Cơ sở lý luận đổi mới tổ chức hải quan theo mô hình hải quan hiện đại ở Việt Nam hiện nay - Pdf 13

mục lục
Trang
Mở đầu 1
Chơng 1: cơ sở lý luận về đổi mới tổ chức hải quan
theo mô hình hải quan hiện đại ở việt nam
8
1.1. Khái niệm, đặc điểm của tổ chức, tổ chức hành chính nhà nớc 8
1.2. Khái niệm, đặc điểm, vị trí và vai trò của tổ chức Hải quan 15
1.3. Các tiêu chí xác định tổ chức Hải quan theo mô hình hiện đại 18
1.4. Kinh nghiệm đổi mới tổ chức Hải quan theo mô hình Hải quan
hiện đại của một số nớc trên thế giới
26
Chơng 2: thực trạng tổ chức hải quan việt nam 34
2.1. Khái quát về lịch sử hình thành phát triển tổ chức Hải quan
Việt Nam từ Cách mạng tháng 8/1945 đến nay
34
2.2 Ưu điểm, bất cập và nguyên nhân của tổ chức Hải quan Việt
Nam hiện hành
62
Chơng 3: Quan điểm và giải pháp đổi mới tổ chức hải quan
theo mô hình hải quan hiện đại ở việt nam
70
3.1. Các quan điểm đổi mới tổ chức Hải quan theo yêu cầu hiện
đại hóa và hội nhập quốc tế
70
3.2. Các giải pháp đổi mới tổ chức Hải quan theo mô hình Hải quan
hiện đại ở Việt Nam hiện nay
72
3.3. Một số kiến nghị 88
Kết luận 91
danh mục tài liệu tham khảo 94

phát triển kinh tế và hội nhập với cộng đồng quốc tế. Năm 2005, Chính phủ đã
phê duyệt Dự án hiện đại hóa Hải quan với nguồn vốn vay từ Ngân hàng thế
giới (WB). Theo các chơng trình này, đến năm 2010 Hải quan Việt Nam phấn
đấu đạt với trình độ của Hải quan các nớc đứng đầu trong khu vực ASEAN, thể
hiện: lực lợng hải quan đạt trình độ chuyên nghiệp, chuyên sâu; hệ thống
thông quan trong các khâu nghiệp vụ hải quan về cơ bản là tự động hóa trên
cơ sở áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro, có trang thiết bị kỹ thuật hiện đại nhằm
to thun li cho cỏc hot ng thng mi hp phỏp, to mụi trờng thuận lợi
trong việc thu hỳt u t nc ngoi, thỳc y s tng trng ca nn kinh t,
m bo ngun thu cho ngõn sỏch quc gia, bo v xó hi v an ninh quc gia,
thc thi phỏp lut hi quan mt cỏch minh bch v cụng bng.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, hệ thống tổ chức Hải quan
Việt Nam đợc tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất theo ba cấp: Tổng
cục Hải quan; Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố; Chi cục Hải quan. Quá
trình hoạt động đã phát huy đợc u thế đáp ứng kịp thời việc quản lý và phục vụ
sự phát triển nhanh chóng của các loại hình xuất khẩu, nhập khẩu trên cả nớc,
khắp các tỉnh có cửa khẩu cũng nh không có cửa khẩu mà có hoạt động xuất
khẩu, nhập khẩu, đầu t liên doanh Tuy nhiên, do những đặc điểm mang tính
đặc thù của hoạt động hải quan là luôn gắn với yếu tố giao lu thơng mại quốc
tế nên với mô hình nh hiện nay đã và đang bộc lộ sự bất cập nh: có những đơn
vị cấp Cục hải quan tỉnh, thành phố quá lớn; có một số Cục hải quan tỉnh quá
nhỏ; Cục Hải quan là cấp trung gian, chủ yếu quản lý cán bộ; còn công tác
nghiệp vụ chủ yếu do Hải quan cấp Chi cục thực hiện. Bộ máy tham mu giúp
việc của cơ quan Tổng cục đợc hình thành và tổ chức nhằm thực hiện phơng
thức quản lý cũ, thủ công, trớc yêu cầu đổi mới tinh giảm và nâng cao hiệu lực,
hiệu quả hoạt động của các tổ chức bộ máy cũng nh đáp ứng các yêu cầu quản
lý của mô hình hải quan hiện đại trong lộ trình cải cách và hiện đại hóa cần
phải đổi mới tổ chức các cơ quan này cho phù hợp.
