Đổi mới tổ chức, quản lý ở Công ty Vận tải đa phương thức theo mô hình Công ty mẹ - công ty con - Pdf 10

1 Luận văn
Đổi mới tổ chức, quản lý ở Công ty
Vận tải đa phương thức theo mô
hình Công ty mẹ - công ty con
2 Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân,
ngành giao thông vận tải nói chung và Công ty Vận tải đa phương thức nói
riêng đã đạt được những thành tựu bước đầu quan trọng; vừa đóng góp vào sự
tăng trưởng và phát triển chung của nền kinh tế quốc gia, vừa tiếp tục củng cố và
tăng cường tiềm lực cho ngành vận tải và cho chính Công ty Vận tải đa phương
thức. Thành công bước đầu này đã tạo điều kiện cần thiết để thực hiện chiến
lược nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiện đại hoá dây chuyền vận tải
đa phương thức. Đặc biệt là năng lực vận tải hàng siêu trường, siêu trọng và thiết
bị toàn bộ để từng bước hội nhập vào thị trường vận tải khu vực và quốc tế.
Để thực hiện mục tiêu nói trên song song với mục tiêu hiện đại hoá
năng lực vận tải, phương tiện xếp dỡ là việc áp dụng các công nghệ tiên tiến,
hiện đại vào dây chuyền vận tải đa phương thức (bao gồm cả công nghệ quản
lý), mở rộng và đa dạng hoá ngành nghề sản xuất, mở rộng phạm vi hoạt động
nhằm tạo thế chủ động để mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh
trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế.
Để giảm chi phí, hạ giá thành vận tải, các đơn vị vận tải phải lựa chọn

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Mục đích nghiên cứu nhằm luận chứng tính hiệu quả của việc tổ chức
quản lý theo mô hình Công ty mẹ - công ty con và đề xuất giải pháp nâng cao
hiệu quả hoạt động của mô hình Công ty mẹ – công ty con ở Công ty Vận tải
đa phương thức.
- Để phù hợp với mục đích, luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu những
vấn đề sau:
+ Khái quát những vấn đề cơ bản về tổ chức theo mô hình Công ty mẹ -
công ty con.
4 + Phân tích hiện trạng của tổ chức, quản lý ở Công ty Vận tải đa
phương thức theo mô hình Công ty mẹ - công ty con.
+ Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Công ty Vận tải
đa phương thức theo mô hình Công ty mẹ - công ty con.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu tổ chức quản lý của mô hình
Công ty mẹ - Công ty con.
- Phạm vi nghiên cứu: Dây chuyền vận tải đa phương thức bao gồm
nhiều ngành và lĩnh vực vận tải như vận tải đường biển, vận tải đường sắt,
vận tải đường hàng không, vận tải đường bộ, vận tải quá cảnh quốc tế, giao
nhận, xếp dỡ hàng hoá, kho bãi Tất cả những lĩnh vực đó được đặt trong dây
chuyền sản xuất thống nhất, đồng bộ. Do nhiều lần sắp xếp, sáp nhập nên số
liệu dùng để so sánh giũa các thời kỳ có nhiều khó khăn. Trong luận văn này
chỉ tập trung khảo sát số liệu từ năm 2003 đến năm 2006.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, vận dụng
quan điểm, đường lối chính sách của Đảng, nghị quyết của Đảng bộ Công ty
Vận tải đa phương thức, đồng thời có kế thừa chuyển đổi tổ chức theo mô

