_______________________________________________________________________
_
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC CÁC BỘ MÔN VĂN HOÁ
_______________________________________________________________________
Lời nói đầu
Trong tự nhiên và xã hội các hoạt động đều mong muốn có sự phát triển.
Mỗi sự phát triển đều có động lực của nó; động lực có thể là tự nhiên, có thể
do con người tác động. Thế thì đâu là động lực cho mỗi sự phát triển?
Cây xanh muốn phát triển phải có giống tốt, được trồng ở vùng đất thích
ứng, đấy là điều kiện tự nhiên. Được con người chăm sóc tốt, đấy là điều
kiện xã hội (do con người tác động).
Ở một khía cạnh khác như: Rađio, Tivi, Máy vi tính, Điện thoại di động
ngoài tính tiện dụng người ta phải luôn luôn cải tiến cho đáp ứng với sự phát
triển của xã hội. Có đáp ứng mới tồn tại đó cũng là động lực để phát triển.
Trong giáo dục ở trường phổ thông hiện nay, đặc biệt là THCS đang
trong thời kỳ phổ cập, hoạt động để phát triển phải bảo đảm đủ về số lượng,
nâng cao về chất lượng. Nếu xét về quy luật chọn lọc tự nhiên thì chúng ta
không thể cầu toàn cả, đặc biệt là chất lượng giáo dục. Từ trước đến nay dân
gian hay dùng từ "học giỏi", "học dốt" (đúng ra là chậm hiểu) đấy là phản
ảnh cái thực tại, nhất là cái từ "học dốt" không ai muốn. Con người đâu có
phải là bộ bách khoa toàn thư, đâu có phải là thánh nhân mà người ta thường
đem cái chủ quan của mình áp đặt cho học trò. Nhưng xét về tác động của
con người thì có thể có cải thiện, vì chúng có mối quan hệ mật thiết, khăng
khít với nhau, cái nọ tác động đến cái kia, cái kia là động lực cho cái nọ.
Từ năm học 2006-2007 lại có cuộc vận động “Nói không với tiêu cực
trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục", cũng có nghĩa là điều xấu
sẽ bị loại bỏ, những điều tốt đẹp trong toàn bộ hệ thống và trong từng nhà
giáo sẽ được phát huy. Quyết tâm của Bộ trưởng đã truyền lửa cho toàn
ngành giáo dục, nhất là những thầy cô giáo, những nhà quản lý đã nặng
lòng với giáo dục. Chúng ta hãy cùng nhau đối mặt với thực tế, nhưng sự
thật đôi khi đau lòng bởi chúng ta quen sống “đẹp lòng nhau”, các bên đều
_
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC CÁC BỘ MÔN VĂN HOÁ
_______________________________________________________________________
PHẦN THỨ NHẤT
MỞ ĐẦU
I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1- Lý do khách quan:
Hoạt động dạy - học các bộ môn văn hóa là nhiệm vụ trọng tâm cơ bản
của nhà trường bởi lẽ:
a. Xét về mặt đặc thù:
Hoạt động dạy - học các bộ môn văn hóa thể hiện đầy đủ nhất nét đặc
trưng cơ bản của nhà trường, trong sự phân biệt sự khác nhau giữa nhà
trường với hệ thống tổ chức xã hội, cũng như sự phân biệt giữa các hoạt
động dạy – học với các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường (như hoạt
động ngoài giờ, lao động sản xuất, đoàn thể và hoạt động xã hội khác).
b. Xét về mặt thời gian:
Hoạt động dạy - học các bộ môn văn hóa chiếm tỷ lệ 82,1 % thời gian so
với số thời gian hoạt động trong nhà trường ( theo tiến sĩ Nguyễn Văn Lê ở
viện nghiên cứu giáo dục đã công bố cụ thể như sau: thời gian hoạt động dạy
- học các bộ môn văn hóa/ tuần: 82,1%; thời gian hoạt động các hình thức
giáo dục khác/ tuần: 17,9%.
c. Xét về chức năng nhiệm vụ:
Hoạt động dạy - học các bộ môn văn hóa nhằm cung cấp cho học sinh tri
thức khoa học cơ bản có hệ thống về tự nhiên, xã hội, tư duy và lối sống. Đó
chính là cơ sở nền tảng trọng yếu trong quá trình hình thành và phát triển
nhân cách cho người học. Hoạt động dạy - học các bộ môn văn hóa còn là cơ
sở khoa học để tiến hành cá hoạt động giáo dục khác trong nhà trường
THCS.
