SKKN Đổi mới cách kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Công nghệ bậc THPT - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"ĐỔI MỚI CÁCH KT ĐG KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN CÔNG
NGHỆ BẬC THPT"
LỜI NÓI ĐẦU
Đổi mới phương pháp dạy học trong chương trình giáo dục phổ thông nói chung
và giáo dục THPT nói riêng là vấn đề được đặt ra và thực hiện từ nhiều năm nay . Để
thực hiện vấn đề này, đã có nhiều những hình thức và biện pháp dạy học được triển
khai như: dạy học nêu vấn đề, tổ chức các hoạt động dạy học nhằm phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học…
Những biện pháp và hình thức đó, trong quá trình thực hiện, đã góp phần thúc đẩy đổi
mới phương pháp dạy học, nâng cao hiệu quả giảng dạy của giáo viên và chất lượng
học tập của học sinh. Tuy nhiên, để nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học, bên cạnh
các biện pháp, hình thức dạy học như trên thì việc đổi mới KT - ĐG kết quả học tập
của học sinh là vô cùng quan trọng. KT - ĐG là một khâu không thể thiếu trong quá
trình dạy học. Đó là một yêu cầu khách quan đối với việc phát triển lí luận dạy học nói
chung cũng như phương pháp dạy học địa lí nói riêng. Đánh giá được xem là công cụ
quan trọng chủ yếu xác định năng lực nhận thức người học, điều chỉnh quá trình dạy
học. Đổi mới KT - ĐG sẽ tạo động lực thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, góp
phần nâng cao chất lượng, bảo đảm thực hiện mục tiêu giáo dục.
Vậy, thế nào là đổi mới KT - ĐG ? KT - ĐG như thế nào để nâng cao hiệu quả
giảng dạy, bảo đảm thực hiện mục tiêu giáo dục? KT - ĐG trong môn Công nghệ bậc
THPT như thế nào để đảm bảo mục tiêu bộ môn? Đó là những câu hỏi lớn mà cá nhân
tôi cũng chưa có lời giải cụ thể. Nhưng, xuất phát từ thực tế giảng dạy, dưới đây, tôi
xin trình bày những kinh nghiệm của bản thân trong việc KT - ĐG kết quả học tập của
học sinh, theo cá nhân tôi, những biện pháp và hình thức kiểm tra như vậy đã có tác
dụng tích cực đến các hoạt động dạy học của giáo viên chất lượng học tập của học
sinh.
Những kinh nghiệm mà tôi trình bày sau đây chỉ mang tính chất cá nhân, do đó
sẽ khó tránh khỏi suy nghĩ chủ quan và chắc sẽ có nhiều điểm chưa phù hợp, vì vậy rất
mong nhận được sự góp ý của các đồng chí.

tiêu giáo dục, tạo nên sự công bằng trong đánh giá tôi đã mạnh dạn đưa ra đề tài:
‘‘Đổi mới cách KT - ĐG kết quả học tập môn Công nghệ bậc THPT ’’
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.

Ở bậc THPT, việc học môn Công nghệ là môn học có nhiều kiến thức mới mẻ và
mang tính chất khoa học. Đặc thù của môn học công nghệ là môn học khó truyền đạt
đối với giáo viên, khó làm đối với học sinh. Là môn học có rất nhiều kiến thức mới,
trừu tượng mang tính công nghiệp. Chính vì lý do đó mà phân phối chương trình của
Bộ giáo dục và đào tạo đã dành cho khối 12 là 35 tiết, khối 11 là 52 tiết.
Chính vì vậy việc đổi mới KT- ĐG là vấn đề cần thiết hiện nay. Vì nó đánh giá
được học sinh có thể hiểu và nhớ được những kiến thức cơ bản của môn học, chủ yếu
là nhớ ý nghĩa theo hệ thống kiến thức của chương trình. Đánh giá được việc áp dụng
kiến thức để giải quyết tình huống cụ thể, sự độc lập sáng tạo của học sinh. Đánh giá
được động cơ, hứng thú, thái độ học tập của học sinh.
3. KẾT QUẢ CẦN ĐẠT.
Với mục tiêu giáo dục phổ thông là “Giúp học sinh phát triển toàn diện về dạo
đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính
năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa,
xây dựng tư cách, trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi
vào cuộc sống lao động, tham gia bảo vệ tổ quốc”. Trong các trường THPT hiện
nay, việc dạy học không chỉ chủ yếu là dạy cái gì mà còn dạy học như thế nào. Đổi
mới phương pháp dạy học là một yêu cầu cấp bách có tính chất đột phá để nâng cao
chất lượng dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi phải tiến hành một cách
đồng bộ đổi mới từ nội dung chương trình sách giáo khoa, phương pháp dạy học cho
đến KT - ĐG kết quả dạy học. KT - ĐG có vai trò rất to lớn đến việc nâng cao chất
lượng đào tạo. Kết quả của KT - ĐG là cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động
học và quản lý giáo duc. Nếu KT - ĐG sai dẫn đến nhận định sai về chất lượng đào tạo
gây tác hại to lơn trong việc sử dụng nguồn nhân lực. Vậy đổi mới KT - ĐG trở thành
nhu cầu bức thiết của ngành giáo dục và toàn xã hội ngày nay. KT - ĐG đúng thực tế,
chính xác và khách quan sẽ giúp người học tự tin, hăng say, nâng cao năng lực sáng

