Đổi mới tổ chức quản lý dạy và học - Pdf 17

ĐE TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HOC
ĐỔI MỚI TỎ CHƯC QUAN LÝ DẠY VÀ HOC Ở KHOA XÃ HỘI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM THAI NGUYÊN (2004 -2005)
TAC GIẢ: TRẦN VĂN TAC
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Đảng và Nhà nước ta đã xác định nhiệm vụ nặng nề và vinh quang
của ngành giáo dục: “Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu,
là một trong những động cơ quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp
hoá - hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người.
Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân trong đó nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt có vai trò quan trọng” (Chỉ thị 40
của Ban Bí thư- về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo
và cán bộ quản lý giáo dục). Để đào tạo nguồn nhân lực mới cho đất nước:
vừa giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, vừa có đạo đức tốt, vừa trung thành
với Tổ quốc thì ngành giáo dục nói chung, trường sư phạm nói riêng có
một vị trí then chốt. Nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao cho ngành sư
phạm là đổi mới chương trình và giáo trình, đặc biệt đổi mới phương pháp
dạy học. Do đó, đổi mới phương pháp dạy và học ở trường sư phạm là một
nhiệm vụ cấp bách hàng đầu, đáp ứng đòi hỏi của thực tế giáo dục ở địa
phương và xã hội. Chỉ thị 15 của Bộ giáo dục và đào tạo đã nêu: “ Đổi
mới phương pháp dạy và học trong trường sư phạm nhằm tích cực hoá
hoạt động học tập, phát huy tính chủ động, sáng tạo và năng lực tự học, tự
nghiên cứu của học sinh sinh viên. Nhà giáo giữ vai trò chủ động trong
việc tổ chức điều khiển, định hướng quá trình dạy học và người học giữ
vai trò chủ động trong quá trình học tập và tham gia nghiên cứu khoa
học… Đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập là nhiệm quan trọng
3
của từng trường (khoa) sư phạm, trong đó đi đầu là các giảng viên các bộ
môn phương pháp dạy học”. Do vậy, ngay trong kế hoạch hoạt động của
nhà trường, Hiệu trưởng trường CĐSP Thái Nguyên đã xác định đổi mới

3.1. Xác định cơ sở lý luận và pháp lý của công tác đổi mới phương
pháp dạy và học văn ở khoa Xã hội, trường CĐSP Thái
Nguyên.
3.2. Đánh giá thực trạng dạy - học và công tác quản lý dạy và học
văn ở khoa Xã hội, trường CĐSP Thái Nguyên.
3.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý dạy và học văn ở khoa Xã
hội, trường CĐSP Thái Nguyên.
4. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là công tác quản lý quá trình dạy và học văn
ở khoa Xã hội - Trường CĐSP Thái Nguyên.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận.
5.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn (phỏng vấn, điều tra,
khảo sát thực nghiệm và tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo
dục).
5.3. Nhóm phương pháp hỗ trợ (Thống kê, bảng biểu, sơ đồ).
5
B. PHẦN NỘI DUNG
Chương 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ QUÁ
TRÌNH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC VĂN Ở
KHOA XÃ HỘI, TRƯỜNG CĐSP THÁI NGUYÊN.
1.1.Cơ sở lý luận.
1.1.1.Quản lý và bản chất của quản lý giáo dục
1.1.1.1. Quan niệm về quản lý:
- Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người
quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt như
chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… Bằng một hệ thống luật lệ, các chính
sách, các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự
phát triển của đối tượng.