Với cách nêu trên chúng ta xét về mặt đăc thù về thời gian, chức năng
nhiệm vụ thì thấy rằng hoạt động dạy - học các bộ môn văn hóa là nhiệm vụ
nhưng theo tôi thì rất đáng trân trọng và bản thân cũng học được rất nhiều.
Chỉ có những người tâm huyết với sự nghiệp trồng người thì mới đầu tư
công sức thời gian cho những bài viết với mục đích chung là góp phần nâng
cao chất lượng dạy và học. Tôi cũng là một người không phải là ngoại lệ, và
ở đề tài này tôi cố gắng đem trí tuệ của mình góp phần nhỏ vào sự nghiệp
chung: sự nghiệp trồng người.
II/ MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
1- Mục đích của đề tài:
Đề tài này nhằm nêu được các giải pháp, góp phần hoàn thiện chức năng,
nhiệm vụ của quản lý, chỉ đạo hoạt động dạy - học các bộ môn văn hóa trong
nhà trường.
2- Yêu cầu của đề tài:
Tác giả: Nguyễn Văn Yên - Đơn vị: THCS Phong Khê TP Bắc Ninh
4
_______________________________________________________________________
_
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC CÁC BỘ MÔN VĂN HOÁ
_______________________________________________________________________
Trình bày được các kinh nghiệm quản lý, hoạt động dạy - học các bộ môn
văn hóa ở trường THCS Phong Khê trong những năm 2003-2008 trên hai
phương diện cơ bản: Quản lý cái gì? Quản lý cái đó bằng cách nào?
III/ KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ
ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT
1. Khách thể nghiên cứu:
- Về mặt lý luận: Thế giới khách quan là đối tượng của nghiên cứu khoa học
và thế giới khách quan vô cùng rộng, mỗi lĩnh vực khoa học chọn cho mình
một bộ phận, một phần nào đó để khám phá tìm tòi, đó chính là thao tác
khách thể nghiên cứu.
- Về mặt thực tế của đề tài: Thế giới khách quan là lĩnh vực quản lý, nhưng
ở đề tài này khám phá, tìm tòi về quản lý “Dạy và học các bộ môn văn hoá”,
b. Phân tích làm rõ bản chất, quy luật của đối tượng nghiên cứu.
c. Đề xuất giải pháp, ứng dụng cải tạo.
2. Phạm vi và thời gian thực hiện của đề tài
- Phạm vi nghiên cứu chủ yếu là lĩnh vực quản lý giáo dục.
- Về thời gian nghiên cứu từ năm học 1997-1998 đến năm học 2007-2008.
- Về không gian nghiên cứu hoạt động của trường THCS Phong Khê.
- Những mặt nghiên cứu chủ yếu hoạt động dạy và học nói chung, quản lý
dạy và học ở trường THCS Phong Khê nói riêng.
- Những chỉ số cần điều tra nghiên cứu và phát hiện của 10 năm học.
V- ĐÓNG GÓP MỚI VỀ MẶT KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI:
1. Nêu được cơ sở lý luận của hoạt động dạy và học.
2. Nhận xét đánh giá hoạt động dạy - học các bộ môn văn hóa trong giai
đoạn đề cập.
3. Nêu được những kinh nghiệm quản lý trong hoạt động dạy - học các bộ
môn văn hóa.
PHẦN THỨ HAI
NỘI DUNG ĐỀ TÀI
CHƯƠNG I
CƠ SỞ KHOA HỌC, CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
A. CƠ SỞ KHOA HỌC
(Xây dựng cơ sở lý thuyết, một số khái niệm liên quan đến kinh nghiệm
quản lý “Hoạt động dạy và học các bộ môn văn hoá”)
I/ KINH NGHIỆM LÀ GÌ?
Kinh nghiệm là những điều đúc kết được, rút ra từ quá trình thực hiện
nhiệm vụ, quản lý, chỉ đạo thực hiện mục tiêu giáo dục.