sản xuất cao độ, dẫn đến sự độc quyền của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Sự
phát triển dần lên của hiệp tác giản đơn, công trường thủ công và đại công
nghiệp cơ khí đã làm nảy sinh các hình thức tổ chức sản xuất xã hội ngày một
hoàn thiện, từ các xưởng thợ thủ công, đến công trường thủ công, từ công
xưởng công nghiệp đến xí nghiệp sản xuất lớn, đến các loại hình công ty với
nhiều hình thức khác nhau. Phát triển song song với quy mô sản xuất là các
hình thức (hay còn gọi là kiểu tổ chức) quản lý tương ứng và linh hoạt nhằm
tối đa hoá lợi nhuận. Các TNC với mô hình quản lý hiện đại là một sự tiến bộ
lịch sử vô cùng cao, và là một thủ đoạn bóc lột văn minh và tinh vi, khi người
công nhân cũng lại là người có cổ phần trong chính công ty mà họ làm việc.
Trong tác phẩm “Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa
tư bản”, V.I.Lênin cho rằng tự do cạnh tranh sẽ làm tập trung sản xuất, và sự
tập trung đó đạt đến mức độ nhất định sẽ dẫn đến độc quyền. V.I.Lênin nêu
các nét cơ bản của lịch sử độc quyền như sau:
7 "- Những năm 1860 - 1870 nấc thang phát triển cao nhất của tự do cạnh
tranh. Độc quyền chỉ là mầm mống bước đầu nhìn thấy.
- Sau khủng hoảng năm 1873, các cartel bắt đầu phát triển, và cũng chỉ là
những hiện tượng thoáng qua.
- Cuối thế kỷ XIX và khủng hoảng những năm1900 - 1903, cartel trở
thành một trong những cơ sở của toàn bộ đời sống kinh tế. Chủ nghĩa tư bản
trở thành chủ nghĩa đế quốc" [17, tr.142].
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, từ giữa phần ba
cuối thế kỷ XVIII đến đầu nửa sau thế kỷ XIX là thời kỳ của công xưởng cơ
khí công nghiệp. Từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các tổ chức độc quyền
bắt đầu ngự trị trên thế giới. V.I.Lênin cũng chỉ rõ chủ nghĩa đế quốc là chủ
nghĩa tư bản ở giai đoạn phát triển đã diễn ra sự thống trị của các độc quyền
và tư bản tài chính. Xuất khẩu tư bản có ý nghĩa to lớn, sự phân chia thế giới

diễn ra gay gắt. Theo đó xuất hiện một dạng liên kết phụ thuộc, như có thể lệ
thuộc về vốn, về khoa học công nghệ, liên kết theo dây chuyền sản xuất. Một
số doanh nghiệp phụ thuộc và chịu sự tác động về chiến lược phát triển kinh
doanh của mình bởi một doanh nghiệp khác. Doanh nghiệp đó có thể hoạt
động trên nhiều lĩnh vực hay một lĩnh vực nhưng dựa vào sự chi phối bằng sự
góp vốn, cổ phần của mình ở các doanh nghiệp khác để điều khiển hoạt động
của cả một tổ hợp kinh tế. Dựa trên sự liên kết chi phối về vốn, các tổ hợp
kinh tế này phát triển thành các tập đoàn kinh tế dựa trên mô hình Công ty mẹ
- công ty con. Mô hình này về bản chất, là sự liên kết chi phối về vốn, sự chi
phối này tạo nên sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong mô hình.
Có thể khái quát bản chất mô hình Công ty mẹ - công ty con như sau:
Công ty mẹ - công ty con là một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh được
thực hiện bởi sự liên kết của nhiều pháp nhân kinh doanh nhằm hợp nhất các
nguồn lực của một nhóm doanh nghiệp, đồng thời thực hiện sự phân công,
9 hợp tác về chiến lược dài hạn cũng như kế hoạch ngắn hạn trong sản xuất -
kinh doanh để tạo ra sức mạnh chung và nâng cao hiệu quả hoạt động. Sự
liên kết giữa Công ty mẹ và các Công ty con chủ yếu là liên kết về vốn, ngoài
ra có thể gắn kết về bản quyền, về công nghệ hoặc thị trường.
ở đây chỉ tập trung phân tích về liên kết vốn.
Hình thức liên kết là Công ty mẹ giữ vai trò trung tâm, đầu tư vốn của
Công ty mẹ vào các công ty con có thể là 100% vốn, đầu tư giữ cổ phần chi
phối, giữ cổ phần không chi phối. Các doanh nghiệp là Công ty con tham gia
liên kết theo kiểu mô hình này đều là những pháp nhân đầy đủ, liên kết với
Công ty con theo các mức độ khác nhau: chặt chẽ, nửa chặt chẽ, không chặt
chẽ, thông qua sự chi phối vốn, phân công và hợp tác của Công ty mẹ.
Công ty mẹ (Parent Company)
Công ty mẹ là một công ty nắm giữ cổ phần của một hoặc nhiều công ty

