skkn đổi mới dạy và học môn ngữ văn qua việc tạo hứng thú ở phần dẫn vào bài học - Pdf 25

ĐỔI MỚI DẠY VÀ HỌC MÔN NGỮ VĂN QUA VIỆC TẠO
HỨNG THÚ Ở PHẦN DẪN VÀO BÀI HỌC
______________________
I. LÍ DO CHỌ ĐỀ TÀI
Hứng thú là một trạng thái tâm lí rất cần thiết trong đời sống con người. Bởi
có hứng thú, con người học tập, lao động và vui chơi mới hăng say, nhiệt tình. Đặc
biệt, trong hoạt động dạy và học nói chung và dạy và học môn Ngữ văn nói riêng,
hứng thú không chỉ giúp người học vui học, sáng tạo mà còn giúp người dạy nhập
tâm, truyền hết cái thần của bài học. Trong một tiết học mà cả thầy và trò đều hứng
thú, say mê đi chiếm lĩnh bầu trời tri thức thì tiết học ấy sẽ sinh động đến nhường
nào.
Hoạt động dạy và học môn Ngữ văn quả thực rất cần có hứng thú, mà một
trong những khâu cần tạo hứng thú nhất là phần dẫn vào bài học. Bởi lẽ, bất kì một
hoạt động nào cũng đều cần có sự mở đầu, dẫn dắt. Trong mỗi tiết học môn Ngữ
văn, phần dẫn vào bài học là một khâu quan trọng góp phần quyết định đến hiệu
quả của cả giờ học. Đây là thời điểm “dạo đầu” để giáo viên tìm cách tạo động cơ
học tập cho học sinh.
Vì thế, hòa vào xu hướng đổi mới phương pháp dạy và học nói chung và dạy
và học môn Ngữ văn nói riêng, người viết xin được đưa ra những kiến giải về vấn
đề “Đổi mới dạy và học môn Ngữ văn qua việc tạo hứng thú ở phần dẫn vào bài
học” cho những bước đầu tập nghiên cứu của mình.
Có nhiều cách dẫn vào bài học tùy theo mục tiêu, nội dung của tiết học, năng
lực, thiên hướng của học sinh và năng lực của bản thân giáo viên. Trong phạm vi
sáng kiến kinh nghiệm này, người viết bước đầu đưa ra một số kĩ thuật dẫn vào bài
học hiệu quả, tạo hứng thú học tập cho học sinh trong môn Ngữ văn (có minh họa
cụ thể áp dụng cho một số loại bài học, đối tượng học sinh). Thiết nghĩ, đây là một
vấn đề có giá trị thực tiễn đối với dạy và học môn Ngữ văn ở trung học phổ thông
nên rất mong nhận được sự góp ý của nhiều đồng nghiệp để người viết hoàn thiện
đề tài.
II. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lí luận

vào bài học có thể nói là người dạy môn Ngữ văn đã thành công được một nửa
trong tiết dạy đó.
- Người viết cũng luôn suy nghĩ về câu nói của Longfellow – một nhà thơ
Mĩ: “Mở đầu là một nghệ thuật vĩ đại” với mong muốn những kiến giải cho đề tài
của mình được đầy đủ hơn.
Thật vậy, ấn tượng đầu tiên bao giờ cũng là rất quan trọng. Mỗi bài học nếu
có phần mở đầu bài học thuyết phục thì chỉ với vài ba phút mở đầu thôi sẽ dẫn dắt
được cả tiết học. Phần mở đầu bài học là một trong những yếu tố quyết định tính
toàn vẹn của bài học, có tác dụng phát huy tính tích cực, sáng tạo cho học sinh, tạo
không khí hứng khởi cho các em khi bắt đầu vào bài học mới.
