skkn việc tạo hứng thú cho các em trong giờ học ngữ văn - Pdf 33

LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, môn Ngữ văn là một trong những môn học chính ở các trường
THCS, THPT và cũng là một trong những môn chính trong các kỳ thi tốt nghiệp.
Còn đối với xã hội, môn Ngữ văn cũng góp phần quan trọng trong việc rèn luyện
kỹ năng giao tiếp, viết lách, giúp mọi người trau chuốt lời nói, lời văn của mình,
bồi dưỡng cho con người những tình cảm tốt đẹp và hình thành nhân cách và hoàn
thiện nhân cách của mình qua việc học môn Văn như Hoài Thanh đã nói:
“ Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta
sẵn có, cuộc đời phù phiếm và chật hẹp của cá nhân vì văn chương mà trở nên
thâm trầm và rộng rãi đến trăm nghìn lần.”
( Ý nghĩa văn chương trong Bình luận văn chương của Hoài Thanh).
Còn trong nhà trường phổ thông môn Ngữ văn giúp các em học sinh rèn
luyện và hoàn thiện nhân cách của mình “ Văn học là nhân học” .
Nhưng trong quá trình giảng dạy trong 03 năm qua ở trường THCS Bình
Thạnh, tôi nhận thấy một bộ phận không nhỏ học sinh chưa nhận thức đuợc tầm
quan trọng của môn học này. Hơn thế nữa, các em quá thờ ơ với môn Ngữ Văn .
Vì vậy việc tạo hứng thú cho các em trong giờ học Ngữ Văn nhằm giúp cho
các em học tốt hơn bộ môn Ngữ văn ở trường phổ thông là rất quan trọng và cần
thiết, góp phần nâng cao chất lương GD và củng là trách nhiệm của giáo viên dạy
văn.
Song những vấn đề trong đề tài này chưa phải là tốt nhất, tôi rất mong sự
đóng góp của Hội đồng khoa học trường và quý đồng nghiệp trong tổ chuyên môn
để tìm ra nhiều biện pháp hữu hiệu hơn giúp nâng cao chất lượng dạy và học Ngữ
văn ở trường THCS Bình Thạnh ngày càng tốt hơn .
Bình Thạnh , ngày 12 tháng 02 năm 2011
Người nghiên cứu

Trần Thị Ngọc Hân

1


còn thấp, chưa có học sinh giỏi văn các cấp.
Có thể nói Văn học từ xa xưa với chức năng cao đẹp của nó trải qua lịch
sử cả ngàn năm đã góp phần hun đúc bồi dưỡng, tình cảm, nhân cách, thẩm mỹ
cho con người Việt Nam qua các thế hệ. Ngữ văn góp phần không nhỏ trong việc
giao tiếp, hành văn, trau dồi kiến thức từ vựng, ngữ pháp, sử dụng từ, đặt câu…
Đặc biệt là khả năng tự hoàn thiện nhân cách cho mình vì “ Văn học là nhân học”.
Bởi những điều đó đã góp phần hình thành nên những con người yêu quê hương,
đất nước, giàu lòng nhân ái, đề cao chính nghĩa, ghét gian tà!
Môn Ngữ văn hiện nay còn là môn thi chính ở cấp học phổ thông, các kỳ
thi tuyển sinh Cao đẳng, Đại học các khối C, D… và các kỳ thi trung học chuyên
nghiệp hay học nghề …
Chính vì vậy mà tôi muốn góp chút sức lực của mình với nhiệt huyết của
một giáo viên trẻ để làm thay đổi nhận thức của các em đối với môn Ngữ văn và
làm cho các em yêu thích môn học này hơn, học tốt hơn, và trả lại cho môn Ngữ
văn vị trí xứng đáng mà nó vốn có.
II. MỤC ĐÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI, SKKN
1. Mục đích nghiên cứu:
Giúp cho học sinh nhận thức được tầm quan trọng của bộ môn Ngữ văn
trong việc học tập, thi cử hay giao tiếp ngoài xã hội, tạo điều kiện cho các em
2


hứng thú học môn Ngữ văn, làm cho các em ngày một thêm say mê học tập và
nghiên cứu văn chương góp phần nâng cao chất lượng dạy và học .
Loại bỏ những quan niệm không đúng trong việc học tập bộ môn Ngữ Văn
của các em đã tồn tại bấy lâu nay, nhất là thái độ, ý thức của các em trong học tập
đặc biệt là đối với môn Ngữ Văn .
2. Phương pháp nghiên cứu:
- Sử dụng phương pháp phỏng vấn, nghiên cứu tài liệu;
- Phương pháp khảo sát; so sánh, đối chiếu;

