CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GTGT VÀ KẾ TOÁN THUẾ GTGT TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM - Pdf 69

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GTGT VÀ KẾ TOÁN THUẾ GTGT TRONG
DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM.
1. Những vấn đề cơ bản về thuế GTGT và luật thuế GTGT ở Việt Nam.
1.1. Lịch sử hình thành thuế GTGT.
Từ sau chiến tranh thế giới thứ II, Pháp tiến hành áp dụng thuế doanh thu
nhằm động viên sự đóng góp của quần chúng vào nguồn thu ngân sách. Thời kì đầu, thuế
chỉ thu ở giai đoạn cuối của quá trình lưu thông hàng hoá với thuế suất thấp, do đó, số thu
rất thấp và khó quản lý. Sau đó, thuế doanh thu đã được điều chỉnh, đánh vào từng khâu
của quá trình sản xuất. Tuy nhiên, cách này đã phát sinh nhược điểm là tính trùng lặp, đặc
biệt khi quá trình sản xuất ra sản phẩm phải trải qua nhiều khâu. Và để khắc phục nhược
điểm này, năm 1936, Pháp tiến hành cải tiến thuế doanh thu từ việc đánh thuế vào từng
khâu sang đánh thuế 1 lần vào công đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất. Việc này đã
khắc phục được nhược điểm là đánh thuế trùng lập nhưng lại làm cho việc thu thuế bị
chậm trễ so với trước đây vì chỉ khi hàng hoá đi vào lưu thông thì Nhà nước mới thu được
thuế.
Trước một thực tế là Nhà nước muốn thu được nhiều thuế và thu kịp thời,
vừa thúc đẩy phát triển sản xuất, vừa bồi dưỡng nguồn thu, các nhà kinh tế đã nghĩ ra
nhiều biện pháp để hoàn thiện luật thuế doanh thu. Vào đầu những năm năm mươi, một
người Đức đã nghĩ ra một chính sách thuế có thể thay thế cho thuế doanh thu, đó là thuế
GTGT được tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá dịch vụ qua mỗi công đoạn từ
nhiên sản xuất đến tiêu dùng. Tuy nhiên, do lý luận chưa đủ sức thuyết phục Chính phủ
nên chính sách này đã không được chấp nhận. Và trên thực tế thì thuế GTGT được nghiên
cứu và áp dụng đầu tiên tại Pháp vào ngày1/7/1954. Ban đầu thuế GTGT ra đời chỉ nhằm
vào một số nghành cá biệt, mãi đến năm 1968, thuế GTGT mới được áp dụng cho mọi
nghành nghề, mọi lĩnh vực. Cho đến nay, với ưu điểm của mình, thuế GTGT đã được áp
dụng và triển khai ở nhiều nước. Với Việt Nam, việc chuyển sang áp dụng thuế GTGT
ngoài mục đích từng bước hoà nhập vào chính sách thuế của các nước trong khu vực và
trên thế giới, đây còn là bước chuẩn bị rất tốt cho quá trình hội nhập vào AFTA vào những
năm tới.
1.2. Định nghĩa và đặc điểm của thuế GTGT.

1.311. Đối tượng chịu thuế.
Theo quy định tại điều 2, Luật thuế GTGT và điều 2 Nghị định số 79/2000/NĐ-CP
ngày 29/12/2000

thì đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hoá,dịch vụ dùng cho sản xuất,
kinh doanh, tiêu dùng tại Việt Nam, trừ tất cả các đối tượng quy định tại mục II, phần A,
thông tư số 122/2000/TT-BTC ra ngày 29/12/2000 của Bộ Tài Chính.
1.312. Đối tượng nộp thuế.
Theo quy định tại điều 3, Luật thuế GTGT và điều 3 Nghị định số
79/2000/NĐ-CP ngày 29/12/2000