Như vậy, các nhà khoa học và các nhà giáo dục đều cho rằng kiểm tra với nghĩa
là nhằm thu thập số liệu, chứng cứ, xem xét, soát xét lại công việc thực tế để đánh giá
và nhận xét.
Trong giáo dục, kiểm tra có các hình thức như kiểm tra thường xuyên (kiểm tra
hàng ngày), kiểm tra định kì (kiểm tra hết chương, hết phần ) và kiểm tra tổng kết
(kiểm tra cuối học kì).
Kiểm tra là theo dõi, sự tác động của người kiểm tra đối với người học nhằm thu
được những thông tin cần thiết cho việc đánh giá.
Kiểm tra có 3 chức năng bộ phận liên kết, thống nhất, thâm nhập vào nhau và bổ
sung cho nhau đó là: đánh giá, phát hiện lệch lạc và điều chỉnh.
Về mặt lý luận dạy học, kiểm tra có vai trò liên hệ nghịch trong quá trình dạy
học. Kiểm tra biết những thông tin, kết quả về quá trình dạy của thầy và quá trình học
của trò để từ đó có những quyết định cho sự điều khiển tối ưu của cả thầy lẫn trò. Học
sinh sẽ học tốt hơn nếu thường xuyên được kiểm tra và được đánh giá một cách
nghiêm túc, công bằng với kỹ thuật cao và đạt kết quả tốt.
b. Khái niệm đánh giá
Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công
việc dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu,
tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng,
điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu qủa công việc. Theo Đại từ điển Tiếng Việt
của Nguyễn Như Ý, đánh giá là nhận xét bình phẩm về giá trị. Theo từ điển Tiếng Việt
của Văn Tân thì đánh giá là nhận thức cho rõ giá trị của một người hoặc một vật.
Đánh giá trong giáo dục, theo Dương Thiệu Tống là quá trình thu thập và xử lý
kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng và hiệu quả giáo dục. Căn cứ vào mục
tiêu dạy học, làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động trong giáo dục
tiếp theo. Cũng có thể nói rằng đánh giá là quá trình thu thập phân tích và giải thích
thông tin một cách hệ thống nhằm xác định mức độ đạt đến của các mục tiêu giáo dục
về phía học sinh. Đánh giá có thể thực hiện bằng phương pháp định lượng hay định
tính.
Như vậy đánh giá là việc đưa ra những kết luận nhận định, phán xét về trình độ