quan tâm nhiều hơn đến vấn đề: Nâng cao chất lượng Giáo dục và Đào tạo.
Nhiều hội thảo cấp huyện, cấp xã đã được tổ chức điển hình “ Hội thảo nâng cao
chất lượng giáo dục trên địa bàn huyện Cao Lãnh ngày 14/08/2008”; “Hội thảo
nâng cao chất lượng giáo dục trên địa bàn xã Bình Thạnh ngày 29/08/2008”; “
Hội nghị sơ kết một năm thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục
trên địa bàn xã Bình Thạnh ngày 26/08/2009” và mới đây là “ Hội thảo giải pháp
nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo năm học 2010 – 2011 ngày 13/10/2011 của
huyện Cao Lãnh”.
Tất cả đều nhằm tìm các giải pháp hiệu quả để nâng cao chất lượng dạy và học.
3


II. Cơ sở thực tiễn.
1. Thuận lợi.
- Lãnh đạo nhà trường quan tâm và tạo mọi điều kiện để giáo viên thực hiện tốt
công tác giảng dạy.
- Các lớp được phân công giảng dạy có nhiều học sinh học khá, giỏi.
- Đa số học sinh có ý thức học tập khá tốt.
- Hs có đủ SGK để học.
- Đa số các em được sự quan tâm của cha, mẹ. Gia đình tạo điều kiện tốt cho các
em yên tâm học tập (có mở được lớp học dạy bằng máy chiếu).
2. Khó khăn.
- Cơ sở vật chất của nhà trường còn khó khăn, thiếu thốn chưa tạo diều kiện tốt
nhất cho việc dạy và học.
- Học sinh yếu vẫn còn khá nhiều, tinh thần, ý thức học tập của một số học sinh
chưa tốt.
- Có khá nhiều học sinh không yêu thích môn Văn.
- Nhận thức của PHHS và HS còn xem nhẹ môn Văn.
- Là HS nông thôn nên việc đọc sách, báo, tài liệu học tập nhất là phân môn văn
còn rất hạn chế.

Bình thường
Thích
Rất thích
Lớp TSHS Không thích
Sl
Tl
Sl
Tl
Sl
Tl
Sl
Tl
7A1 40
12
30%
14
35%
12
30%
02
5%
7A2 41
18
43,9% 12
29,3%
10
24,4% 01
2,4%
Tc
81

7A1
12
6
50%
02
16,7% 02
16,6%
7A2
18
8
44,4% 6
33,3% 03
16,7%
Tc
30
14
46,7% 8
26,7% 05
16,6%

Gv dạy không
hay,
không
hấp dẫn.
Sl
02
01
03

Tl

nghệ thuật tác phẩm một cách sâu sắc.
- Mặt khác, có một số bài nội dung nhiều nhưng dung lượng thời gian ít,
nội dung bài giảng nhiều nên có giáo viên đứng lớp chỉ chú tâm để ý đến các em
khá, giỏi tránh mất thời gian và lạc ý của mình. Giáo viên không chú ý quan tâm
đến học sinh yếu, kém, ít phát biểu vì sợ mất thời gian và rối ý mình, nên dần dần
các em này chán nản không hứng thú học Ngữ văn nữa.
Trên đây , chưa hẵn đã hết những nguyên nhân , song những nguyên nhân
trên cũng đã làm cho việc học tập và nghiên cứu Ngữ văn bị hạn chế đáng kể .

5


IV. CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
Trước tình hình thực tế của HS các lớp giảng dạy, tôi bắt đầu thực hiện, suy
nghĩ, dự tính của mình với phương châm: cả cô và trò đều say mê với văn bản,
với tác phẩm văn chương, cùng khai thác, tìm hiểu, cảm thụ vẻ đẹp, giá trị của nó.
- Bước đầu sau khi nhận lớp 7a1, 7a2 thì tôi tìm hiểu tình hình học tập của
Hs đối với phân môn Văn như thế nào. Qua tìm hiểu tôi có kết quả như sau:
GIỎI
KHÁ
TRUNG
YẾU
Lớp
TSHS
BÌNH
Sl
Tl
Sl
Tl
Sl