Tác giả: Nguyễn Văn Yên - Đơn vị: THCS Phong Khê TP Bắc Ninh
6
_______________________________________________________________________
_
diễn ra giữa thầy và trò nhằm cung cấp cho học sinh những tri thức khoa
học phát huy năng lực trí tuệ và xây dựng được thế giới quan, nhân sinh
quan đúng đắn trong sáng.
Hoạt động dạy - học thực chất là thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa
hai hoạt động: dạy của thầy, học của trò. Có nhiều nhà nghiên cứu khoa học
đã đưa ra khái niệm khác nhau. Song nói chung thì hoạt động dạy học là một
Tác giả: Nguyễn Văn Yên - Đơn vị: THCS Phong Khê TP Bắc Ninh
7
_______________________________________________________________________
_
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC CÁC BỘ MÔN VĂN HOÁ
_______________________________________________________________________
bộ phận của quá trình hình thành nhân cách toàn vẹn. Nó chính là hoạt động
của thầy và trò trong đó thầy giữ vai trò chủ đạo, trò giữ vai trò chủ động,
tích cực nhằm đạt được mục đích dạy học. Nói một cách khác đó là quá trình
qua lại giữa thầy giáo và học sinh, nhằm truyền thụ lĩnh hội kiến thức khoa
học, những kỹ năng, kỹ xảo thực hành và hoạt động nhận thức cho người
học. Trên cơ sở đó hình thành thế giới quan và phát triển năng lực xây dựng
phẩm chất, nhân cách cho người học theo mục đích giáo dục. Như vậy kết
quả trực tiếp cho người học là nâng cao trình độ học vấn và phương pháp
khoa học.
2- Qua trình dạy - học:
Là quá trình hoạt động xã hội gắn liền với con người, nhằm tới mục đích
nhất định. Trên cơ sở hoàn thành những nhiệm vụ, nội dung với những
phương pháp, phương tiện để đạt kết quả mong muốn.
Mục đích, nhiệm vụ, nội dung, thầy, trò, phương pháp, phương tiện, kết
quả là những nhân tố cấu trúc quá trình dạy học, tồn tại trong mối quan hệ
qua lại thống nhất, biện chứng với nhau.
Mặt khác môi trường kinh tế - xã hội, môi trường cách mạng khoa học
kỹ thuật và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá có tác
nhân tố này thực hiện hoạt động dạy – học đó chính là nhân tố giáo viên,
một nhân tố mang tính quyết định đến chất lượng và hiệu quả giảng dạy.
Quản lý giáo viên về mặt chuyên môn, năng lực sư phạm nó thể hiện ở
khả năng tổ chức, khả năng quản lý lớp, khả năng hướng dẫn hình thành
kiến thức, rèn kỹ năng: Kỹ năng tổ chức các hoạt động trong và ngoài giờ.
Khả năng giao tiếp của giáo viên đối với học sinh và phụ huynh học sinh.
Để quản lý thuận lợi và đạt kết quả thì người cán bộ quản lý cần xem xét
phân loại đội ngũ để quyết định phân công bố trí sắp xếp công việc phù hợp
với từng giáo viên, để mỗi thành viên trong nhà trường phát huy được hết
khả năng của họ.
Quản lý quá trình dạy – học chính là quản lý việc thực hiện nội dung
chương trình, kế hoạch giảng dạy.
Phải xác định chương trình dạy – học là mang tính pháp lệnh, mục tiêu là
chiến lược con người. Quản lý nội dung chương trình được thể hiện cụ thể
hóa bằng SGK. Muốn quản lý tốt vấn đề này người quản lý phải là người
nắm được những thay đổi của chương trình, thường xuyên kiểm tra, dự giờ,
khảo sát chất lượng sau giờ dự , thống kê kết quả định kỳ.
Quản lý kế hoạch giảng dạy chính là kế hoạch lên lớp của từng giáo viên
nhằm thực hiện đầy đủ chương trình và nội dung thể hiện qua kiến thức
SGK, tùy trình độ khả năng học tập của từng khối lớp mà có kế hoạch giảng
dạy thích ứng, phù hợp.