Công khai hóa nhận định về năng lực và kết quả học tập của mỗi học sinh và tập
thể lớp, tạo cơ hội cho học sinh phát triển kỹ năng tự đánh giá, giúp học sinh nhận ra
sự tiến bộ của mình, khuyến khích động viên việc học tập.Giúp cho giáo viên có cơ sở
thực tế để nhận ra những điểm mạnh và điểm yếu của mình, tự hoàn thiện hoạt động
dạy, phân đấu không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học.
Như vậy, KT - ĐG không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và định hướng,
điều chỉnh hoạt động của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định ra thực trạng và
điều chỉnh hoạt động dạy của thầy.
b. Ý nghĩa của việc KT - ĐG
KT - ĐG có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với học sinh, giáo viên và đặc biệt là
đối với cán bộ quản lí.
* Đối với học sinh:
- Việc KT - ĐG có hệ thống và thường xuyên cung cấp kịp thời những thông tin
"liên hệ ngược" giúp người học điều chỉnh hoạt động học.
- Về giáo dưỡng chỉ cho học sinh thấy mình đã tiếp thu điều vừa học đến mức độ
nào, còn thiếu sót nào cần bổ khuyết.
- Về mặt phát triển năng lực nhận thức giúp học sinh có điều kiện tiến hành các
hoạt động trí tuệ như ghi nhớ, tái hiện, chính xác hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa kiến
thức, tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy sáng tạo, linh hoạt vận dụng kiến
thức để giải quyết các tình huống thực tế.
- Về mặt giáo dục học sinh có tinh thần trách nhiệm cao trong học tập, có ý chí
vươn lên đạt những kết quả cao hơn, cũng cố lòng tin vào khả năng của mình, nâng
cao ý thức tự giác, khắc phụ tính chủ quan tự mãn.
* Đối với giáo viên:
- Việc KT - ĐG học sinh cung cấp cho giáo viên những thông tin "liên hệ ngược
ngoài", qua đó rút kinh nghiệm, điều chỉnh lại mục tiêu, lựa chọn phương pháp và nội
dung trọng tâm trong quá trình giảng dạy.
- KT - ĐG kết hợp với việc theo dõi thường xuyên giúp cho giáo viên nắm được
một cách cụ thể và khá chính xác năng lực và trình độ mỗi học sinh trong lớp, từ đó có
biện pháp cụ thể, thích hợp bồi dưỡng riêng cho từng nhóm học sinh, nâng cao chất

dẫn đến sai lầm. Vì vậy đổi mới phương pháp dạy học nhất thiết phải đổi mới, cải cách
KT - ĐG, sử dụng kỹ thuật ngày càng tiên tiến, có độ tin cậy cao, bên cạnh đó còn có
công cụ KT - ĐG cho học sinh để họ tự đánh giá kết quả lĩnh hội kiến thức của bản
thân mình, từ đó điều chỉnh uốn nắn việc học tập của bản thân.
Như vậy, việc KT - ĐG của người dạy phải khuyến khíchvà thúc đẩy được sự tự
KT - ĐG của người học. Hai mặt này phải thống nhất biện chứng với nhau. KT - ĐG
phải có tác dụng làm cho học sinh thi đua học tốt với chính mình chứ không phải để
ganh đua với người khác.
5. Các tiêu chuẩn về nhận thức áp dụng cho bài KT - ĐG.

Có 6 tiêu chuẩn về quá trình nhận thức được áp dụng cho KT - ĐG: đó là các
mức độ nhận thức đi từ thấp đến cao của hoạt động tư duy.
- Biết (còn gọi là nhớ lại):đây là khả năng thấp nhất trong lĩnh vực kiến thức.
- Hiểu: là kỹ năng học sinh hiểu được vấn đề họ biết, có khả năng áp dụng những kiến
thức đã biết vào việc giải quyết những vấn đề mới.
- Ứng dụng: là khả năng vận dụng các kiến thức quy luật, khái niệm, định luật…
nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể. Học sinh có khả năng tư duy tốt sẽ vận dụng
kiến thức tốt.
- Phân tích: là khả năng tách ra từng phần để nghiên cứu, để tìm hiểu rõ đối tượng hay
hiện tượng. Phân tích còn là sự phân biệt các dấu hiệu, các đặc tính riêng biệt của đối
tượng hay hiện tượng đó theo một hệ thống nhất định.
- Tổng hợp: Là kỹ năng kết hợp các yếu tố riêng biệt để rút ra những cái chung, các
bản chất nhất của đối tượng hay hiện tượng, tức là những dấu hiệu trong một tổng thể
phân tích và tổng hợp có sự liên kết mật thiết với nhau là hai mặt của một quá trình tư
duy thống nhất, nó có tác dụng quan trọng trong việc lĩnh hội các khái niệm khoa học.
- Đánh giá: Có thể coi là mức độ cao nhất của sự phát triển các kỹ năng về trí tuệ.
Dựa trên sự hiểu biết những phân tích và tổng hợp để rút ra kết luận đúng nhất, chính
xác nhất, xem xét kết luận này có ưu nhược điểm gì, có vai trò ra sao, tiến hành áp
dụng nó thế nào. Đó chính là kỹ năng mà có thể đề xuất việc nhận định chất lượng học
tập của học sinh.