có mối liên hệ ngược.
- Quản lý bao giờ cũng có khả năng thích nghi.
- Quản lý vừa là khoa học, vừa là một nghề, vừa là một nghệ thuật.
- Quản lý gắn liền với quyền lợi, lợi ích và danh tiếng.
• Bản chất của quản lý giáo dục:
“Quản lý thực chất là quản lý con người. Con người quyết định tất cả.
Nguyên nhân của mọi sự thành bại đều có nguồn gốc sâu xa từ công tác
7
cán bộ và giải quyết các mối quan hệ giữa những con người với nhau.
Thực chất của quản lý con người là quá trình tổ chức quản lý (điều hành)-
lãnh đạo.
Quản lý gắn liền với thông tin, thông tin là nguyên liệu của quản lý.
Thực chất quản lý là quá trình thu nhập, xử lý, truyền đạt và lưu giữ thông
tin, nên chất lượng và hiệu quả của thông tin quyết định chất lượng hiệu
quả quản lý”. (Sách đã dẫn, trang 5).
1.1.2. Kết quả nghiên cứu tâm lý học sinh sinh viên.
Tâm lý học hiện đại đã đi sâu vào nghiên cứu cấu trúc tâm lý học sinh
viên, từ đó tìm ra quy luật hình thành nhân cách cũng như tâm lý, đặt cơ
sở cho giáo dục đại học. Tâm lý học hiện đại đã tìm ra chỉ số về cấu trúc
chức năng sinh lý của sinh viên (đạt 9/10 chiều cao và 2/3 trọng lượng của
cơ thể trưởng thành; đặc biệt là 2/3 kiến thức tích luỹ được ở thời gian
này). Về vấn đề này PGS. TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã chỉ ra: “Trong thời
kỳ này, sự phát triển trí tuệ được đặc trưng bởi sự nâng cao năng lực trí
tuệ, biểu hiện rõ nhất trong việc tư duy sâu sắc và rộng mở, có năng lực
giải quyết những nhiệm vụ trí tuệ, ngày một khó khăn hơn, cũng như tiến
bộ rõ rệt trong lập luận lô gíc, trong việc lĩnh hội tri thức, trí tưởng tượng,
sự chú ý và ghi nhớ ở lứa tuổi này đã phát triển khả năng hình thành ý
tưởng trừu tượng, khả năng phán đoán, nhu cầu hiểu biết và học tập. Một
trong những đặc trưng cơ bản của sự phát triển trí tuệ của thời kỳ chuyển
tiếp là tính nhạy bén cao độ… Những sự phát triển nói trên cùng óc quan

phải hiểu và thực hiện tốt bản chất của vấn đề xã hội học tập. Học tập
không ngừng để đảm bảo sự tồn vinh của cá nhân mà còn góp phần thúc
đẩy sự tiến nhanh của xã hội. Trong xã hội văn minh, trí tuệ trở thành vốn
9
quý thúc đẩy xã hội phát triển và ngược lại sự kém cỏi trì trệ của trí tuệ
cũng là vật cản.
Trong định hướng đổi mới được thể hiện ở Luật giáo dục Điều 24-2 đã
ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác,
chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học,
môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến
thức, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học
sinh”. Ngoài ra cần nắm được triết lý giáo dục của thế kỷ 21 mà UNESCO
đã xác định mục đích phát triển bền vững dựa trên 4 trụ cột của giáo dục:
+ Học để biết (cốt lõi là hiểu)
+ Học để làm (trên cơ sở hiểu)
+ Học để cùng sống với nhau (trên cơ sở hiểu nhau)
+ Học để làm người (trên cơ sở hiểu bản thân)
Như vậy định hướng cốt lõi của giáo dục hiện nay là phát huy tính tích
cực từ phía học sinh (Tuy nhiên quan niệm ở đây không có nghĩa xem nhẹ
vai trò của thầy giáo trong quá trình giáo dục).
Tích cực đựơc quan tâm vừa là thuộc tính vừa là phẩm chất của mỗi
con người trong xã hội,“Khác với động vật con người không chỉ tiêu thụ
những gì có sẵn trong thiên nhiên mà còn chủ động sản xuất ra những của
cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại phát triền của xã hội, sáng tạo ra nền
văn hoá ở mỗi thời đại, chủ động cải tiến môi trường trong tự nhiên, cải
tạo xã hội” (Trần Bá Hoành- Lý luận cơ bản về dạy và học tích cực-dự án
đổi mới phương pháp dạy học).Tích cực được quan niệm là bản chất của
con người, ngày nay loài người đang dần chuyển sang văn minh trí thức
thì tính tích cực được quan niệm sâu sắc hơn. Tích cực của con người
hướng vào hoạt động nhận thức và thể hiện thành lý tưởng. Tích cực được

Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ
tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng
thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật, có
sức khoẻ, là những người thừa kế xây dựng CNXH vừa “hồng” vừa
“chuyên” như lời căn dặn của Bác Hồ”.
Đặc biệt, trong kiểm điểm thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khoá
VIII một lần nữa Đảng ta lại khẳng định mục tiêu của giáo dục và đào tạo:
“Thực hiện giáo dục toàn diện, tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo
dục, nhất là trong các trường ĐH - CĐ; đặc biệt chú trọng giáo dục tư
tưởng - chính trị, đạo đức, lối sống, bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu
nước, yêu quê hương gia đình, lý tưởng XHCN, bản lĩnh chính trị, lòng
nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, lối sống văn hoá, tác phong công
nghiệp, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ, lập thân lập nghiệp, không cam
chịu nghèo hèn; đào tạo lớp người lao động năng động sáng tạo, có sức
khoẻ, có kiến thức, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, nhạy cảm với cái mới,
có ý thức vươn lên nắm bắt thành tựu mới về khoa học và công nghệ…
Tập trung chỉ đạo đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục
theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, sử dụng công nghệ thông tin tiếp cận
với trình độ tiên tiến của khu vực và quốc tế, gắn bó hơn với cuộc sống xã
hội, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của đất nước và địa phương”.
1.2.2. Luật giáo dục:
Mở đầu Luật giáo dục đã viết: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách
hàng đầu, là sự nghiệp của nhà nước và của toàn dân. Để phát triển sự
nghiệp giáo dục, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục nhằm
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ
12
quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”.
(Luật giáo dục. NXB chính trị quốc gia, Hà Nội- 1998)
“Điều 4. Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục:

cho học sinh nhất là sinh viên đại học. Phát triển mạnh phong trào tự học,
tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân nhất là thanh niên”.
- “Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục tư tưởng, đạo đức, lòng yêu
nước, chủ nghĩa Mác- Lê nin, đưa việc giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh
vào nhà trường phù hợp với lứa tuổi và từng bậc học. Coi trọng hơn nữa
các môn khoa học xã hội và nhân văn, nhất là tiếng Việt, lịch sử dân tộc,
địa lý và văn hoá Việt Nam. Soát xét lại nội dung SGK các môn khoa học
xã hội và nhân văn, tham khảo kinh nghiệm nước ngoài một cách có chọn
lọc, xây dựng các môn khoa học kinh tế, quản lý, luật pháp phù hợp với
điều kiện nước ta và quan điểm đường lối chính sách của Đảng và Nhà
nước”.
1.2.5. Nhiệm vụ năm học 2004 - 2005 của Trường Cao đẳng sư phạm
Thái Nguyên
Trong báo cáo phương hướng nhiệm vụ năm học 2004 – 2005 của
Trường CĐSP Thái Nguyên có đoạn viết: “Tiếp tục thực hiện đổi mới
chương trình, nội dung đào tạo, phù hợp với chương trình khung của Bộ
GD - ĐT ban hành. Đẩy mạnh việc đổi mới nội dung, phương pháp đào
tạo ở hệ THSP và hệ CĐSP theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hóa, liên
thông, phù hợp với địa phương, đất nước và hội nhập quốc tế. Nghiêm túc
thực hiện các yêu cầu về thực hành thực tập; kết hợp đào tạo với nghiên
14
cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, ứng dụng công nghệ thông tin
vào các hoạt động chuyên môn và quản lý nhà trường”.
Chương 2:
THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH
ĐỔI MỚI DẠY HỌC VĂN
Ở KHOA XÃ HỘI - TRƯỜNG CĐSP THÁI NGUYÊN
2.1. Một số thành tựu
- Khoa Xã hội trường CĐSP Thái Nguyên được tái lập năm 1998,
trong đó nòng cốt là tổ văn. Khoa Xã hội được giao nhiệm vụ đào tạo sinh

phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá kết quả học tập của sinh viên
cũng được đổi mới. Ngoài việc tổ chức thi bằng phương pháp tự luận,
khoa đã tổ chức thi vấn đáp và trắc nghiệm ở một số môn.
Tóm lại, trong 5 năm qua, hoạt động quản lý giảng dạy và học tập của
khoa Xã hội - Trường CĐSP Thái Nguyên đã đạt được một số thành tích
đáng kể như đã nêu.
2.2. Một số tồn tại trong công tác quản lý quá trình đổi mới phương
pháp dạy học văn ở khoa Xã hội - Trường CĐSP Thái Nguyên
- Như trên đã trình bày, nhà trường đã quan tâm đến chỉ đạo quá trình
đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các môn học, tuy nhiên nhà trường
mới dừng lại ở việc ra những chủ trương mà chưa xây dựng được một biện
16
pháp chỉ đạo cụ thể cho công tác này. Cùng với nhà trường, khoa trực tiếp
quản lý chuyên môn thường chạy theo “mùa vụ”. Các hoạt động hội họp
còn chiếm nhiều thời gian. Đội ngũ cán bộ quản lý của khoa chưa được
kiện toàn, thiếu đồng bộ (Chưa có Phó chủ nhiệm khoa).
- Vấn đề quản lý đổi mới phương pháp dạy học được đặt ra trong các
chương trình hoạt động của khoa và tổ chuyên môn, nhưng chưa có những
biện pháp hữu hiệu để quản lý. Nhà trường cũng như khoa chưa xây dựng
được cơ chế kiểm tra đánh giá một cách nghiêm túc quá trình thực hiện
đổi mới phương pháp dạy học.
- Trong đội ngũ giảng viên, ngoài một số người tâm huyết đã thực hiện
một cách có hiệu quả việc đổi mới phương pháp dạy học, còn không ít
giảng viên khi lên lớp giảng dạy còn nặng về thuyết trình (TT thông báo).
Thậm chí có giờ vẫn còn hiện tượng thầy đọc trò chép, có giờ còn dạy
chay không có đồ dùng dạy học. Do phương pháp giảng dạy chậm đổi mới
của thầy như vậy nên ngoài hậu quả là học sinh không yêu thích môn học,
còn nảy sinh hiện tượng “học gạo học tủ”, sử dụng tài liệu để “quay cóp”
và các hiện tượng gian lận khác. Một trong những nguyên nhân của tình
trạng trên do công tác quản lý của nhà trường nói chung và khoa tổ nói

18
Chương 3
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM THỰC HIỆN ĐỔI
MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VĂN Ở KHOA XÃ HỘI –
TRƯỜNG CĐSP THÁI NGUYÊN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.
3.1. Đổi mới quản lý chuyên môn
- Có một thực tế là nội dung, phương pháp giáo dục đã đổi mới
nhưng công tác quản lý chưa đổi mới kịp, vẫn theo kiểu “Bình cũ, rượu
mới”, do vậy trong công tác quản lý gặp nhiều khó khăn và nảy sinh
những bất cập.
- Đổi mới cơ chế quản lý chuyên môn của khoa bao giờ cũng gắn liền
với đổi mới cơ chế quản lý chuyên môn của nhà trường. Quá trình đổi mới
phải được tiến hành đồng bộ từ việc xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo
thực hiện, đến kiểm tra đánh giá.
3.1.1. Đổi mới quản lý chuyên môn ở phạm vi nhà trường:
- Ở trường CĐSP, Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm trước cấp
trên về mọi mặt công tác của nhà trường, trong đó có quá trình đổi mới
phương pháp giảng dạy của giảng viên và phương pháp học tập của sinh
viên. Vì vậy, vai trò, trách nhiệm quản lý nhà nước của Hiệu trưởng vô
cùng lớn. Những quyết định của Hiệu trưởng tác động đến tất cả các đối
tượng quản lý cả hiện tại cũng như tương lai. Tư tưởng, quan điểm đổi
mới phải được đưa vào Nghị quyết của Đảng bộ, chi bộ, kế hoạch của các
19
bộ phận, thường xuyên được đưa vào các hoạt động chuyên môn trong
năm học…
- Để thực hiện tốt chức năng quản lý của mình, Hiệu trưởng có thể
giao cho phòng chức năng , khoa chuyên môn, xây dựng kế hoạch, tổ chức
và chỉ đạo thực hiện, đồng thời có những quyết sách cần thiết để quyết
định quản lý được thực thi.
Tóm lại, ở phạm vi nhà trường, cần xây dựng cơ chế hoạt động hợp