Quản lý xây dựng kế hoạch chuyên môn, kế hoạch giảng dạy của tổ, cá
nhân. Xây dựng thời khóa biểu bảo đảm tính khoa học, hợp lý, thuận lợi,
điều phối giáo viên vào các giờ trống vắng, chỉ đạo đổi mới phương pháp
dạy – học, nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ sư phạm (hay trình độ tay
nghề) cho đội ngũ giáo viên tham gia giảng dạy.
Tác giả: Nguyễn Văn Yên - Đơn vị: THCS Phong Khê TP Bắc Ninh
9
_______________________________________________________________________
_
Là giờ học tổ chức cho học sinh thực hiện một hệ thống các bài tập thực
hành từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó theo nội dung một bài hay một
phần, một chương, mục đích của nó là hình thành cho học sinh một hệ thống
kỹ năng, kỹ xảo ứng dụng kiến thức vào cuộc sống.
4- Bài kiểm tra:
Tác giả: Nguyễn Văn Yên - Đơn vị: THCS Phong Khê TP Bắc Ninh
10
_______________________________________________________________________
_
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC CÁC BỘ MÔN VĂN HOÁ
_______________________________________________________________________
Là dạng bài có mục đích cơ bản là xem xét và đánh giá kết quả học tập
của học sinh, khả năng nắm bài học để tạo ra thông tin giúp người dạy điều
chỉnh cách dạy và cách học. Kiểm tra dưới hình thức: viết, trắc nghiệm,
miệng, thực hành. Kiểm tra có thể được thực hiện như một giờ học riêng.
5- Bài tổng hợp:
Là giờ học thực hiện cùng một lúc tất cả các chức năng của các loại bài
học trên. Bài tổng hợp thường phối hợp tất cả các bước: kiểm tra, giảng kiến
thức mới, ôn tập, luyện tập, thực hành Bài tổng hợp yêu cầu phải chuẩn bị
giáo án công phu hơn với đầy đủ các bước, các phương pháp đa dạng bảo
đảm mục tiêu các bài học trên.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC
Ở TRƯỜNG THCS PHONG KHÊ – THÀNH PHỐ BẮC NINH GIAI
ĐOẠN 1997-2003
Ở chương I, tuy tên chương là “XÂY DỰNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT”, nhưng
bản chất đã là kinh nghiệm quản lý “HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC CÁC BỘ MÔN
VĂN HÓA” rồi, bởi lẽ từ lý thuyết và thực tiễn đã được tìm tòi khám phá và
rút ra quy luật như đã trình bày. Sang chương II chủ yếu là phân tích làm rõ
bản chất, quy luật bằng kết quả cụ thể của đối tượng nghiên cứu. Ngoài ra
Tuy nhiên ngay trong quá trình tiến hành chuẩn hoá đội ngũ giáo viên
thời gian qua cũng bị tiêu cực hoá và bị bệnh thành tích tấn công. Chuẩn
hoá gì mà cuốn sách giáo khoa mới in ra đọc không hiểu được? Vì vậy Bộ
giáo dục phải in hướng dẫn cho giáo viên, rồi tập huấn lên, tập huấn
xuống. Chuẩn hoá không được sẽ kéo theo mọi cái đều không thực. Học
để cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ, phục vụ tốt hơn cho công việc là
cần thiết. Tuy nhiên có nhiều người học lên cao không vì mục đích đó mà
chỉ để có một cái bằng cấp gì đấy, giải quyết khâu oai là chính. Những
người này càng học cao chuyên môn lại càng kém đi vì họ đâu có thời
gian rèn nghề nữa. Về phong trào nâng chuẩn hiện nay ở một số nơi, tôi
cho rằng nó có một gốc rễ từ nền học vấn hư văn như trên đã đề cập, xã
hội công nghiệp đòi hỏi thực học, thực nghiệp” (trích báo Giáo dục và
thời đại số 108, trang 9, tháng 9/2006)
Qua trên cho ta thấy muốn thực học, thực nghiệp con đường tự học hiện
nay là tốt nhất, là cốt lõi để nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề. Ngay
việc dạy cho học sinh ta cũng phải dạy biết cách tự học. UNESCO đã
nói:"Học để học cách học - Học để biết - Học để sáng tạo" có nghĩa ngoài
học để biết ra học sinh phải biết cách học (tức tự học), và cũng từ biết cách
học sẽ biết sáng tạo.