HS; tích cực làm đồ dùng dạy học khi lên lớp, ứng dụng CNTT vào giảng dạy
để góp phần cải thiện tình hình học văn, góp phần nâng cao chất lượng giáo
dục của đơn vị.
- Trong công việc soạn giảng tôi cố gắng soạn bài thật chu đáo, chịu
khó tìm kiếm tài liệu, hình ảnh, các mẫu chuyện về tác giả, tác phẩm để làm
bài giảng của mình thật đầy đủ về nội dung phong phú, đặc sắc về hình thức
tạo sự chú ý, tạo hấp dẫn cho HS.
- Thực hiện tốt phong trào “ Xây dựng trường học thân thiện, học
sinh tích cực” mà ngành GD và đơn vị phát động. Đặc biệt là xây dựng thái độ
chân tình, cởi mở, gần gũi
với HS, tạo mối quan hệ thân thiện giữa thầy và trò, giảng dạy nhiệt tình, hết
lòng vì HS, làm mọi việc để các em tiến bộ, học tốt: động viên, khuyến khích
HS học tập, hướng dẫn
các em soạn bài, làm bài, phụ đạo các em học yếu kém… Đây là việc làm hết
sức cần thiết tạo được tình cảm, niềm tin của học sinh đối với thầy cô, từ đó
dần dần tạo tình yêu của các em đối với phân môn Văn do tôi giảng dạy, tích
cực học tập hơn là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng giảng dạy của
môn Ngữ văn nói chung và phân môn Văn nói riêng.
- Trong quá trình giảng dạy bản thân tôi cũng chịu khó tìm hiểu tâm
lý HS, cố gắng thay đổi nhận thức về đối tượng HS hiện nay: hoạt bát hơn,
hiểu biết hơn, hiếu động, tinh nghịch hơn, không thích bị áp đặt, gò bó…. Từ
đó tôi chọn cách ứng xử thích hợp và điều chỉnh phương pháp trong quá trình
dạy học: nghiêm khắc nhưng chân tình, mềm mõng đối với Hs vi phạm nội vi
kỷ luật, khen nhiều hơn chê, khuyến khích các em phát biểu, nói lên những suy
nghĩ của mình, nhẫn nại đối với những sai sót của HS…
- Dạy học là một quá trình lao động sáng tạo. Nhà giáo phải là nhà
nghệ sĩ của quá trình lao động sáng tạo, chứ không phải là cỗ máy lên lớp.
Cùng một chủ đề, bài giảng nhưng ngày hôm sau có thể hay hơn ngày hôm
trước, lớp này dạy hay hơn lớp kia. Sau mỗi tiết dạy, mỗi lớp dạy xong tôi đều
tự rút ra cho mình những ưu, khuyết điểm, suy nghĩ tìm các phương án, thay

từ trên, không phù hợp, không hay, không giàu ý nghĩa bằng từ “góp” mộc mạc,
giản dị nhưng đặc sắc, nó thể hiện sự hy sinh cao cả của các bà mẹ Việt Nam,
những người đã góp “khúc ruột” của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc….
Qua các buổi làm việc như vậy cô và trò sẽ gần gũi nhau hơn, hiểu nhau
hơn và HS sẽ yêu thích môn văn hơn. Đặc biệt là tôi dần hình thành cho HS thói
quen tìm hiểu, cảm thụ văn chương, yếu tố quan trọng để HS yêu thích và học tiếp
môn Văn nói riêng và môn Ngữ văn nói chung.
- Tôi còn tranh thủ qua các buổi phụ đạo trái buổi, dạy tăng tiết cho HS
giúp HS tìm hiểu, phân tích cách sử dụng từ ngữ giàu hình ảnh, cảm xúc, nhạc
điệu với các biện pháp nghệ thuật điêu luyện đã diễn tả những cung bậc cảm xúc,
tình cảm mà các loại hình khác không diễn tả nổi.
Ví dụ. Tôi cùng HS phân tích, tìm hiểu bài thơ “ Mẹ” của Nguyễn Lê
“Trưa về đến sau đồi
Gọi con như mọi bận
Mà không nghe trả lời
Thì mẹ ơi đừng giận
Nhìn vở bài toán đó
Con làm còn dở dang
Bỏ quên bên của sổ
7


Đừng bảo con không ngoan
Sân nhà đầy lá rụng
Mẹ đừng trách con lười
Thấy áo con đẫm máu
Đừng, đừng khóc mẹ ơi!
Giặc Mỹ nó nhằm con
Mà bắn vào tim mẹ
Đừng khóc con mẹ nhé!