về quyền sở hữu và mối quan hệ giữa bên khống chế và bên bị khống chế.
Những công ty bị nắm cổ phiếu và bị kiểm soát hoạt động này gọi là Công ty
con. Công ty mẹ có ảnh hưởng rất lớn đến Công ty con, nhưng các Công ty
con cũng có quyền độc lập, tự chủ tương đối trong kinh doanh.
Công ty con là một pháp nhân độc lập, có tên và điều lệ riêng, có con
dấu và tài sản riêng, có thể độc lập tiến hành các hoạt động tố tụng, độc lập về
tài chính, tự chịu lỗ lãi, có quyền phát hành cổ phiếu, đồng thời có thể độc lập
đi vay nợ. Khi chấm dứt hoạt đông có thể phát mãi tài sản để thu hồi vốn. Nếu
một Công ty con được thành lập ở nước ngoài, khi đăng ký kinh doanh ở
nước sở tại nhất thiết phải chịu sự quản lý về pháp luật của nước sở tại mà
không còn được sự bảo hộ ngoại giao của Nhà nước sở tại của Công ty mẹ.
Công ty con là công ty do một công ty khác đầu tư toàn bộ vốn điều lệ
hoặc nắm giữ cổ phần chi phối, trong đó cổ phần chi phối là cổ phần đa số
hoặc ở mức mà theo quy định của pháp luật và điều lệ của công ty đó đủ chi
11 phối các quyết định quan trọng của công ty đó. Công ty con có tư cách pháp
nhân, có tài sản riêng, tên gọi, con dấu và là các pháp nhân độc lập của Công ty
mẹ. Công ty con được tổ chức theo loại hình mà doanh nghiệp đăng ký kinh
doanh.
Công ty con còn biểu hiện dưới các dạng: công ty liên kết, là công ty
trách nhiệm hữu hạn ở nước chủ nhà (nước có Công ty con của Công ty mẹ
TNC hoạt động), trong đó nhà đầu tư có sở hữu ít nhất là 10%, nhưng không
lớn hơn một nửa quyền biểu quyết của các cổ đông; công ty chi nhánh là công
ty trách nhiệm vô hạn có toàn bộ vốn ở nước chủ nhà.
1.1.2.2. Những đặc trưng và phân loại mô hình Công ty mẹ - công ty con
* Đặc trưng về mô hình Công ty mẹ - công ty con
- Về hình thức hình thành: Quá trình hình thành, liên kết thành lập có
thể theo tự nguyện hoặc bắt buộc theo cơ chế cạnh tranh.

Mô hình này đòi hỏi các Công ty mẹ có tiềm lực tài chính mạnh,
thường là các ngân hàng hoặc các công ty tài chính, hình thành thông qua con
đường nhất thể hoá kinh doanh bằng cách thôn tín, sát nhập. Qua việc nắm
giữ số lượng cổ phần chi phối, Công ty mẹ nắm giữ quyền lãnh đạo các doanh
nghiệp trong việc đưa ra các quyết sách về nhân lực, vật lực, tài lực biến
chúng thành các doanh nghiệp cấp dưới trực tiếp (Công ty con). Các Công ty
con này vẫn có tư cách pháp nhân, tiến hành các hoạt động kinh doanh độc
lập tương đối. Bằng cách tham dự cổ phần vào một số doanh nghiệp, Công ty
mẹ biến những doanh nghiệp có tư cách pháp nhân khác thành các doanh
nghiệp phụ thuộc nửa trực tiếp.
Thực hiện các mô hình liên kết bằng vốn là các Cheabol (Hàn quốc)
như Samsung, Daewoo; các tập đoàn của Nhật bản lấy ngân hàng làm trung
tâm như Bank of Tokyo Mitsubishi với 690,461 tỷ USD năm 1997, Sumitomo
bank 182,707 tỷ USD năm 1997.
13 - Mô hình liên kết theo dây chuyền sản xuất-kinh doanh
Mô hình này thường áp dụng đối với những ngành mà sản phẩm có cấu
tạo nhiều cấp, nhiều bộ phận. Công ty mẹ có tiềm năng lớn, thực hiện chức
năng trung tâm như xây dựng chức năng kinh doanh tiếp thị, phát triển sản
phẩm, huy động vốn và phân bổ vốn đầu tư, quan hệ đối ngoại, đào tạo nhân
lực, lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh. Công ty mẹ kiểm soát một mạng lưới các
Công ty con, công ty cháu theo dạng hình chóp (cấp 1, cấp 2, cấp 3), tạo
thành một quần thể doanh nghiệp khổng lồ. Ví dụ: Để sản xuất một chiếc máy
bay Boeing 747 phải có 4,5 triệu linh kiện do 1.500 xí nghiệp lớn, 10.000 xí
nghiệp nhỏ và vừa của 6 nước cùng tham gia chế tạo; Vào cuối những năm
1990 có tới 40 - 50% linh kiện và bán thành phẩm thông qua các Công ty con
của các công ty đa quốc gia sản xuất.
Sự phối hợp và kiểm soát hoạt động của Công ty mẹ đối với Công ty