Từ những lý do nêu trên cho thấy đổi mới hệ thống tổ chức của Hải
quan Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và đáp ứng các yêu cầu

9000 tại Hải quan cảng biển quốc tế (Mã số 05-N2004, Chủ nhiệm đề tài:
Trần Thoang - Cục Hải quan Đà Nẵng);
- Đề tài khoa học cấp ngành: Nghiên cứu vận dụng Công ớc KYOTO
sửa đổi năm 1999 vào thực tiễn hoạt động của Hải quan Việt Nam và xây
dựng lộ trình tham gia (Mã số 03-N2004; Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn
Trọng Hùng - Phó Vụ trởng Vụ Giám sát quản lý);
- Đề tài khoa học cấp ngành: Nghiên cứu xây dựng mô hình hệ thống
công nghệ thông tin thực hiện thủ tục hải quan điện tử (Mã số 06-N2005; Chủ
nhiệm đề tài: Nguyễn Công Bình - Cục trởng Cục Công nghệ thông tin);
- Đề tài khoa học cấp ngành: Hoàn thiện mô hình hoạt động kiểm tra
sau thông quan (Mã số 07-N2005; Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Viết Hồng -
Cục trởng Cục kiểm tra sau thông quan);
- Kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hóa Hải quan giai đoạn
2004 - 2006, ban hành kèm theo Quyết định 810/QĐ-BTC, ngày 16/3/2004
của Bộ trởng Bộ Tài chính;
- Đề án thực hiện thí điểm thủ tục Hải quan điện tử tại Cục Hải quan
thành phố Hải Phòng và Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết
định số 149/2005/QĐ-TTg, ngày20/6/2005 của Thủ tớng Chính phủ;
- Một số suy nghĩ về việc sắp xếp lại mạng lới tổ chức Chi cục Hải
quan cửa khẩu, của ThS. Chu Văn Nhân - Cục trởng Cục Hải quan Bình Định
đăng trên Bản tin Nghiên cứu Hải quan, số 12/2005
Tất cả các công trình nghiên cứu, đề án và các bài viết trên tuy cha đề
cập một cách trực tiếp đến đổi mới tổ chức của Hải quan theo mô hình Hải
quan hiện đại, nhng đã gián tiếp đa ra các mục tiêu, phơng hớng, luận cứ khoa
học, các giải pháp nhằm từng bớc cải cách, chuẩn hóa hoạt động Hải quan
mang tính chuyên nghiệp chuyên sâu, hoạt động minh bạch có hiệu quả theo
yêu cầu hội nhập quốc tế.
Đến nay cha có một công trình nào nghiên cứu trực diện nội dung: Cơ
sở lý luận đổi mới tổ chức Hải quan theo mô hình hải quan hiện đại ở Việt
Nam hiện nay. Các công trình đã nghiên cứu trên sẽ tạo thuận lợi cho tác giả

Luận văn tiếp cận phơng pháp luận của phép duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử mácxít, trong đó chú trọng các phơng pháp kết hợp giữa lý luận và
thực tiễn, phơng pháp phân tích và tổng hợp, phơng pháp lịch sử cụ thể. Ngoài
ra, còn sử dụng các phơng pháp của các bộ môn khoa học khác nh phơng pháp
thống kê, so sánh.
