Phân tích quy trình duyêt Web để dự đoán mua sắm
Tại các Website Thương mại điện tử có số lượng khách hàng đăng
nhập rất lớn (hàng nghìn người mỗi ngày). Khi khách hàng xem một trang
Web Thương mại điện tử, dù có mua các sản phẩm hay không thì khách hàng
đó cũng duyệt qua rất nhiều trang của Website. Phân tích quá trình duyệt các
trang trong Website thương mại điện tử có thể cung cấp những hiểu biết có giá
trị trong hành vi của khách hàng và cung cấp nhiều thông tin quan trọ

khách hàng đã mua trước đó, hoặc dựa trên một vài mô tả sơ sài về sản phẩm
của khách hàng. Khi khách hàng duyệt Website thương mại, chưa chắc khách
hàng đã hứng thú với danh sách mặt hàng dựa trên những mặt hàng đã mua,
do vậy hê thống khuyến cáo sản phẩm có thể chờ định hướng mua sắm của
khách hàng để thực hiện việc khuyến cáo sản phẩm.
Việc phân tích quá trình duyệt Website thương mại củ
a khách hàng có
thể dự đoán xem liệu một khách hàng có mua sản phẩm hay không, ví dụ: một
khách hàng chỉ xem thông tin về các tác dụng của sản phẩm hay nhà cung cấp
sản phẩm đó, xác suất mua hàng của khách hàng đó nhỏ hơn xác suất mua của
khách hàng ngoài việc xem tác dụng của sản phẩm còn xem thông tin giá cả
hay số lượng người mua sản phẩm trước đó. Phân tích quá trình duyệt Website
này có ứng dụng trong hệ thống khuyến cáo sản phẩm, h
ệ thống có thể đưa ra
các mặt hàng khác nhau cho những khách hàng có quy trình duyệt khác nhau.
Tất cả những công việc trên đều nhằm mục đích: tăng số lượng hàng hoá giới
thiệu cho khách hàng từ đó thúc đẩy quá trình trao đổi giữa hai bên khách
hàng và nhà cung cấp sản phẩm. Đó cũng là mục đích của hệ thống khuyến
cáo sản phẩm ứng dụng trong Website thương mại.
Hệ thống khuyến cáo sản phẩm trên mạ
ng
Trong mục này, chúng tôi giới thiệu một hệ thống khuyến cáo sản
phẩm, hệ thống này xây dựng trên cơ sở các Email.
Như đã biết, Email của người dùng được lưu trữ trên máy chủ và mọi
người sử dụng có thể gửi mail cho nhau thông qua trình duyệt Web. Khi
chúng ta sử dụng email, hiển nhiên có một lượng lớn thư quảng cáo gửi vào
hòm thư của chúng ta. Điều này cũng có thể xem như công việc qu
ảng cáo sản
phẩm cho khách hàng. Trang chủ email là Website Thương mại điện tử cung
cấp các sản phẩm, sản phẩm là những liên kết đến các trang Web khác. Các

ận lợi để quảng cáo các sản phẩm.
Thành công của khuyến cáo trên cơ sở Web dựa trên giả thiết các sản
phẩm hay dịch vụ có lợi ích chung cho một lượng lớn khách hàng. Trường
hợp các sản phẩm hay dịch vụ quảng cáo có chất lượng không đảm bảo, mặc
dù có một lượng lớn quảng cáo được gửi đi nhưng hầu như người nhận không
hề đọc hay chuyển ti
ếp. Nó không thực hiện được hiệu ứng lan truyền trong
mạng, không có hiệu quả khi quảng cáo. 21
Chương 2. Một số mô hình Khai phá dữ liệu trong
Thương mại điện tử
Trong chương trước, chúng tôi đã trình bày một cách khái quát về
Thương mại điện tử và Khai phá dữ liệu trong Thương mại điện tử. Khai phá
dữ liệu Thương mại điện tử thực hiện trên cơ sở dữ liệu giao dịch thông qua
mạng máy tính, cụ thể là cơ sở dữ liệu khách hàng và sản phẩm tại các
Website thương mại. Trong các Website Thương mại điện tử s
ố lượng sản
phẩm thường rất lớn, nó làm khách hàng gặp khó khăn trong việc lựa chọn.
Do vậy việc xây dựng hệ thống khuyến cáo sản phẩm là vấn đề quan trọng với
các nhà cung cấp. Hệ thống khuyến cáo sản phẩm có tác dụng hỗ trợ khách
hàng lựa chọn những sản phẩm phù hợp với nhu cầu tiêu dùng. Hệ thống
khuyến cáo sản phẩm chủ yếu s
ử dụng các mô hình trong việc dự đoán. Trong
chương này chúng tôi sẽ trình bày một số mô hình sử dụng các phương pháp
Khai phá dữ liệu trong Thương mại điện tử đối với hệ thống khuyến cáo sản
phẩm.
2.1 Hệ thống khuyến cáo sản phẩm
Khi xử lý thông tin khách hàng trong Website Thương mại điện tử, một