thu bài chấm điểm cho các em, tuyên dương những HS làm tốt công việc được
giao, khích lệ các em trong việc thi đua giữa các tổ….
- Trong các tiết học văn bản, với những văn bản có nhân vật, tôi tạo điều
kiện cho các em nhập vai nhân vật khi đọc, trong những giờ hoạt động ngoại
khóa, tôi cho các em diễn kịch sáng tạo theo ý các em, diễn lại các vai nhân vật có
trong văn bản mà các em đã được học như văn bản: Cuộc chia tay của những con
búp bê – Khánh hoài…
8


- Kích thích tư duy, phát huy tính sáng tạo, tích cực của các em, cho các
em thể hiện chính mình ngay trong giờ học như: cho các em kể sáng tạo lại câu
chuyện trong một bài thơ, một bài văn nào đó như: kể lại bài thơ Bài ca nhà tranh
bị gió thu phá của Đỗ Phủ bằng một câu chuyện ngắn theo ý của các em. Hay cho
các em đọc diễn cảm các bài thơ, đoạn thơ, câu
thơ…trong tiết học, giờ kiểm tra miệng cũng như khi các em trả lời đừng bao giờ
bắt các em trả lời theo cách học thuộc lòng, học vẹt, hãy cho các em nói theo cách
hiểu của mình, hãy lắng nghe các em nói (dù là các em nói sai) và nhận xét chân
tình, các em sẽ thích hơn và từ đó các em mạnh dạn hơn, tự tin hơn.
- Thảo luận nhóm là một phương pháp dạy học không mới nhưng nếu áp
dụng hợp lý, đúng nghĩa thì đó là một giải pháp hữu hiệu trong việc gây hứng thú
của HS trong tiết học.
Ví dụ khi lớp thảo luận nhóm, tôi khuyến khích học sinh nêu ra những ý
tưởng mới lạ, độc đáo nếu ý đó hay,mới lạ và đúng thì giáo viên khen ngợi và
phát huy trong các tiết tiếp theo, nhóm nào có kết quả tốt nhất, tôi cho điểm
khuyến khích. Đây là cách tập trung các em lại trong giờ học, giờ thảo luận
nhóm, các em sẽ phát huy hết khả năng của mình và bàn luận sôi nổi hơn để
tìm ra câu trả lời đúng nhất mà hay nhất, và khi các nhóm trình bày thì các
nhóm khác còn lại tập trung vào kết quả của nhóm bạn để nhận xét, bổ sung,
như vậy vừa giúp các em tập trung vào giờ học vừa giúp các em phát huy được

Người giáo viên phải biết khởi động và kích thích sự hứng thú học
tập văn học của từng đối tượng học sinh mình phụ trách đặc biệt là phải tôn trọng
quan điểm lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên chỉ là người hướng dẫn còn học
sinh phải chủ động tìm ra kiến thức và lĩnh hội nó.
c) Về phía học sinh
- Có ý hơn, tích cực hơn, say mê, hứng thú hơn trong việc học tập,
nghiên cứu bộ môn Ngữ Văn .
- Nâng cao chất lựong học tập môn Ngữ Văn trong nhà trường.
- Không còn tư tưởng học thiên, học lệch mà các em chủ động và
tích cực hơn trong học tập .
- Có phương pháp thích hợp trong việc học tập môn Ngữ Văn cũng
như các môn học khác của mình.
- Nâng cao năng lực viết và sáng tạo văn học .
KẾT QUẢ
Qua thời gian áp dụng vào quá trình giảng dạy Ngữ văn 7 đã đạt được kết
quả như sau:
- Thái độ của các em đối với môn Ngữ văn:
Bình thường
Thích
Rất thích
Lớp TSHS Không thích
Sl
Tl
Sl
Tl
Sl
Tl
Sl
Tl
7A1 40

đáp
hay,
không
Lớp
TSHS không thích
học
ứng được nhu
học
hấp dẫn.
cầu thực tế
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
7A1
12
03
25 % 02
16,7
07
58,3
00
00%
%
%
7A2

Lớp
TSHS
BÌNH
Sl
Tl
Sl
Tl
Sl
Tl
Sl
Tl
7A1
40
01
2,5% 7
17,5% 32
80%
00
00%
7A2
41
01
2,4% 8
19,5% 16
39%
16
39%
TC
81
02

BÌNH
Sl
Tl
9
42,5%
23
53,7%
32
39,5%

YẾU

TRUNG
BÌNH
Sl
Tl
19
47,5%
27
65,9%
46
56,8%

YẾU

YẾU

Tl
35%
19,5%


YẾU

Tl
70%
46,3%
58%

TRUNG
BÌNH
Sl
Tl
6
15%
22
53,7%
28
34,6%

Sl
Tl
Sl
Tl
40
02
5%
21
52,5%
41
00


Tl
72,5%
36,6%
54,3%

KHÁ

Sl
Tl
Sl
Tl
40
03
7,5% 18
45%
41
02
4,9% 3
7,3%
81
5
6,2% 21
25,9%
- Tháng điểm thứ nhất trong HKII:
GIỎI
KHÁ
TSHS
Sl
21