Thái Bình Dương (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) đều chọn đa dạng hoá
hoạt động kinh doanh làm chiến lược phất triển và thường có ba mô hình sau:
- Liên kết theo chiều dọc: Các công ty lớn thường thâm nhập rộng rãi
vào các ngành khác, có liên quan như những bước trung gian của sản xuất và
lưu thông. Những năm gần đây, liên kết theo chiều dọc được mở rộng sang cả
những ngành sản xuất khác nhau, không có mối liên hệ trực tiếp với ngành
sản xuất chính của hảng để hình thành các công ty lớn kinh doanh trên quy
mô quốc tế.
- Liên kết theo chiều ngang: Là sự liên kết giữa các công ty lớn trong
một ngành nhất định để hình thành nên các công ty quốc tế khổng lồ.
- Liên kết Conglomerat: Tiến hành vào các ngành công nghiệp tăng
trưởng mới, không liên quan tới lĩnh vực kinh doanh ban đầu. Mối liên hệ
giữa Công ty mẹ và các chi nhánh (Công ty con) chủ yếu là tài chính; Điều
15 hành thông qua cơ cấu quyền lực và liên kết với các ngân hàng đầu tư, thương
mại, công ty bảo hiểm Cơ cấu của Conglomerat rất gọn nhẹ, linh hoạt và phi
tập trung hoá, chủ yếu là kiểm soát hoạt động của Công ty con thông qua hệ
thống tài chính và chỉ đạo hành chính nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động
kinh doanh của các công ty, chi nhánh qua sự dao động giá cả cổ phiếu của nó
trên thị trường chứng khoán.
1.1.2.3. Một số mô hình Công ty mẹ - công ty con
Cartel: là hình thức tập đoàn kinh tế theo một ngành chuyên môn hoá,
chỉ bao gồm các công ty sản xuất cùng một loại sản phẩm hoặc dịch vụ nhằm
mục đích hạn chế cạnh tranh thông qua các thoả thuận thống nhất về giá cả,
thị trường tiêu thụ, nguyên liệu, thống nhất các chuẩn mực về mẫu mã, kiểu
dáng, kích thước sản phẩm, dịch vụ Trong Cartel các doanh nghiệp thành
viên giữ tính độc lập về mặt pháp lý, còn tính độc lập về kinh tế được đảm
bảo hợp đồng kinh tế. Đây là hình thức tập đoàn có liên kết thấp nhất, xuất

điều đó, Concern phải có một ngân hàng có khả năng đảm bảo phần lớn tín
dụng cho toàn Concern, thường tổng tư bản không dưới 1 tỷ USD.
Conglomrate là tập đoàn đa ngành, các công ty thành viên không có
mối quan hệ về công nghệ sản xuất nhưng có mối liên hệ chặt chẽ về tài
chính. Đây là một tập đoàn tài chính, thông qua mua bán chứng khoán trên thị
trường để đầu tư vào để đầu tư vào những công ty có lợi nhuận cao nhất và
các ngành có hiệu quả cao nhất. Chính mối quan hệ này là cơ sở quan trọng
để hình thành một Conglomerate. Sự hoạt đông tích cực của thị trường chứng
khoán đã giúp cho Conglomerate “nuốt” dần các công ty có lãi suất cao và
làm cho cơ cấu của Conglomerate thay đổi nhanh chóng.
Trong đó Concern và Conglomerate là hai hình thức tổ chức phổ biến
của TNC hiện đại và có những đặc thù khác nhau như sau:
17 * Cơ sở hình thành:
Concern hình thành trên cơ sở công ty lớn của ngành thâu tóm, khống
chế và đi đến nuốt gọn các công ty nhỏ trong cùng một ngành sản xuất hoặc
các doanh nghiệp ở các ngành khác có kỹ thuật gần tương đồng với công ty
gốc bằng vốn của công ty.
Conglomerate nhằm vào các doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận cao, bất
kể ngành nghề nào trong nền kinh tế thông qua thị trường chứng khoán.
Đặc trưng hình thành của Concern là liên kết theo chiều ngang, có tính
chuyên ngành hoạt động trong lĩnh vực sản xuất vật chất. Đặc trưng hình
thành của Conglomerate là liên kết theo chiều dọc, có tính đa dạng và hỗn
hợp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ.
* Cơ cấu điều hành và cơ chế hoạt động
Kết cấu của Concern luôn có một công ty gốc làm trụ cột, cơ cấu tổ
chức của nó được thiết lập tập trung thẳng đứng theo tầng, bậc ma trận.
Thông tin điều hành truyền từ trung tâm xuống các chi nhánh đều qua khâu