Cũng vì “Không có lần thứ hai cho sự mở đầu”, như nhiều người khẳng
định, nên việc tạo hứng thú ở phần dẫn vào bài học cần phải được người dạy chuẩn
bị chu đáo. Bởi lẽ, chỉ có chuẩn bị chu đáo người dạy mới thể hiện được cái “nghệ
thuật vĩ đại” ở phần mở đầu bài học. Và chỉ có chuẩn bị chu đáo người dạy mới
thấy tự tin, tạo hứng thú cho phần dẫn vào bài học một cách tự nhiên, không khiên
cưỡng.
2. Cơ sở thực tiễn
Trang 2
Thực tế cho thấy, nhiều giáo viên còn xem nhẹ vai trò việc tạo hứng thú ở
phần dẫn vào bài học, chưa chú ý nhiều đến việc phải bắt đầu tiết học như thế nào
để học sinh cảm thấy hào hứng và tham gia vào bài học một cách tích cực nhất.
Nhiều khảo sát gần đây cho thấy thực trạng học tập các môn học nói chung
và học tập môn Ngữ văn nói riêng của học sinh trung học phổ thông chưa thực sự
hiệu quả. Một phần là học sinh chưa có khả năng tự học, còn lười học, mang tính
chất học vẹt, học thuộc nhưng không hiểu sâu; một phần là giáo viên sử dụng các
phương pháp chưa thực sự phù hợp và chưa tác động hiệu quả tới từng đối tượng
học sinh, tạo ra cảm giác nhàm chán và thái độ học tập thụ động. Vấn đề đặt ra là
cần phải có những đổi mới nhất định trong phương pháp dạy học.
Vì thế, người viết đưa ra giải pháp “Đổi mới dạy và học môn Ngữ văn qua
việc tạo hứng thú ở phần dẫn vào bài học” để nâng cao hiệu quả cho học sinh trong

Trang 3
hư cấu, thậm chí là rất hoang đường. Khác với văn tự sự, có một dạng văn mà khi
các em đi mua thuốc bệnh, thuốc bổ đều có tờ “Hướng dẫn sử dụng” thuộc dạng
văn này, đó là văn thuyết minh. Vậy, yêu cầu số 1 của văn thuyết minh là tính
chính xác. Bây giờ, thầy mời cả lớp đi tìm hiểu cách làm của dạng văn này.
+ Dạy bài “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão (Ngữ văn 10), người dạy có thể
dẫn vào bài học bằng cách sau: Đất nước ta đã trải qua mấy nghìn thu chiến đấu
và đổi mới, nay đã được bình yên, nhân dân ấm no, bờ cõi vững vàng. Có được
như thế là nhờ công lao to lớn của người đời trước. Trong đó, tiêu biểu là Phạm
Ngũ Lão – một danh tướng đời Trần. Mà “Tỏ lòng” là một trong hai bài thơ còn
lại của vị danh tướng này đã nêu bật “hào khí Đông A” mạnh mẽ của thời đại
ấy… Để hiểu bài thơ “Tỏ lòng”, thầy mời cả lớp đi vào tìm hiểu tiết học ngày hôm
nay.
+ Dạy bài Hồi trống Cổ Thành (Ngữ văn 10), người dạy có thể dẫn vào bài
học bằng cách sau sẽ tạo được hứng thú cho người học: Chắc trong lớp chúng ta
có em đã xem hoặc về bộ phim “Tam quốc diễn nghĩa” trên các phương tiện thông
tin đại chúng. Nhưng các em có biết bộ phim này đã được chuyển thể từ bộ tiểu
thuyết chương hồi cùng tên của nhà văn La Quán Trung. Và hôm nay, chúng ta sẽ
đi tìm hiểu một hồi tiêu biểu trong 120 hồi của bộ tiểu thuyết này, đó là hồi thứ 28
có một nhân vật xuất hiện trong thành ngữ sau: “nóng như Trương Phi, đa nghi
như Tào Tháo”. Mời các em cùng mở sách giáo khoa trang 74.