2. Thống kê chất lượng:
Năm
học
Tổng số Trình độ ĐT Trình độ tay nghề
CBG
V
GV Chuẩn
Chưa
chuẩn
GV dạy giỏi
Khá TB
nay là muốn có sự vươn lên mạnh mẽ thì chất lượng đội ngũ phải có giáo
viên giỏi thực sự để đóng góp vào nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
- Một điều quan trọng là đội ngũ giáo viên Phong Khê có tinh thần đoàn kết
giúp đỡ lẫn nhau cả trong công tác và cuộc sống.
Tuy nhiên đội ngũ còn bộc lộ những tồn tại sau:
- Tổ chức sư phạm của một số giáo viên còn hạn chế, đã được góp ý, bồi
dưỡng nhưng chuyển biến chậm ( ở đây còn là “tư chất” như trên đã đề
cập).
- Còn hiện tượng ra vào lớp chưa đúng giờ, chấm trả bài chưa đúng quy
định, phối hợp giữa các phương pháp thiếu linh hoạt, còn cứng nhắc.
- Hoạt động của tổ chuyên môn đôi lúc còn dè dặt, nể nang, sợ mất lòng
Tóm lại: Với những ưu điểm trên nhà trường không những động viên
đánh giá theo từng năm, mà còn ghi vào “sử sách” của giáo dục xã, ghi vào
lòng dân và để thế hệ sau noi theo. Những tồn tại thì được uốn nắn kịp thời,
trên tinh thần xây dựng. Trong quá trình sử dụng đội ngũ áp dụng tối đa như
phần xây dựng lý thuyết với phương châm: “Dụng nhân như dụng mộc”
II- CHẤT LƯỢNG HỌC SINH :
Tác giả: Nguyễn Văn Yên - Đơn vị: THCS Phong Khê TP Bắc Ninh
13
_______________________________________________________________________
_
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC CÁC BỘ MÔN VĂN HOÁ
_______________________________________________________________________
1. Thống kê chất lượng:
+ Đại trà:
Năm
học
Số
lớp
Sĩ
15 61
0
11,2 45,2 42,0 1,0
118/118=100%
87 28
+ Mũi nhọn:
Năm học Giải huyện Giải tỉnh Xếp thứ Ghi chú
1997-1998
10 0 6
1998-1999
10 2 12
1999-2000
13 3 8
2000-2001
10 1 7/19
2001-2002
4 1 10/19
2002-2003
20 0 4/19
2. Nhận xét:
Qua biểu thống kê trên cho ta thấy học sinh giỏi tăng dần từ 0% đến
11,2%, học sinh yếu giảm dần từ 5,7% xuống còn 1,0, mũi nhọn thứ hạng
cao ở năm học 2002-2003 nhưng đặc biệt ở Phong Khê luôn vượt trội về
môn tự nhiên (đặc biệt về Toán, Lý) Nguyên nhân: bước đầu trong quá trình
áp dụng quản lý "Đổi mới hoạt động dạy - học " mà ở chương I đã trình
bày. Còn một khía cạnh nữa là xu hướng phát triển của xã hội, nhưng Phong
Khê rất “rè dặt” nhất là không vì thành tích mà còn day dứt với nó mà ở
phần sau sẽ trình bày.
CHƯƠNG III
KINH NGHIỆM QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC CÁC BỘ
dung chương trình của tất cả các môn học ở từng khối lớp trong năm học để
chỉ đạo, điều hành, xử lý việc thực hiện đúng chương trình.
Nội dung chương trình được cụ thể hóa bằng SGK, giáo viên thực hiện
chương trình phải đi liền với SGK nên thường gọi chung là nội dung
chương trình. Nhưng trong thực tế hàng năm thường được điều chỉnh
hướng dẫn nên người quản lý phải nắm bắt được để chỉ đạo điều hành. Sự
điều chỉnh này thông qua các văn bản của ngành để thống nhất trong cả
nước hoặc từng vùng ( do Bộ GD&ĐT quy định) cho phù hợp. Đó là lý do
thứ hai để quản lý chương trình.