thì đối tượng nộp thuế GTGT bao gồm:
2 2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
_ Các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng kí kinh doanh theo Luật Doanh
nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nước và Luật Hợp tác xã.
_ Các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội,
tổ chức xã hội nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức, đơn vị sự nghiệp
khác.
_ Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp tác
kinh doanh theo Luật Đầu tư nước ngoài ở Việt Nam; các công ty nước ngoài và tổ chức
nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam không theo luật Đầu tư nước ngoài ở Việt
Nam.
_ Cá nhân, hộ gia đình sản xuất, kinh doanh, nhóm kinh doanh độc lập và các đối
tượng kinh doanh khác.
1.313. Đối tượng không chịu thuế.
Bao gồm tất cả các đối tượng được quy định tại mục II, phần A, thông tư số
122/2000/TT-BTC ngày 29/12/2000của Bộ Tài Chính.
1.32. Căn cứ tính thuế.
Căn cứ tính thuế bao gồm: giá tính thuế và thuế suất cụ thể được quy định chi tiết

hoá đơn;
+ Hàng hoá chịu thuế TTĐB cơ sở kinh doanh thương mại mua của cơ sở sản
xuất để bán ra có hoá đơn bán hàng (kể cả trường hợp mua của đại lý bán hàng chịu thuế
tiêu thụ đặc biệt theo đúng giá của cơ sở sản xuất, hưởng hoa hồng).
+ Tiền bồi thường kinh doanh bảo hiểm của nghiệp vụ bảo hiểm thuộc đối tượng
chịu thuế GTGT (tính trên giá trị bồi thường bảo hiểm) thuộc trách nhiệm bồi thường của
cơ sở kinh doanh bảo hiểm.
_ Tỷ lệ 2% trên giá trị hàng hoá mua vào theo Bảng kê đối với hàng hoá là nông,
lâm, thuỷ sản chưa qua chế biến; đất, đá, cát, sỏi, các phế liệu mua của người bán không
có hoá đơn. Riêng đối với cơ sở sản xuất sản phẩm là nông sản, lâm sản, thuỷ sản chưa
qua chế biến không chịu thuế GTGT, nếu cơ sở dùng các sản phẩm này để tiếp tục sản
xuất, chế biến ra các hàng hoá khác thuộc diện chịu thuế GTGT thì giá được tính khấu trừ
theo tỷ lệ quy định là giá thành sản xuất của các mặt hàng nông sản, lâm sản, thuỷ sản.
Tỷ lệ (%) khấu trừ trên đây áp dụng thống nhất cho cả trường hợp kinh doanh trong
nước và xuất khẩu.
_ Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào là loại được dùng chứng từ đặc thù (kể cả
hoá đơn mua hàng dự trữ quốc gia của cơ quan dự trữ quốc gia) ghi giá thanh toán là giá
đã có thuế GTGT thì cơ sở được căn cứ vào giá đã có thuế và phương pháp tính nêu tại
điểm 14 Mục I Phần B của Thông tư này để xác định giá không có thuế và thuế GTGT
đầu vào được khấu trừ.
c) Xác định thuế GTGT đầu vào được khấu trừ:
4 4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
_ Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ là thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ dùng
cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT.
_ Hàng hoá mua vào bị tổn thất do thiên tai, hoả hoạn, bị mất, xác định do trách
nhiệm của các tổ chức, cá nhân phải bồi thường thì thuế GTGT đầu vào của số hàng hoá
này được tính vào giá trị hàng hoá tổn thất phải bồi thường, không được tính vào số thuế
GTGT đầu vào được khấu trừ khi kê khai thuế GTGT phải nộp.
_ Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào dùng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh

chính sự nghiệp trực thuộc như: Bệnh viện, Trạm xá, Nhà nghỉ điều dưỡng, Viện, Trường
đào tạo... không thuộc đối tượng nộp thuế GTGT thì không được khấu trừ hay hoàn thuế
GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ mua vào phục vụ cho hoạt động của các đơn vị này.
Trường hợp các đơn vị này có hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế
GTGT thì phải đăng ký, kê khai nộp thuế GTGT riêng cho các hoạt động này.
Cơ sở sản xuất hàng hoá chịu thuế TTĐB trực tiếp hoặc uỷ thác xuất khẩu thì thuế
GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng để sản xuất các mặt hàng chịu thuế tiêu thụ
đặc biệt xuất khẩu được tính khấu trừ hoặc hoàn thuế theo quy định.
d) Đối với hộ kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp trên GTGT
được chuyển sang nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế, được khấu trừ thuế GTGT
của hàng hoá, dịch vụ mua vào phát sinh kể từ tháng được áp dụng nộp thuế theo phương
pháp khấu trừ thuế; đối với hàng hoá, dịch vụ mua vào trước tháng được áp dụng nộp
thuế theo phương pháp khấu trừ thuế thì không được tính khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
1.332. Phương pháp tính thuế GTGT trực tiếp trên giá trị gia tăng.
a) Xác định thuế GTGT phải nộp:
Số thuế GTGT GTGT của hàng hóa, Thuế suất thuế của
= x
phải nộp dịch vụ chịu thuế hàng hoá, dich vụ đó

GTGT của Doanh số của hàng hoá, Gía vốn của hàng hoá,
= -
hàng hóa, dịch vụ dịch vụ bán ra dịch vụ bán raGiá trị gia tăng xác định đối với một số ngành nghề kinh doanh như sau:
_ Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh bán hàng là số chênh lệch giữa doanh số
bán với doanh số vật tư, hàng hoá, dịch vụ mua vào dùng cho sản xuất, kinh doanh.
Trường hợp cơ sở kinh doanh không hạch toán được doanh số vật tư, hàng hoá, dịch vụ
mua vào tương ứng với doanh số hàng bán ra thì xác định như sau:
Giá vốn Doanh số doanh số doanh số

tiền hay chưa thu được tiền.
Doanh số hàng hóa, dịch vụ mua vào quy định trên đây bao gồm cả các khoản thuế
và phí đã trả tính trong giá thanh toán hàng hóa, dịch vụ mua vào - Cơ sở kinh doanh
thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT không được
tính giá trị tài sản mua ngoài, đầu tư, xây dựng làm tài sản cố định vào doanh số hàng
hoá, dịch vụ mua vào để tính giá trị gia tăng.
7 7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
b) Phương pháp xác định GTGT làm căn cứ tính thuế GTGT phải nộp đối với
từng cơ sở kinh doanh như sau:
_ Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ việc mua, bán hàng hoá, dịch vụ có
hoá đơn, chứng từ, ghi chép sổ sách kế toán thì GTGT được xác định căn cứ vào giá mua,
giá bán ghi trên chứng từ.
_ Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ hoá đơn, chứng từ bán hàng hóa,
dịch vụ, xác định được đúng doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ theo hoá đơn bán hàng hoá,
dịch vụ nhưng không có đủ hoá đơn mua hàng hóa, dịch vụ thì GTGT được xác định bằng
doanh thu nhân (x) với tỷ lệ (%) GTGT tính trên doanh thu.
_ Đối với cá nhân (hộ) kinh doanh chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ hoá
đơn mua, bán hàng hoá, dịch vụ thì cơ quan thuế căn cứ vào tình hình kinh doanh của
từng hộ ấn định mức doanh thu tính thuế; giá trị gia tăng được xác định bằng doanh thu
ấn định nhân với tỷ lệ (%) giá trị gia tăng tính trên doanh thu.
Tổng cục Thuế hướng dẫn các Cục thuế xác định tỷ lệ (%) GTGT tính trên doanh
thu làm căn cứ tính thuế GTGT phù hợp với từng ngành nghề kinh doanh và hợp lý giữa
các địa phương.
2.Tổ chức công tác kế toán thuế GTGT trong doanh nghiệp thương mai
2.1. Tài khoản sử dụng.
_ Tài khoản 133 - thuế GTGT được khấu trừ
Tài khoản 133 dùng để phản ánh số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, đã khấu
trừ và còn được khấu trừ.
Bên Nợ: Số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status