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Luận văn làm nổi bật đặc điểm, nội dung, yêu cầu khách quan của đổi
mới tổ chức Hải quan theo mô hình hải quan hiện đại ở Việt Nam hiện nay;
- Đánh giá đúng thực trạng về hệ thống tổ chức của Hải quan Việt Nam,
chỉ ra những bất cập trớc yêu cầu, đòi hỏi của tình hình mới theo các tiêu chí
của mô hình hải quan hiện đại.
- Đa ra các luận chứng trong việc đổi mới tổ chức Hải quan theo mô
hình hải quan hiện đại ở Việt Nam.
7. ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn là t liệu tham khảo phục vụ cho yêu
cầu thực tiễn của việc đổi mới hệ tổ chức của Hải quan theo mô hình Hải quan
hiện đại đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, cụ thể là tổ chức
bộ máy Hải quan Vùng; quy hoạch lại mạng lới cấp Chi cục hải quan cửa
khẩu; tổ chức lại các đơn vị Vụ, Cục giúp việc thuộc Tổng cục Hải quan.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chơng, 9 tiết.
Chơng 1
Cơ sở lý luận về đổi mới tổ chức Hải quan
theo mô hình Hải quan hiện đại ở Việt Nam
1.1. Khái niệm, đặc điểm của tổ chức, tổ chức hành chính
nhà nớc
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của tổ chức
Tổ chức đợc hiểu theo hai nghĩa: một là, xem tổ chức nh một thực thể,
chẳng hạn ngời ta thờng gọi doanh nghiệp, trờng học, bệnh viện hay cơ quan

hay vật lực gắn liền với nhau để tạo ra một hệ thống nhất định, ấn định những
hoạt động cần thiết nhằm đạt mục tiêu đã định nh chỉ huy, phối hợp, kiểm tra.
Định nghĩa nói trên, thờng thiên về tổ chức xã hội - một tập thể đợc
hình thành theo quan hệ qua lại và nguyên tắc hoạt động đã định, để quản lý
một mục tiêu nào đó. Hàm nghĩa của tổ chức xã hội dựa trên nội dung của các
điểm sau:
- Xây dựng tổ chức là một hành vi có mục đích, là để thỏa mãn một
nhu cầu nào đó. Con ngời là động vật cao cấp có t tởng, có ý chí, hành vi của
con ngời luôn có tính mục đích rõ ràng, vì thế nếu không có mục tiêu chung
thì không thể hình thành tập thể.
- Tất cả các tổ chức đều tồn tại trong môi trờng bên ngoài riêng biệt;
môi trờng này ảnh hởng rất lớn đến hình thái, công năng, kết cấu, sự vận hành
của tổ chức, tiến hành trao đổi vật chất, năng lợng và thông tin với tổ chức.
Môi trờng bên ngoài, về cơ bản quyết định địa vị, giá trị và phạm vi hoạt động
của tổ chức.
- Về bản chất, tổ chức là một quan hệ đặc thù giữa con ngời; nó hình
thành do một loại hành vi qua lại nào đó của con ngời, nhờ đó con ngời có thể
phân biệt mới quan hệ qua lại nh: quan hệ nghề nghiệp, quan hệ chức vụ khác
nhau Đơng nhiên, loại quan hệ con ngời này không phải lộn xộn, lung tung;
nó có đặc điểm là: có mục tiêu tổ chức đã định, nó phản ánh công năng của tổ
chức, là linh hồn của tổ chức; có sự phân công đã định nghĩa là mọi ngời đều
đợc phân công theo các góc độ hoạt động khác nhau; có trật tự đã định và
nguyên tắc hoạt động hoặc trạng thái vận hành ổn định, nó phản ánh quan hệ
tổ chức động.
- Tổ chức là một loại tập thể đang phát triển và thay đổi. Mọi tổ chức
đều là hệ con ngời trong hệ thống xã hội, và còn là hệ thống mở, thay đổi tùy
theo sự thay đổi của môi trờng. Vì thế, tổ chức trớc sau phải duy trì sự cân
bằng động để thích ứng với sự thay đổi và biến đổi của môi trờng bên ngoài.