xuất. Concern chỉ thu hút các công ty thuộc các ngành dịch vụ ở mức độ cần
thiết cho hoạt động bình thường của tập đoàn. Khối lượng lợi nhuận chủ yếu
mà các Concern thu được là từ lĩnh vực sản xuất.
1.1.3. Cơ chế hoạt động của mô hình Công ty mẹ - công ty con
1.1.3.1. Cấu trúc của mô hình Công ty mẹ - công ty con
Sơ đồ 1.1: Cấu trúc của mô hình Công ty mẹ - Công ty con
CÔNG TY Mẹ

A 2

B 2

C 2

D 2

B31

B32

B33

D31


những tập đoàn kinh doanh với qui mô và năng lực lớn, vượt ra ngoài phạm vi
một ngành, một lĩnh vực sản xuất kinh doanh như Hyundai, IBM
1.1.3.2. Cơ chế hoạt động của mô hình Công ty mẹ - công ty con
E 4

20 Cơ cấu tổ chức quản lý của mô hình Công ty mẹ - Công ty con gồm có
hội đồng quản trị (HĐQT), Ban kiểm soát, Bộ máy điều hành và các đơn vị
thành viên.
Hội đồng quản trị: là cơ quan quản lý cấp cao nhất đối với toàn bộ mô
hình (sau đây được gọi là tập đoàn kinh tế). HĐQT bao gồm các chủ sở hữu
hoặc đại diện chủ sở hữu. HĐQT chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ sở
hữu về việc sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn, thực thi các nhiệm vụ được
giao. HĐQT quyết định các vấn đề lớn và quan trọng như: chiến lược phát
triển, phương án sản xuất kinh doanh, điều hoà quản lý vốn, lựa chọn và quyết
định tổng giám đốc, giám đốc các đơn vị thành viên. Thành viên HĐQT có
thể được cử làm chủ tịch HĐQT công ty cổ phần con hoặc cháu.
Ban kiểm soát: Trưởng ban kiểm soát có thể là thành viên HĐQT hoặc
không phải thành viên HĐQT. Ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát
hoạt động của tập đoàn và quá trình điều hành của bộ máy điều hành trong
việc chấp hành các quyết định, nghị quyết của HĐQT.
Bộ máy điều hành: Gồm Tổng giám đốc (TGĐ) các phó tổng giám đốc
và bộ máy giúp việc. TGĐ là đại diện pháp nhân của tập đoàn kinh tế, là
người xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, là người
điều hành những công việc thường ngày của doanh nghiệp. TGĐ là người được
HĐQT lựa chọn và được Thủ tướng chính phủ quyết định bổ nhiệm (đối với tập
đoàn kinh tế mà nhà nước nắm giữ 100% vốn) hoặc HĐQT ký hợp đồng thuê.
Các phó tổng giám đốc do TGĐ kiến nghị và được HĐQT bổ nhiệm. Bộ máy