7A1
7A2
TC

40
41
81

Lớp

- Kết quả cả năm học:
GIỎI
TSHS

7A1
7A2
TC

TRUNG
BÌNH
Sl
Tl
17
42,5%
22
53,7%
39
48,1%



Sl
00
5
5

Sl
00
2
2

Sl
00
9
9

Sl
00
00
00

Sl
00
00
00

Sl
00
00
00



C. KẾT LUẬN
I. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI ĐỐI VỚI CÔNG TÁC.
- Làm quen với việc viết sáng kiến kinh nghiệm, thực hiện đề tài, bản thân
đã ý thức được trách nhiệm của người giáo viên dạy môn Ngữ Văn.
- Giúp nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực giảng dạy của
bản thân, phát hiện ra những vấn đề mới cần giải quyết như tạo thêm niềm tin
trong công tác giảng dạy.
- Góp phần tạo nên thói quen đối với đồng nghiệp, phải chú trọng việc gây
được hứng thú, tình cảm của học sinh đối với các môn học nói chung và môn Văn
nói riêng.
- Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của đơn vị.
- Tích lũy thêm một số kinh nghiệm trong công tác.
- Chia sẽ, tiếp nhận được một số thông tin hữu ích từ học sinh, đồng
nghiệp, lãnh đạo, giúp việc thực hiện nhiệm vụ ngày càng tốt hơn.
II. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG.
- Đề tài được thực hiện với học sinh mà hàng ngày bản thân trực tiếp giảng
dạy nên thuận lợi trong việc áp dụng, điều chỉnh kịp thời nên đạt kết quả
khá tốt.
- Đề tài sáng kiến kinh nghiệm của bản thân là tập hợp những công việc,
giải pháp gần gũi dễ thực hiện và bất kì một giáo viên nào cũng có thể thực
hiện nên khả năng áp dụng và nhân rộng là rất khả thi.
III. BÀI HỌC KINH NGHIỆM. HƯỚNG PHÁT TRIỂN
Qua việc thực hiện đề tài sáng kiến kinh nghiệm, bản thân tự rút ra những bài
học kinh nghiệm như sau:
- Tranh thủ được sự đồng tình và giúp đỡ của lãnh đạo Nhà trường, sự
quan tâm hỗ trợ của CMHS.
- Tạo được sự đồng thuận của tổ chuyên môn và các bạn đồng nghiệp nhất
là giáo viên dạy cùng bộ môn.

đó để giúp mình, giúp Hs!
Tiếp theo là đầu tư thời gian, công sức cho việc thực hiện các giải pháp.
Muốn đạt kết quả thì phải bỏ công sức, thời gian và phải kiên trì và kết quả đạt
được là niềm khích lệ để chúng ta phấn đấu nhiều hơn.
Qua thời gian hơn một học kì thực hiện các giải pháp, cái được, cái kết quả
lớn nhất mà bản thân tôi có được là tình yêu của Hs đối với tôi, tình cảm của các
em đối với bộ môn Ngữ văn và phân môn Văn nói riêng, các em đã yêu thích và
học ngày một tiến bộ hơn.
Cuối cùng, bản thân mong muốn quý đồng nghiệp ủng hộ và chia sẽ. Tôi
mong rằng, mình sẽ nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của lãnh đạo và
các bạn đồng nghiệp để công việc giảng dạy của mình ngày được tốt hơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Bình Thạnh , ngày 25 tháng 02 năm 2011
GIÁO VIÊN THỰC HIỆN

Xét duyệt của Tổ chuyên môn
......................................................
......................................................
......................................................
......................................................
......................................................
......................................................
......................................................
......................................................
Trần Thị Ngọc Hân
Ý kiến của HĐKH trường :
......................................................
......................................................
......................................................
......................................................

I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
III. THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG MÂU THUẪN
IV. CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
V. HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG
C. KẾT LUẬN
I. Ý NGHĨA ĐỀ TÀI ĐỐI VỚI CÔNG TÁC
II. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
III. BÀI HỌC KINH NGHIỆM, HƯỚNG PHÁT TRIỂN
IV. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỤC LỤC

1
2
2
2
3
3
3
3
4
4
6
9
12
12
12
12
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status