Đặc biệt, sự phát triển nhanh chóng của xã hội đơng đại, của khoa học kỹ
thuật, trình độ xã hội hóa sản xuất ngày càng cao, cạnh tranh ngày càng quyết

tổ chức hành chính tốt hay xấu đều trực tiếp liên quan đến sự hơn thiệt của
quần chúng nhân dân, quan hệ đến sự hng thịnh, suy thoái của đất nớc và sự
ổn định về cục diện chính trị. Tính u việt của chế độ xã hội chủ nghĩa cần đợc
thể hiện ở tính u việt của tổ chức hành chính, cần có một hệ thống hành chính
nhà nớc liêm khiết, có hiệu suất cao.
- Tính xã hội: Tổ chức hành chính của bất cứ một chế độ Nhà nớc nào
đều đảm nhiệm chức năng quản lý công việc công cộng chung của xã hội. Muốn
duy trì sự thống trị chính trị, ổn định trật tự xã hội, giai cấp thống trị phải quản
lý công việc công cộng của xã hội. Đặc biệt trong xã hội hiện đại, đặc điểm
tính xã hội của tổ chức hành chính nhà nớc càng thêm rõ ràng, biểu thị ở sự
tăng cờng không ngừng phạm vi và mức độ can thiệp của Chính phủ các nớc vào
các công việc công cộng về kinh tế, kỹ thuật, văn hóa giáo dục, y tế, giao
thông, bu điện, bảo hiểm xã hội, bảo vệ môi trờng Chức năng có tính công
cộng chung của Nhà nớc xã hội chủ nghĩa, dù xét về lý luận hay từ thực tiễn
đều cần đợc phát triển và tăng cờng, tính xã hội của tổ chức hành chính.
- Tính phục vụ: Tổ chức hành chính nhà nớc với tính cách là một thực
thể của thợng tầng kiến trúc, ban đầu nảy sinh từ nhu cầu phát triển của hoạt
động kinh tế và hoạt động xã hội khác. Chức năng cơ bản của nó là cung cấp
dịch vụ mang tính chất quản lý cho các hoạt động để chúng phát triển một
cách nhịp nhàng và có hiệu quả hơn. Vì thế, tổ chức hành chính là một loại
phơng tiện cho sự vận hành và phát triển của xã hội, nhng không phải không
có mục đích nếu tổ chức hành chính dị hóa thành mục tiêu xã hội thì sẽ làm
nảy sinh một căn bệnh hành chính vì hành chính. Tổ chức hành chính đơng
đại là làm cho tổ chức hành chính trở lại tính phục vụ của nó. Tổ chức hành
chính phải thích ứng và phục vụ cho cơ sở kinh tế, phục vụ sự ổn định và phát
triển của nền kinh tế quốc dân và của cả xã hội. Đồng thời, xét từ quan hệ giữa
hành chính và lập pháp trong thể chế chính trị nhà nớc, tổ chức lập pháp là cơ
quan quyền lực của Nhà nớc, tổ chức hành chính là cơ quan chấp hành của tổ
chức lập pháp, hành chính phải phục vụ lập pháp, tổ chức hành chính phải
phục vụ việc chấp hành Hiến pháp và pháp luật. Đặt hành chính cao hơn pháp

- Dới góc độ chính trị: Tổ chức hành chính nhà nớc là bộ phận của bộ
máy Nhà nớc, đại diện cho Nhà nớc, là chủ thể chấp hành quyền lực quốc gia,
thực hiện quản lý các công việc kinh tế xã hội. Tổ chức hành chính của Nhà n-
ớc xã hội chủ nghĩa là cái nút của mối liên hệ trực tiếp giữa Đảng và Nhà nớc
với quần chúng nhân dân. Tính u việt của chế độ xã hội chủ nghĩa cần đợc thể
hiện ở tính u việt của tổ chức hành chính, cần có một hệ thống hành chính nhà
nớc liêm khiết, có hiệu suất cao. Nh vậy, cơ sở để hình thành nên tổ chức hành
chính bắt nguồn sứ mệnh chính trị của giai cấp cầm quyền là cần phải có một
tổ chức để thực hiện sứ mệnh chính trị của mình.