+ Dạy bài “Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân” (Ngữ văn 11), người
dạy có thể dẫn vào bài bằng lời dẫn sau để tạo hứng thú cho người học: Mỗi người
Việt Nam đã, đang và sẽ mãi mãi sử dụng kho tài sản quý báu của cha ông ta ngàn
đời truyền lại. Khác với những loại tài sản khác, loại tài sản này, chúng ta càng sử
dụng càng làm cho nó phong phú và giàu có thêm. Đó là ngôn ngữ của dân tộc.
Mỗi lời nói của chúng ta hằng ngày cũng chính là biểu hiện của việc sử dụng tài
sản chung đó vào đời sống cá nhân của mỗi con người. Vậy, ngôn ngữ chung và
lời nói cá nhân có mối quan hệ như thế nào? Để giải đáp thắc mắc trên, thầy mời
cả lớp cùng đi vào tìm hiểu bài học ngày hôm nay.

tư duy, nghĩa là người dạy đã tạo được một “thử thách” nhất định cho người học.
Như vậy, giải pháp này đòi hỏi giáo viên phải nghiên cứu kĩ bài học, tìm
hiểu kĩ những hoạt động liên quan đến bài học, sau đó lựa chọn ra một hoạt động
thú vị để đưa vào phần dẫn vào bài học nhằm tạo hứng thú, lôi cuốn học sinh vào
bài học. Tuy nhiên, ở giải pháp này, giáo viên chú ý những hoạt động gián tiếp để
đưa học sinh vào bài học phải tương đối ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu, đặc biệt là có
sự lôi cuốn, hấp dẫn, tạo được hứng thú cho số đông học sinh.
Đối tượng áp dụng cho giải pháp này là lớp học có học sinh khá và yêu thích
môn Ngữ văn. Đây là loại đối tượng không nhiều nhưng không phải không có
trong các lớp học. Nếu đã xác định được trong lớp học ấy có một số em yêu thích
môn Ngữ văn thì người dạy, bên cạnh dẫn vào bài học trực tiếp bằng lời dẫn của
mình, cũng nên kết hợp với dẫn vào bài học gián tiếp thông qua một số hoạt động,
để lôi cuốn những học sinh này tham gia vào nhằm tạo hứng thú, làm cho lớp học
trở nên sôi nổi, hào hứng.
- Qua thực tiễn áp dụng giải pháp này vào giảng dạy tại đơn vị mình (chủ
yếu là phát vấn nêu vấn đề và chơi trò chơi nhỏ), người viết xin đưa ra một số dẫn
chứng minh hoạ đã thực hiện có hiệu quả trong việc tạo hứng thú ở phần dẫn vào
bài học trong một số bài học như sau:
+ Cũng là dạy kiểu bài văn thuyết minh (Ngữ văn 10), người dạy, bên cạnh
dùng lời dẫn (như dẫn vào bài học trực tiếp), cần phát vấn sẽ tạo được sự hứng thú
cho người học. Chẳng hạn có thể đặt các câu hỏi sau: Văn tự sự có cần độ chính
xác cao không các em? (hỏi một học sinh). Các tờ “Hướng dẫn sử dụng” thuốc là
dạng văn thuyết minh; vậy, yêu cầu số 1 của văn thuyết minh là gì? Vì sao? (tính
chính xác vì “Hướng dẫn sử dụng” thuốc mà không chính xác thì sẽ gây ra hậu
quả khôn lường cho người sử dụng thuốc).
+ Cũng là dạy bài Hồi trống Cổ Thành (Ngữ văn 10), người dạy có thể dẫn
vào bài học bằng cách kết hợp lời dẫn (như dẫn vào bài học trực tiếp) với việc yêu
cầu học sinh điền tên của hai nhân vật vào dấu ba chấm trong câu thành ngữ “nóng
như…, đa nghi như…”. Học sinh nào trả lời đúng sẽ được khen ngợi hoặc được
Trang 5

em phải chú ý vào bài học ngày hôm nay.