II- NHỮNG BIỆN PHÁP, GIẢI PHÁP, KINH NGHIỆM THỰC HIỆN
NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH:
Tác giả: Nguyễn Văn Yên - Đơn vị: THCS Phong Khê TP Bắc Ninh
15
_______________________________________________________________________
_
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC CÁC BỘ MÔN VĂN HOÁ
_______________________________________________________________________
- Giúp tổ trưởng chuyên môn, giáo viên nắm chắc nội dung chương trình và
triển khai những điểm mới bổ sung, những điểm mới thay đổi.
- Nắm vững nguyên tắc cấu tạo nội dung chương trình từng môn, từng lớp
học.
- Giúp giáo viên nắm vững thời gian học từng bài, từng loại bài.
- Nắm vững cách thức đánh giá chất lượng học tập của từng học sinh, số
điểm quy định cho từng môn.
- Trên cơ sở tham mưu của tổ trưởng chuyên môn, nhà trường phân công
giáo dục cho giáo viên, đồng thời tạo điều kiện kỹ thuật, vật chất, phương
tiện giúp giáo viên thực thi tốt nhiệm vụ được phân công.
- Quản lý thời khóa biểu ( trình bày rõ ở mục 2).
- Quản lý chương trình: hướng dẫn giáo viên xây dựng kế hoạch giảng dạy
của cá nhân
xuất ( ốm, đi họp ) có thể có giáo viên khác dạy thay.
- Trong năm học có những ngày nghỉ như ngày lễ, ngày tết, ngày thi định kỳ
của Sở, Phòng nhà trường sẽ điều chỉnh để cân đối, để thống nhất tiến độ
thực hiện chương trình vào giữa kỳ hoặc gần kết thúc kỳ (chủ yếu là gần kết
thúc kỳ).
2. Bảo đảm tính vệ sinh học đường:
- Về các tiết thể dục: Mùa hè không xếp vào tiết cuối, mùa đông không xếp
vào tiết đầu, bởi lẽ mùa hè gần trưa nhiệt độ cao hơn, mùa đông tiết đầu
nhiệt độ thấp ảnh hưởng đến hiệu suất tiết học.
- Ưu tiên tối đa cho các môn phức tạp: vào tiết 2 và tiết 3.
- Hạn chế cách tiết đối với từng giáo viên. Nếu trường hợp "bất khả kháng"
thì hạn chế số ngày cách tiết, trong một ngày không cách nhiều tiết.
IV- QUẢN LÝ CÁC ĐIỀU KIỆN CHO DẠY VÀ HỌC
1- Quản lý hoạt động dạy của thầy:
Hoạt động dạy của thầy có vị trí ý nghĩa cực kỳ quan trọng vì giáo viên là
nhân tố là người trực tiếp biến kế hoạch mục tiêu quản lý của Hiệu trưởng
thành hiện thực. Vì vậy trong quản lý, mục này tập trung vào các nội dung
sau:
1.1: Quản lý giảng dạy theo quy định:
+ Chương trình dạy học, kế hoạch bộ môn, kế hoạch cá nhân.
+ Soạn bài, chuẩn bị thí nghiệm.
+ Kiểm tra đánh giá theo quy định .
+ Vào sổ điểm ghi học bạ đầy đủ.
+ Lên lớp đúng giờ, không tùy tiện bỏ giờ, bỏ buổi dạy.
+ Quản lý học sinh trong các hoạt động do nhà trường tổ chức
+ Tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn.
1.2: Quản lý giảng dạy theo thực tế:
+ Cần nhận thức cho đúng khả năng của học sinh, từ đó tạo điều kiện tốt
nhất và động viên học sinh phấn đấu học tập đạt kết quả cao từ nội lực của
chính mình.