- Dới góc độ xã hội: Bất cứ một chế độ nhà nớc nào đều phải đảm
nhiệm chức năng quản lý công việc công cộng chung của xã hội nh: duy trì sự
thống trị chính trị, ổn định trật tự xã hội; các công việc công cộng về kinh tế,
kỹ thuật, văn hóa giáo dục, y tế, giao thông, bu điện, bảo hiểm xã hội, bảo vệ
môi trờng những nhiệm vụ có tính công cộng chung của Nhà nớc xã hội chủ
nghĩa, dù xét về lý luận hay từ thực tiễn đều cần đợc phát triển và tăng cờng.
Nh vậy, xét dới góc độ khách quan thì trớc yêu cầu của xã hội đặt ra là: phải
làm gì? Mục đích của việc làm đó nh thế nào? Để giải quyết nó thì ai sẽ
làm? và chính việc trả lời câu hỏi ai làm là cơ sở để hình thành nên tổ chức.
Tổ chức hành chính nhà nớc với tính cách là một thực thể của thợng tầng kiến
trúc, ban đầu nảy sinh từ nhu cầu phát triển của hoạt động kinh tế và hoạt
động xã hội khác. Chức năng cơ bản của nó là cung cấp dịch vụ mang tính
chất quản lý cho các hoạt động để chúng phát triển một cách nhịp nhàng và có
hiệu quả hơn. Vì thế, tổ chức hành chính là một loại phơng tiện cho sự vận
hành và phát triển của xã hội. Tổ chức hành chính phải thích ứng và phục vụ
cho cơ sở kinh tế, phục vụ sự ổn định và phát triển của nền kinh tế quốc dân
và của cả xã hội. Đồng thời, xét từ quan hệ giữa hành chính và lập pháp trong
thể chế chính trị nhà nớc, tổ chức lập pháp là cơ quan quyền lực của Nhà nớc,
tổ chức hành chính là cơ quan chấp hành của tổ chức lập pháp, hành chính
phải phục vụ lập pháp, tổ chức hành chính phải phục vụ việc chấp hành Hiến
pháp và pháp luật.

sửa đổi bổ sung năm 2001:
(1) Hệ thống tổ chức của Hải quan Việt Nam gồm có: Tổng
cục hải quan; Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thộc trung
ơng; Chi cục Hải quan cửa khẩu, Đội kiểm soát hải quan và đơn vị t-
ơng đơng; (2) Chính phủ quy định cụ thể nhiệm vụ, tổ chức, hoạt
động của hải quan các cấp; chế độ phục vụ, chức danh, tiêu chuẩn, l-
ơng, phụ cấp thâm niên, chế độ đãi ngộ khác đối với công chức hải
quan; hải quan hiệu, cờ hiệu, cấp hiệu, trang phục, giấy chứng minh
hải quan [26].
Từ khái niệm cũng nh nhiệm vụ của tổ chức hải quan đợc pháp luận
quy định, đối chiếu, so sánh với các tổ chức hành chính nhà nớc khác thì ngoài
các đặc điểm chung của tổ chức hành chính nhà nớc, tổ chức hải quan có đặc
điểm mang tính riêng biệt và đặc thù nh sau:
- Tính thống nhất cao: Toàn bộ hệ thống tổ chức của hải quan từ trung
ơng đến các địa phơng có tổ chức Hải quan đợc tổ chức theo một hệ thống
thống nhất. Hoạt động theo nguyên tắc tập trung. Chính sách quản lý là
thống nhất.