Đảng, công đoàn , đoàn thanh niên . Có thể khen thưởng những cá nhân
làm tốt nhiệm vụ , phê bình những cá nhân thực hiện chưa tốt. Ngoài ra,
cần thành lập ban thanh tra chuyên môn kiểm tra thường kỳ hoặc đột xuất
(có báo trước vài giờ). Nội dung đánh giá giờ dạy nhằm kiểm tra quá trình
đổi mới phương pháp của từng giảng viên, đặc biệt quá trình tổ chức dạy
học và sử dụng đồ dùng dạy học (Đồ dùng dạy học như một phương tiện
chiếm lĩnh tri thức).
Các tiêu chí đánh giá theo chúng tôi cần chú trọng các yêu cầu cơ
bản sau đây:
+ Nội dung bài dạy (Phù hợp với chương trình khung, tính sáng tạo)
+ Phương pháp (Sử dụng PP tích cực thế nào? Có phát huy tính
năng động, sáng tạo của người học )
+ Sử dụng đồ dùng dạy học (Quy trình sử dụng đồ dùng dạy học)
+ Tổ chức tiết dạy (Giảng viên đã đa dạng hoá quá trình tổ chức lớp
dạy hay không?)
+ Kết quả tiết dạy ( Đánh giá qua nhận thức bài học của sinh viên,
có thể kiểm tra qua phỏng vấn, trắc nghiệm ngắn)
21
Ngoài biện pháp đánh giá từ phía giảng dạy của thầy như đã nói ở
trên, theo chúng tôi đánh giá quá trình đổi mới cần toàn diện và khách
quan. Thói quen của chúng ta là thường đánh giá kết quả giảng dạy của
thầy mới chỉ qua nhận xét của đồng nghiệp, mà thiếu thông tin phản hồi từ
phía đối tượng là sinh viên; do vậy trong chừng mực nhất định sự đánh giá
còn thiếu tính toàn diện. Tuy nhiên, những nhận xét của sinh viên cũng
cần được nghiên cứu một cách khách quan, để đảm bảo việc đánh giá
giảng viên được chính xác.
3.1.3. Đổi mới quản lý dạy học văn thông qua các hoạt động ngoại khoá
(Trong và ngoài nhà trường).
Vấn đề trăn trở hiện nay là vẫn còn sinh viên không yêu môn văn,
thậm chí còn có thái độ vô cảm với văn học. Biện pháp hoạt động ngoại