Chuẩn
Chưa
chuẩn
GV dạy giỏi
Khá TB
Trường Huyện Tỉn
h
2003-2004
36 33 0 31 5 12 6 1 14
2004-2005
34 30 3 31 3 15 5 1 9
2005-2006
34 30 16 15 3 15 5 1 9
2006-2007
36 32 18 15 3 18 7 0 7
2007-2008
36 32 18 15 3 16 4 1 9
Ghi chú: Trình độ tay nghề: không tính quản lý, hành chính.
b- Đánh giá:
- Đội ngũ giáo viên THCS Phong Khê so với giai đoạn trước cơ bản giữ
vững phẩm chất đạo đức tốt, yên tâm công tác có tinh thần trách nhiệm.
- Công tác đào tạo nâng chuẩn, trên chuẩn được hoàn thành, bồi dưỡng được
quan tâm đúng mức. Số giáo viên giỏi các cấp đều tăng.
Tác giả: Nguyễn Văn Yên - Đơn vị: THCS Phong Khê TP Bắc Ninh
18
_______________________________________________________________________
_
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC CÁC BỘ MÔN VĂN HOÁ
_______________________________________________________________________
- Tinh thần đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau được củng cố ( giữ vững được truyền
%
99 22
2005-2006
16 626 20,3 40,7 37,9 1,1
131/131=100%
130 42
2006-2007
16 60
8
10,2 45,5 37,7 6,9
142/142=100%
120 41
2007-2008
16 598 6,0 42,2 43,2 8,6
144/144=100%
131 43
b- Mũi nhọn:
Năm học Giải huyện Giải tỉnh Xếp thứ Ghi chú
2003-2004
11 1 13/19
2004-2005
20 1 7/19
2005-2006
16 0 8/19
2006-2007
11 2 5/19
2007-2008
Ghi chú: Vào thời điểm viết năm 2007-2008 chưa có kết quả một số mục.
c- Đánh giá:
Nhìn vào biểu thống kê ta nhận thấy chất lượng học sinh đại trà được
sức" . Bản thân là người ham học hỏi, ham tìm kiếm, cộng thêm lý do trên
đã thôi thúc tôi học, viết, tích luỹ (không phải chỉ đề tài này). Còn ở đề tài
này tôi mong nó sẽ góp phần cho hoạt động dạy và học các bộ môn văn hoá
ở trường phổ thông ngày một tốt hơn.
Trong quá trình viết đề tài này có thuận lợi là: hoạt động dạy và học các
bộ môn văn hoá chiếm phần lớn hoạt động trong giáo dục, được nhiều người
đề cập đến. Hạn chế là: viết trong thời gian nhiều việc nên việc đúc kết khó
Tác giả: Nguyễn Văn Yên - Đơn vị: THCS Phong Khê TP Bắc Ninh
20
_______________________________________________________________________
_
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC CÁC BỘ MÔN VĂN HOÁ
_______________________________________________________________________
có thể sâu sắc và viết ra hết được (nhưng dù sao cũng đã ghi ngay được
những gì mình tâm đắc).
Nhưng tôi nghĩ: Một khi "thông điệp" đã được đưa vào ta có thể phát
triển nó, làm nó sinh động hơn, sống "khoẻ" hơn. Là người quản lý đã áp
dụng, tôi tiếp tục áp dụng nó trong hoạt động dạy và học các bộ môn văn
hoá, tất nhiên như ban đầu đã đề cập, không phải là "y trang" mà là phải "gọt
dũa" cho ngày càng tinh xảo.
II/ HIỆU QUẢ KINH TẾ – XÃ HỘI:
1- Các bài học kinh nghiệm:
Bài học thứ nhất: Muốn nâng cao chất lượng các bộ môn văn hóa ngoài
vấn đề như đã trình bày, còn một điều kiện rất quan trọng tuy chưa đề cập
đến đó là: Trước hết người cán bộ quản lý phải giỏi môn mình được đào tạo,
các môn khác nắm được cơ bản, hiểu rộng vấn đề xã hội, có vậy thì chỉ đạo
sẽ có tính thuyết phục cao, quản lý có hiệu quả.
Bài học thứ hai: Người giúp việc “xung quanh” phải có năng lực chuyên
môn, có tinh thần trách nhiệm, biết “đối nhân xử thế”.