- Hoạt động hải quan là hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật thuộc
nhiều lĩnh vực chuyên ngành khác nhau nh: Kinh tế; ngân hàng; hành chính;
hình sự; tố tụng hình sự; dân sự; tố tụng dân sự; đầu t; du lịch; môi trờng; hải
quan. Vì vậy, tính đa ngành, đa nghề trong hoạt động của tổ chức Hải quan
rất lớn.
- Hoạt động Hải quan thờng gắn với hoạt động giao lu thơng mại với
nớc ngoài, gắn với hoạt động xuất cảnh, nhập cảnh. Vì vậy, các hoạt động hải
quan thờng diễn ra tại cửa khẩu, sân bay quốc tế, cảng biển quốc tế, ga đờng
sắt quốc tế. Tổ chức của hải quan đợc hình thành và bố trí tại nơi diễn ra hoạt
động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa; phơng tiện vận tải, hành khách xuất
cảnh, nhập cảnh.
1.2.2. Vị trí và vai trò của tổ chức hải quan
ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, lực lợng hải quan cũng là một

kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về hải quan nói riêng và vi phạm pháp
luật nói chung nhằm đảm bảo an ninh về văn hóa t tởng, an toàn vệ sinh - dịch
tễ, bảo vệ sức khỏe của nhân dân, bảo vệ lợi ích của ngời tiêu dùng, ngăn chặn
kịp thời những hành vi có nguy cơ đe dọa tới lợi ích, chủ quyền và an ninh
quốc gia.
- Ngày nay, các quốc gia đang có nhu cầu thu thút vốn đầu t của các
nhà đầu t nớc ngoài nhằm xây dựng và phát triển nền kinh tế của quốc gia mình
đều đặc biệt quan tâm tới việc cải thiện môi trờng đầu t, trong đó phải kể đến
việc thay đổi luật lệ và chính sách về hải quan. Đây là việc làm cần thiết bởi luật
lệ, chính sách hải quan, thủ tục hải quan là những vấn đề có liên quan trực tiếp
đến lợi ích của các nhà đầu t nớc ngoài. Nh vậy, vai trò của tổ chức Hải quan,
hoạt động của Hải quan có tầm quan trọng đặc biệt đối với cải thiện môi trờng
đầu t, thúc đẩy và thu hút vốn đầu t nớc ngoài đối với mỗi quốc gia.
1.3. Các tiêu chí xác định tổ chức hải quan theo mô hình
hiện đại
1.3.1. Mô hình tổ chức hải quan hiện đại theo khuyến nghị của tổ
chức Hải quan thế giới (WCO)
Để thực hiện các cam kết cụ thể liên quan đến Hải quan đề cập đến
các biện pháp đơn giản hóa, hài hòa thủ tục Hải quan theo các chuẩn mực nhất
định của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) với hàng loạt các công ớc của nó
bao quát toàn bộ các mảng nghiệp vụ hải quan theo các chuẩn mực cụ thể. Với
162 thành viên là các quốc gia, lãnh thổ, WCO có chức năng nghiên cứu mọi
vấn đề liên quan tới việc hợp tác Hải quan; kiểm tra các khía cạnh kỹ thuật
cũng nh các yếu tố kinh tế có liên quan tới hệ thống Hải quan để đề xuất
những phơng thức thiết thực nhằm đạt đến mức độ hòa hợp và thống nhất cao
nhất có thể đợc cho các hải quan thành viên; vì vậy, WCO đã xây dựng, bổ
sung, sửa đổi các Công ớc, đã ra các khuyến nghị đối với các Chính phủ để
bảo đảm việc hiểu và áp dụng thống nhất các Công ớc; khuyến nghị hòa giải
các tranh chấp liên quan đến việc hiểu và áp dụng các Công ớc; cung cấp
thông tin liên quan đến các quy định và thủ tục Hải quan; hỗ trợ về thông tin

10. Hài hòa các dữ liệu APEC: tiến tới việc các nền kinh tế thành viên
APEC có thể trao đổi dễ dàng với nhau các dữ liệu chung về hải quan, thơng
mại dựa trên chuẩn chung về thơng mại điện tử.
11. áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro để tập trung các biện pháp kiểm
soát một số hàng hóa có nguy cơ rủi ro cao, tạo thuận lợi thông quan tuyệt đại
bộ phận hàng hóa khác.
12. áp dụng các chỉ dẫn của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) về tạo
thuận lợi thông quan hàng chuyển phát nhanh, xây dựng quan hệ đối tác với
Hiệp hội doanh nghiệp chuyển phát nhanh.
13. Liêm chính Hải quan và
14. Thơng mại phi giấy tờ.
Việt Nam gia nhập Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) từ 1/7/1993 và
Hải quan Việt Nam đã nhận đợc nhiều sự hỗ trợ, giúp đỡ của WCO trong các
lĩnh vực hải quan thông qua các chơng trình trợ giúp kỹ thuật của WCO hoặc
của các thành viên WCO thông qua WCO. Nhờ đó có điều kiện tiếp cận trực
tiếp các hoạt động nghiệp vụ mới nhất của cộng đồng hải quan quốc tế, nắm
bắt những vấn đề mới trong hoạt động hải quan. Là một thành viên WCO, Hải
quan Việt Nam đã hoặc sẽ phải tính đến việc thực hiện các cam kết cụ thể
trong các Công ớc quốc tế liên quan đến Hải quan mà Việt Nam đã ký kết và
tham gia.
Năm 2005, Chính phủ đã phê duyệt Dự án hiện đại hóa Hải quan với
nguồn vốn vay từ Ngân hàng thế giới (WB). Để xây dựng Dự án trên dới sự tài
trợ của Nhật Bản, Bộ Tài chính đã giao cho ngành Hải quan thực hiện thông qua
triển khai Dự án hỗ trợ kỹ thuật chuẩn bị cho Dự án hiện đại hóa Hải quan
(WB). Tham gia dự án hỗ trợ kỹ thuật này có nhiều chuyên gia nớc ngoài, quá
trình xây dựng thiết kế các cấu phần kỹ thuật của dự án hỗ trợ kỹ thuật, căn cứ
vào xu thế phát triển cũng nh chuẩn mực của Hải quan thế giới các chuyên gia
đã đa ra khuyến nghị về mô hình quản lý của Hải quan hiện đại và tơng thích
với mô hình quản lý này là mô hình tổ chức nh sau:
Biểu đồ 1.1: Mô hình tổ chức tơng thích với mô hình quản lý

vực thì tổ chức Hải quan bảo đảm bảo tiêu chí về tính tơng thích, tơng đồng.
Mặc dù do điều kiện kinh tế, văn hóa, thể chế chính trị của mỗi quốc gia có
khác nhau nhng do đặc điểm, nhiệm vụ của cơ quan hải quan có tính tơng
đồng rất cao nên mô hình tổ chức có đặc điểm khá giống nhau.
Hiện nay trên thế giới và các nớc phát triển trong khu vực đã áp dụng
kỹ thuật quản lý Hải quan hiện đại theo khuyến nghị của Tổ chức Hải quan
thế giới (WCO), nên mô hình tổ chức của các nớc đều theo hớng đáp ứng yêu
cầu sử dụng hệ thống thống tin dữ liệu tập trung; áp dụng kỹ thuật quản lý rủi
ro trong quản lý; ứng dụng ở trình độ cao công nghệ tin học; sử dụng có hiệu
quả các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại. Cũng theo yêu cầu quản lý hiện đại,
mô hình tổ chức của các nớc phát triển trên thế giới và khu vực đều đổi mới và
cơ cấu lại theo mô hình Hải quan Vùng. Mô hình này cơ cấu một hệ thống tổ
chức hải quan từ Trung ơng xuống đến các địa điểm thông quan hàng hóa một
cách thống nhất, cho phép cập nhật thông tin, chia sẻ thông tin, áp dụng phơng
pháp kỹ thuật quản lý mới đáp ứng yêu cầu đơn giản về thủ tục, văn minh
trong giao tiếp, nhng vẫn quản lý chặt chẽ đúng pháp luật.