+ Dạy bài “Từ ấy” của Tố Hữu (Ngữ văn 11), người dạy có thể sẽ tạo được
hứng thú cho người học bằng cách dẫn vào bài học như sau: Các em hãy tìm từ
đúng điền vào chỗ trống (…) trong đoạn thơ sau ở bài “Một nhành xuân” của Tố
Hữu:
Năm … của thế kỉ hai mươi
Tôi sinh ra. Nhưng chưa được làm người
Nước đã mất. Cha đã làm nô lệ.
Trang 6
Bước 1: Người dạy yêu cầu học sinh điền khuyết vào câu thơ mà không cần
cung cấp bốn phương án. Nếu học sinh trả lời là 1920 thì giáo viên tạo hứng thú
bằng câu kích thích sự tò mò: “Trúng mà chưa đúng”. Bởi lớp học có em yêu thích
Ngữ văn nên sẽ có nhiều ý kiến phát biểu, không có thời gian chết, nên mặc dù các
câu trả lời chưa đúng vẫn tạo được sự hưng phấn cho các em.
Bước 2: Nếu 2 – 3 học sinh trả lời vẫn chưa đúng, không khí lớp học có
phần trùng xuống thì giáo viên nên đưa ra bốn phương án để các em lựa chọn:
a. Hai mươi b. Hai mốt c. Hai ba d. Hai tư
Sau khi các em chọn đúng đáp án, giáo viên hướng học sinh vào tìm hiểu bài học:
Như vậy, Tố Hữu sinh năm 1920, là nhà thơ của trào lưu cách mạng. Đường thơ
của ông gắn liền với đường cách mạng của dân tộc và tạo nên một giọng thơ mang
phong cách rất Tố Hữu: phong cách trữ tình – chính trị sâu sắc, mà tiêu biểu cho
phong cách này là bài thơ “Từ ấy”.
+ Dạy bài “Người lái đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân (Ngữ văn 12), giáo
viên có thể cho học sinh chơi trò chơi trước khi hướng vào bài học nhằm tạo sự
hứng thú cho học sinh, cụ thể như sau: Đây là nhà văn nào? Gợi ý 1: Nhà văn ấy
có bút danh Tuấn Thừa Sắc. Gợi ý 2: Chữ Tuấn mà bỏ dấu sắc đi thì thành chữ
gì? (sau 2 gợi ý chắc chắn học sinh sẽ nhận ra đó là nhà văn Nguyễn Tuân).
Như vậy, ngay đến bút danh của mình Nguyễn Tuân cũng đã có sự chơi
chữ thật độc đáo. Điều này càng chứng tỏ Nguyễn Tuân là một nhà văn tài hoa –
uyên bác. Trong sáng tác của mình, ông thường nhìn thiên nhiên ở phương diện

hương cây”:
“Đã là hồn Trương Ba
Sao còn da hàng thịt?
Đứng khuất sau cánh gà
Ngậm cười ra nước mắt…”
Vậy, các em có biết những câu thơ trên nói đến tác phẩm kịch nào không? Tại sao
Nguyễn Vũ Tiềm lại “ngậm cười ra nước mắt” khi xem vở kịch “Hồn Trương Ba,
da hàng thịt”? (giáo viên lấy câu trả lời của học sinh – kể cả đúng hay sai – để nêu
vấn đề cho bài học). Để giải đáp cho thắc mắc trên, thầy mời cả lớp đi tìm hiểu
đoạn trích cảnh VII và đoạn kết của vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”. Mời
các em mở sách giáo khoa trang 142.
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
- Những lợi ích trực tiếp thu được do áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này
vào dạy học bộ môn Ngữ văn như sau:
+ Người dạy đã ý thức nhiều hơn về vai trò của phần dẫn vào bài học trong
mối quan hệ với toàn bộ bài dạy cho nên đã chú ý đầu tư nhiều hơn cho phần này
như tìm ra cách vào bài sinh động nhất, hấp dẫn nhất nhằm tạo hứng thú, lôi cuốn
học sinh trong mỗi bài dạy ngay từ phần dẫn vào bài.