có thể nhận giá trị trong khoảng [0, 1].
Bảng 2.1. Ma trận lá phiếu nhị phân, mỗi Item tương ứng một cột, mỗi User tương
ứng một hàng. Mục trống tương ứng giá trị lá phiếu là 0.
Item1 Item2 Item3 Item4 Item5 Item6 Item7 Item8 Item9
User1 1 1 1
User2 1 1 1
User3 1 1 1
User4 1 1
User5 1 1
User6 1 1
User7 1 1 1 1
User8 1
User9 1 1 1
User10 1 1 1 1
User11 1 1

Hệ thống tự động giới thiệu và xếp hạng một danh sách những Item
mới tới User trên cơ sở: các Item mà User này đã mua hay ước lượng giá trị sử
dụng (bỏ phiếu cho Item đó), thông tin về Item của các User khác. Hệ thống
tính toán và đưa ra danh sách sản phẩm dựa trên sự tương đồng giữa các User
trong cơ sở dữ liệu. Điều này có thể hình dung đơn giản như sau: Khi chúng
tôi muốn mua một s
ản phẩm, chúng tôi nên tham khảo những sản phẩm mà
những người dùng khác đã mua (những người dùng có mục đích tương tự như
mình).

23
Trong hệ thống khuyến cáo sản phẩm: Giả sử a là User tích cực mà hệ
thống cần làm những dự đoán mua sắm,
a

khổng lồ là một khó khăn khi thiết kế các thuật toán cho hệ thống khuyến cáo
sản phẩm.
Mô hình tăng trưởng Hotmail
Trong chương trước, chúng tôi đã đề
cập đến Hệ thống khuyến cáo sản
phẩm trên cơ sở Web. Trong đó hệ thống khuyến cáo trên cơ sở Email là
Hotmail có một tốc độ phát triển rất lớn [8]. Trong 6 năm kể từ khi xuất hiện,
số lượng thuê bao tăng từ 20000 lên 110 triệu người sử dụng. Một mô hình
được xây dựng để tính toán tốc độ tăng trưởng của Hotmail, mô hình này có
tác dụng dự đoán xem có bao nhiêu cá nhân k(t) ở thờ
i điểm t chấp nhận sản
phẩm từ tổng số N cá nhân. Mô hình này sử dụng hiệu ứng lan truyền trên
mạng để khuyến cáo sản phẩm đến cho người sử dụng. Hiệu ứng lan truyền

24
này được đề cập trong mục “Hệ thống khuyến cáo sản phẩm trên mạng” ở
chương trước. Mô hình dựa trên 2 giả thiết :
− Tại thời điểm t, có N - k(t) cá nhân không chấp nhận sản phẩm. Giả
thiết có một tỉ lệ bất biến a >= 0 cá nhân sẽ chấp nhận sản phẩm ngay
khi nhận được quảng cáo từ các cá nhân khác.
− Tại thời điể
m t có k (t) ( N - k (t) ) mối liên kêt giữa các cá nhân chấp
nhận sản phẩm và những cá nhân không chấp nhận sản phẩm. Nó cũng
giả thiết có một tỉ lệ cá nhân mới β >= 0 chấp nhận sản phẩm từ những
mối liên kết này.
Trong mô hình trên, phần thứ nhất đại diện cho việc thu hút khách hàng
từ quảng cáo trực tiếp. Phần thứ hai đại diện cho việc thu hút khách hàng từ
những lan truyền trong mạng.
Từ hai giả thiết trên, tốc độ biến thiên của k(t) được tính như sau :
()

tương đối chính xác trong kho
ảng thời gian ngắn. Có thể suy luận đường cong
trên tiệm cận tới con số thuê bao ước tính cuối cùng (N) sau khoảng thời gian t
đủ lớn.

25

Hình 1. Mô hình tăng trưởng Hotmail trong 52 tuần đầu
Sau 6 năm mô hình trên có dạng

Hình 2 Mô hình Hotmail sau 6 năm xuất hiện.

Trích đoạn Cơ sở dữ liệu So sánh hai phương pháp xây dựng hệ thống
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status