của UNICEF)
Cần làm cho sinh viên hiểu: Học là gì? (Kết quả điều tra sinh viên ở
các nước 1979 -1993).
1/ Học là chiếm lĩnh thông tin càng nhiều càng tốt, càng học nhiều
càng nắm được nhiều thông tin. Học là thu nhập tích luỹ, gia tăng số
lượng kiến thức.
2/ Học là ghi nhớ lặp lại và thuộc lòng. Học là quá trình tích luỹ thông
tin mà ta có thể tái hiện như là những mẩu kiến thức tách biệt nhau.
3/ Học là quá trình chiếm lĩnh, ứng dụng hay sử dụng kiến thức. Học là
nắm bắt sự kiện, kỹ năng hay quy trình có thể lưu trữ vẫn sử dụng khi cần.
Học là tích luỹ thông tin vào bộ nhớ để sử dụng mỗi khi có tình huống đòi
hỏi.
23
4/ Học là quá trình trừu tượng hoá, định hướng, định giá trị; Học là liên
kết cái đang học và cái đã biết và thực tiễn cuộc sống. Học là hiểu sự vật
với nhau, lý giải và kiểm nghiệm giá trị sự vật trong thực tiễn.
5/ Học là tạo ra sự biến đổi về nhận thức để hiểu biết thế giới bằng
cách lý giải và thông hiểu thực tiễn. Học là xác định mô hình thông tin và
liên kết mô hình đó với thông tin từ các tình huống và hoàn cảnh khác
nhau. Hệ quả của việc xác định các mối quan hệ mới chưa được. Thừa
nhận trước đây là người học thay đổi nhận thức của mình.
6/ Học là biến đổi con người, học là thông hiểu thế giới bằng nhiều con
đường khác nhau mà kết quả là làm biến đổi bản thân con người. Học là
quá trình tự tạo ra sự tiến hoá tổng hợp về tri thức, kỹ năng, thái độ và giá
trị của một con người. Đi vào chiều sâu, học có bản chất cốt lõi là tự học.
( Kết luận: 1,2,3: Cách tiếp cận hời hợt, nông cạn, thiên về định
lượng là trình độ sơ đẳng của quá trình nhận thức: ghi nhớ, nhắc lại.
4,5,6: Cách tiếp cận đi vào chiều sâu, bản chất thiên về định tính.
Đó là trình độ cao của quá trình nhận thức như: phân tích, phê phán, tự
học, tự nghiên cứu).

- Phương pháp đọc (đọc các chuyên luận, đọc giáo trình, đọc tác
phẩm văn chương, đọc truyện, đọc thơ, cần tích hợp lý luận văn học và
phương pháp học văn).
- Phương pháp đổi mới từng môn học (Văn, Tiếng, Tập làm văn…)
do các thầy giáo bộ môn trình bày các ý tưởng và học sinh tham gia thảo
luận: hỏi đáp.
25
- Chọn sinh viên có kết quả học tập tốt trình bày kinh nghiệm tự
học, những bí quyết để học tốt, hoặc nêu những khó khăn, thách thức cần
sự giải đáp của thầy .
* Về hình thức tổ chức:
Hai hình thức tổ chức: cách thứ nhất là giao đề tài đến từng giảng
viên và từng sinh viên, sau đó tổ chức hội nghị và lần lượt các báo cáo
được thông qua. Hình thức tổ chức này thường gây cảm giác nặng nề,
chưa đi sâu vào nguyện vọng và vướng mắc cần tháo gỡ từ phía sinh viên.
Cách thứ hai là tổ chức “khách mời” đến trao đổi các vấn đề học thuật nhẹ
nhàng, tự nhiên. “Khách mời” có thể là giảng viên và các sinh viên. Đối
với khách mời, ngoài việc trả lời câu hỏi của người dẫn chương trình theo
một kịch bản mềm dẻo, còn trả lời câu hỏi từ người tham dự. Những
phương án trả lời có sức thuyết phục được cộng đồng tán thưởng, phương
án trả lời kém sức thuyết phục được bổ sung kịp thời. Như vậy hội thảo
thực sự sôi động và hấp dẫn trước các ý kiến tranh luận trực tuyến. Việc
tranh luận ở hội thảo giúp sinh viên mạnh dạn tự tin trình bày ý kiến của
riêng mình, tránh áp đặt kiên cưỡng từ phía người dẫn chương trình. Đặc
biệt hội thảo góp phần tháo gỡ những vướng mắc thực sự từ người học,
những trăn trở thực sự từ người học và người dạy. Ở đây, mối tương tác
giữa ham muốn nguyện vọng của người học và sự nỗ lực đáp ứng của
người dạy. Hội thảo chuyên đề này đặt nền móng cho các hình thức học
tập simina ở đơn vị lớp và khối lớp của sinh viên. Qua hội thảo sinh viên
rèn luyện phương pháp trình bày, diễn thuyết trước đông người, khích lệ

khách quan. Đổi mới hình thức đánh giá và kiểm định chất lượng là sự tác
động khách quan, người học không sớm thì muộn phải thay đổi cách học.
27


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status