Công ty mẹ chỉ phản ánh hoạt động kinh doanh tại Công ty mẹ, vốn tài sản
của Công ty mẹ và phần vốn đầu tư vào Công ty con, không bao gồm tài sản
và kết quả hoạt động của Công ty con.
1.1.4 Những điều kiện áp dụng mô hình Công ty mẹ - công ty con
22 - Điều kiện về vị trí: vai trò của ngành, lĩnh vực hoạt động đối với
những ngành nghề then chốt, là xương sống, rường cột của một nền kinh tế thì
việc áp dụng mô hình Công ty mẹ - Công ty con trở nên tất yếu đảm bảo sự
vững chắc không chỉ cho một ngành mà cho cả nền kinh tế. Vì vậy doanh
nghiệp hoạt động trong ngành, lĩnh vực có tầm quan trọng thì việc xây dựng,
tổ chức áp dụng mô hình Công ty mẹ - Công ty con sẽ giúp cho doanh nghiệp
có chỗ đứng vững chắc trong suốt quá trình kinh doanh, tăng sức cạnh tranh
trên thị trường.
- Nhu cầu phát triển về cạnh tranh: Để đáp ứng được quá trình cạnh
tranh ngày càng phức tạp, gay gắt, các doanh nghiệp đứng trước nhiều nguy
cơ và khó khăn, để làm tăng khả năng cạnh tranh cũng như vị thế trên thị
trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải phát triển, mở rộng qui mô. Sự phát
triển của doanh nghiệp sẽ quyết định sự tồn vong của chính doanh nghiệp đó.
- Điều kiện về tính chặt chẽ trong liên kết giữa các doanh nghiệp. Đây
là điều kiện quan trọng, các doanh nghiệp liên kết với nhau phải dựa trên cơ
sở liên kết kinh tế thì hiệu quả hoạt động của cả một hệ thống mới đạt được
hiệu quả cao nhất.
- Khả năng thu hút sự tham gia rộng rãi và có hiệu quả của các thành
phần kinh tế khác, kể cả đầu tư nước ngoài. Huy động vốn của doanh nghiệp
cũng như nhu cầu liên kết tạo ra những thuận lợi cho việc thu hút các thành
phần kinh tế trong xã hội. Tuy nhiên để có thể thu hút được các thành phần
kinh tế này, đòi hỏi doanh nghiệp phải có một cơ chế quản lý cũng như hình
thức liên kết hợp lý và có hiệu quả. Sự liên kết phải dựa trên cơ sở bình đẵng

người lao động, mở rộng bán cổ phần cho các nhà đầu tư trong nước và nước
ngoài. Kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu quả các tổng công ty theo mô hình
Công ty mẹ - Công ty con, kinh doanh đa ngành tổng hợp trên cơ sở ngành
chuyên môn hoá, gọi vốn thuộc nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia kinh
24 doanh, làm nòng cốt để hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh ở một số
ngành và lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế quốc dân ” [8].
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã khẳng định:
“Khẩn trương hoàn thành kế hoạch sắp xếp, đổi mới và phát triển
doanh nghiệp nhà nước theo hướng hình thành loại hình công ty nhà nước đa
sở hữu, chủ yếu là các công ty cổ phần. Thúc đẩy việc hình thành một số tập
đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước mạnh, hoạt động đa ngành, đa lĩnh
vực, trong đó có ngành chính; có nhiều chủ sở hữu, sở hữu nhà nước giữ vai
trò chi phôi.
Đẩy nạnh và mở rộng diện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước được sử
dụng có hiệu quả và ngày càng tăng lên, đồng thời thu hút mạnh các nguồn
lực trong, ngoài nước cho phát triển. Thực hiện nguyên tắc thị trường trong
việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
Đối với những tổng công ty lớn chưa cổ phần hoá toàn bộ tổng công ty,
thực hiện cổ phần hoá hầu hết các doanh nghiệp thành viên và chuyển các
doanh nghiệp thành viên còn lại sang hình thức công ty cổ phần hoặc công ty
trách nhiệm hữu hạn một hoặc nhiều thành viên mà chủ sở hữu là Nhà nước;
đồng thời, chuyển các tổng công ty này sang hoạt động theo mô hình Công ty
mẹ - công ty con. Tổ chức lại hội đồng quản trị để thực sự là đại diện trực tiếp
của chủ sở hữu tại tổng công ty” [9, tr. 232-233].
Từ năm 1988 thực hiện nghị quyết 217/ HĐBT của Hội đồng bộ trưởng
(nay là chính phủ) về việc giao quyền cho các xí nghiệp quốc doanh (XNQD)
tự chủ sản xuất kinh doanh và tự hạch toán kinh tế.

quy định rõ từng loại cụ thể: DNNN có HĐQT và DNNN không có HĐQT về
các nội dung: nhiệm vụ, quyền hạn của HĐQT, cơ cấu các thành viên của
HĐQT; Chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng giám đốc và bộ máy giúp
việc; quyền và nghĩa vụ của người lao động.

Trích đoạn Đánh giá kết quả đạt được khi thực hiện chuyển đổi theo mô hình Công ty mẹ Công ty con Đổi mới công cụ quản lý bằng công nghệ thông tin và quy trình quản lý ISO 9001: Nâng cao năng lực quản lý Công tác cán bộ Cơ chế quản lý đối với Côngty mẹ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status