+ Phần dẫn vào bài tạo được hứng thú, các em hăng hái phát biểu xây dựng
bài làm cho không khí lớp học trở nên sôi nổi, cho nên người dạy cũng cảm thấy
hứng khởi, hăng say cùng các em học sinh đi chiếm lĩnh tri thức suốt bài học.
+ Đa số học sinh có thái độ tích cực trong giờ học văn, nhiều học sinh có sự
tiến bộ về điểm số và một số học sinh có tình yêu văn học.
- Thống kê tỉ lệ 2 lớp 10 và 2 lớp 12 làm căn cứ đối sánh:
* Năm học 2012 – 2013 (Trước khi thực hiện các giải pháp của đề tài):
Lớp
Mức độ
10A10 10A13 12B7 12B11
Biết 55,4% 58,2% 50,7% 47,9%
Hiểu 32,5% 33,5% 33,2% 36,9%

- Người viết cũng xin đưa ra một số khuyến nghị để tăng khả năng áp dụng
các giải pháp của đề tài vào thực tiễn, cụ thể như sau:
+ Đối với loại bài học tiếng Việt, việc tạo hứng thú ở phần mở đầu là tương
đối khó nhưng không phải là không có cách. Người dạy nên soạn giảng xong xuôi,
sau đó mới chuẩn bị cho việc tạo hứng thú ở phần mở đầu bài học. Bởi lẽ, loại bài
học này chủ yếu là cung cấp kiến thức và áp dụng vào bài tập. Cho nên, soạn giảng
trước, người dạy sẽ thấy có những đơn vị kiến thức, có những bài tập kích thích
được sự tò mò của học sinh.
Trang 9
+ Đối với loại bài học làm văn, việc tạo hứng thú cho người học ở phần mở
đầu bài học càng khó khăn hơn vì nó thiên nhiều đến kĩ năng trình bày. Mỗi bài
học loại này phải được kết luận bằng một dàn bài chung công thức khô khan. Vì
thế, việc tạo hứng thú phải chú ý đến sự so sánh giữa các kiểu bài văn, so sánh
giữa các thao tác lập luận trong văn nghị luận.
+ Loại bài học đọc – hiểu văn bản chiếm số lượng lớn trong chương trình
học và cũng là loại bài trọng tâm để học sinh kiểm tra, thi cử. Vì vậy, việc tạo
hứng thú ngay ở phần dẫn vào bài học là rất cần thiết để học sinh dễ dàng nắm bài.
Và người dạy cũng nên dẫn vào bài học một cách linh hoạt theo nhiều cách khác
nhau để tạo hứng thú cho người học như dẫn dắt, kể chuyện, ngâm thơ, nghe nhạc,
xem phim, đố vui, chơi trò chơi, nêu vấn đề,…
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. SGK Ngữ văn 10, 11, 12 Cơ bản (tập 1 và 2), Phan Trọng Luận (Tổng Chủ
biên), Nhà xuất bản Giáo dục, 2008.
2. Từ điển tiếng Việt, nhóm tác giả Hoàng Phê, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2004.
3. Một số kỹ thuật mở đầu bài giảng hiệu quả môn Hoá học ở THPT theo quan
điểm sư phạm tương tác, Nguyễn Thị Hoàng Anh, đăng trên Tài liệu – Ebook
(http://doc.edu.vn/tai-lieu/khoa-luan-mot-so-ky-thuat-mo-dau-bai-giang-hieu-
qua-mon-hoa-hoc-o-thpt-theo-quan-diem-su-pham-tuong-tac-52066/).
4. Mở đầu bài giảng, Thái Xuân Sang, Trang thông tin điện tử trường chính trị
Nghệ An (http://truongchinhtrina.gov.vn/ArticleDetail.aspx?_Article_ID=269).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status