Khi Việt Nam đã trở thành thành viên các nớc trong khu vực ASEAN,
thành viên của Tổ chức Thơng mại thế giới (WTO), đặt ra các yêu cầu về pháp
luật phải đợc hoàn thiện theo mục tiêu nội luật hóa các cam kết quốc tế mà
Việt Nam đã tham gia và ký kết. Trong đó, việc đơn giản hóa thủ tục hải quan
theo Công ớc KYOTO sửa đổi phù hợp với yêu cầu quan lý hải quan theo
thông lệ quốc tế trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa; thực hiện xác định
trị giá hải quan theo Hiệp định trị giá GATT nhằm tạo ra một hệ thống xác
định trị giá hải quan thống nhất là những nội dung quan trọng mà Hải quan
các nớc thành viên trong Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) phải thực hiện.
Một điều kiện quan trọng trong thực hiện thủ tục hải quan theo yêu cầu hiện
đại liên quan gắn bó hữu cơ với việc đổi mới và bố trí sắp xếp lại hệ thống tổ
chức Hải quan. Hiện nay, nhiều nớc tổ chức Hải quan đã đợc tổ chức theo cơ
cấu, mô hình hiện đại nhằm thực hiện có hiệu quả công tác quản lý hải quan.
Tính tơng thích về mô hình tổ chức của Hải quan Việt Nam theo thế giới và

nhập, sắp xếp tổ chức cho phép xác định mức đầu t, thứ tự u tiên, chiến lợc
đầu t phù hợp. Đối với Hải quan Việt Nam khi tiến hành đổi mới tổ chức theo
mô hình hiện đại tiêu chí này phải đợc xem xét một cách toàn diện, phù hợp
với điều kiện hoàn cảnh kinh tế của Việt Nam
Nh vậy, tiêu chí xác định mô hình hải quan hiện đại phải đợc xem xét
dới yêu cầu đơn giản, hiện đại dới tất cả khía cạnh cụ thể. Thông quan xém
xét tiêu chí này trên từng phơng diện để xác định nội dung, lộ trình, mô hình
của một tổ chức sau khi tiến hành đổi mới. Tiêu chí này rất quan trọng trong
điều kiện Việt Nam khi Đảng, Nhà nớc đang hớng tới mục tiêu xây dựng bộ
máy hành chính nhà nớc gọn nhẹ, hiệu quả, hoạt động minh bạch. Cũng trong
điều kiện kinh tế còn hạn hẹp thì tập trung đầu t và sử dụng có hiệu quả cơ sở
vật chất khi đầu t tránh dàn trải, lãng phí, thất thoát là một yêu cầu cấp thiết.
Đổi mới tổ chức hải quan Việt Nam theo mô hình hải quan hiện đại phải tuân
thủ các yêu cầu đặt ra của tiêu chí này. Căn cứ vào tiêu chí này cho phép tồn
tại hay không tồn tại một tổ chức, sáp nhập hay không sáp nhập, cơ cấu bên
trong của từng tổ chức hải quan Tuân thủ tiêu chí này sẽ xây dựng tổ chức
hải quan Việt Nam từ Tổng cục đến các cửa trở thành một hệ thống tổ chức
thống nhất, gọn đầu mối, xóa cấp trung gian, ứng dụng kỹ thuật quản lý mới,
tập trung đầu t trọng điểm tránh lãng phí nguồn tài chính, sử dụng có hiệu quả
đầu t đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa và hội nhập, góp phần vào công cuộc phát
triển kinh tế của đất nớc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status