Bài học thứ ba: Người quản lý phải biết dùng người, biết ứng xử, nhạy bén
cử và bệnh thành tích trong giáo dục” do ngành GD&ĐT phát động, đã được
đông đảo mọi người (cả trong và ngoài ngành) hưởng ứng. Nhưng đối với
người trong ngành ngoài hưởng ứng ra phải thực học, thực nghiệp thì chất
lượng văn hoá mới nâng lên được. Ngoài bệnh thành tích chúng ta cũng phải
kiên quyết chống “bệnh hình thức” trong giáo dục, vì đây cũng là cội rễ, là
căn nguyên gây ra sự phải “chấn hưng” của ngành giáo dục trong thời gian
qua.
III/ NHỮNG KHUYẾN NGHỊ:
Thường là phần cuối bài viết người ta có những kiến nghị với cấp trên.
Nhưng ở bài này, viết gần xong tôi vẫn thấy "thiếu thiếu" cái gì đấy! Đó là
chưa nói được với người trực tiếp giảng dạy bằng cái tình của thầy với trò,
cái nói được mới chỉ là: "quản lý, chỉ đạo". Để thay cho kiến nghị tôi muốn
nói (khuyến nghị) với các thầy vì thầy chính là "linh hồn" của "HOẠT ĐỘNG
DẠY - HỌC CÁC BỘ MÔN VĂN HOÁ", trong linh hồn đó có có một tấm lòng
“YÊU HỌC TRÒ” mà tôi muốn "gửi gắm" đến các thầy (tôi cũng là một thầy
giáo):
Là người thầy phải yêu học trò một cách nồng nàn tha thiết mà vẫn phải
nghiêm nghị, bình hoà: Dù đó là khuôn mặt xinh xắn ngây thơ trong sáng tựa
thiên thần hay đó là một bộ mặt ngu si đến thảm hại. Dù đó là một đứa trẻ
diêm dúa trong bộ quần áo đắt tiền, thường có người nhà chiều chuộng, đưa
đón hay đó chỉ là đứa nhỏ xanh xao rách rưới, đôi mắt vương đầy mặc cảm.
Dù đó là nụ cười nở tươi trên nét mặt sung sướng vì làm tròn bổn phận hay
giọt nước mắt ngập ngừng vì chót chẳng thuộc bài, chẳng làm bài
Phải yêu học trò khi vui vẻ hay buồn bã, khoẻ mạnh hay yếu mệt, tiền bạc
dư dả hay khó khăn trong tài chính vì phải lo quá nhiều việc. Phải yêu học
trò lúc vinh hay nhục, lúc thấy ánh mắt tri ân hay chỉ nhận lại cách đối xử
bạc bẽo vô tình.
Tác giả: Nguyễn Văn Yên - Đơn vị: THCS Phong Khê TP Bắc Ninh
22
_______________________________________________________________________
4 II/ Mục đích, yêu cầu của đề tài. 4
5 III/ Khách thể, đối tượng, phương pháp nghiên cứu và đối
tượng khảo sát.
5
6 IV/ Nhiệm vụ, phạm vi và thời gian thực hiện của đề tài 5
7 V/ Đóng góp mới về mặt khoa học của đề tài 6
8 Phần thứ hai - Nội dung đề tài 6
9 Chương I – Cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn của đề tài 6
10 A. Cơ sở khoa học 6
11 I/ Kinh nghiệm là gì? 6
12 II/ Quản lý và quản lý giáo dục là gì? 7
13 III/ Khái niệm về hoạt động dạy- học 7
Tác giả: Nguyễn Văn Yên - Đơn vị: THCS Phong Khê TP Bắc Ninh
24
_______________________________________________________________________
_
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC CÁC BỘ MÔN VĂN HOÁ
_______________________________________________________________________
14 B. Cơ sở thực tiễn 9
15 I/ Các bộ môn văn hoá cung cấp gì 9
16 II/ Đặc điểm các loại bài học 10
17 Chương II – Thực trạng dạy và học ở trường THCS Phong Khê
thành phố Bắc Ninh giai đoạn 1997-2003
11
18 I/ Chất lượng đội ngũ 11
19 II/ Chất lượng học sinh 13
20 Chương III- Kinh nghiệm quản lý hoạt động dạy - học các bộ
môn văn hoá
14
21 I/ Quản lý nội dung, chương trình 14