- Khi KT - ĐG giáo viên phải biết nó là phương tiện để di đến mục đích, chứ bản
thân không phải là mục đích. Mục đích KT - ĐG là để có nhưng quyết định đúng đắn,
tối ưu nhất cho quá trình dạy học.
- KT - ĐG bao giờ cũng gắn với việc học tập của học sinh, nghĩa là trước tiên
phải chú ý đến việc học tập của học sinh. Sau đó mới kích thích sự nỗ lực học tập của
học sinh, cuối cùng mới KT - ĐG bằng điểm số.
- KT - ĐG bao giờ cũng đi kèm theo nhận xét để học sinh nhận biết những sai
sót của mình về kiến thức kỹ năng, phương pháp để học sinh nghiên cứu, trao đổi thêm
kiến thức.
- Qua những lỗi mắc phải của học sinh, giáo viên cần rút kinh nghiệm để phát
hiện ra những sai sót trong quá trình dạy và KT - ĐG của mình để thay đổi cách dạy
sao cho phù hợp với học sinh.
- Trong KT - ĐG nên sử dụng nhiều phương pháp và hình thức khác nhau nhằm
tăng độ tin cậy và chính xác.
- Lôi cuốn và khuyến khích học sinh tham gia vào quá trình KT - ĐG.
- Giáo viên phải thông báo rõ các loại hình câu hỏi để KT - ĐG giúp học sinh
định hướng khi trả lời.
- Phải dựa trên những cơ sở của phương phá dạy học mà xem xét kết quả của
một câu trả lời, của một bài kiểm tra, kết hợp với chức năng chẩn đoán hoặc quyết
định về mặt sư phạm.
- Trong các câu hỏi xác định về mặt định lượng, giáo viên thông qua các câu hỏi
yêu cầu học sinh giải thích bằng lời để xác định rõ nhận thức của học sinh.
- Phương pháp và cách thức tiến hành KT-ĐG phải diễn ra trong hoàn cảnh thoải
mái, học sinh cảm thấy tự nguyện, không lo lắng hay sợ sệt.
- Không nên đặt những câu hỏi mà bản thân giáo viên không thể trả lời một cách
chắc chắn được.
B. CÁC PHUƠNG PHÁP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
I. KT - ĐG bằng phương pháp quan sát
1. Bản chất
Phương pháp quan sát là phương pháp trong đó GV tổ chức cho HS sử dụng các

vật, mô hình mà còn là các đoạn phim, các dụng cụ thực tế trong sinh hoạt hàng ngày
trong tự nhiên và xã hội…Vì vậy GV có thể tổ chức cho HS quan sát ở trong lớp hay
ngoài thực tế hay có thể đi tới các xí nghiệp, nhà máy. GV nên sử dụng đối tượng quan
sát như là nguồn thi thức để tổ chức cho HS tiến hành các hoạt động học tập, từng
bước phát hiện ra kiến thức mới.
II. KT - ĐG bằng phương pháp vấn đáp
1. Bản chất
Phương pháp vấn đáp (đàm thoại) là phương pháp, trong đó giáo viên đặt ra
những câu hỏi để học sinh trả lời, hoặc có thể tranh luận với nhau và cả giáo viên, qua
đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học.
Căn cứ vào tính chất hoạt động nhân thức, người ta phân biệt 3 hình thức vấn đáp
sau:
- Vấn đáp tái hiện: GV đặt ra những câu hỏi chỉ yêu cầu HS nhớ lại kiến thức đã
biết và trả lơì dựa vào trí nhớ, không cần suy luận. Đó là hình thức được dùng khi cần đặt
mối liên hệ giữa kiến thức đã học với kiến thức sắp học hoặc khi cần củng cố kiến thức
vừa mới học.
- Vấn đáp giải thích – minh hoạ: Nhằm mục đích làm sáng tỏ một vấn đề nào đó,
GV lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để HS dễ hiểu, dễ nhớ.
Hình thức này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe nhìn.
- Vấn đáp gợi mở (hay còn gọi là vấn đáp tìm tòi): GV dùng một hệ thống câu hỏi
được sắp xếp hợp lý để dẫn dắt HS từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy
luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết.
Trong quá trình dạy học, GV có thể sử dụng cả 3 hình thức, tuy nhiên cần khuyến
khích GV sử dụng hình thức vấn đáp tìm tòi.
2. Quy trình thực hiện
Ở bậc học THPT, GV thường tổ chức hoạt động của HS trong phương pháp vấn đáp
theo các bước sau:
- Bước 1: GV đặt câu hỏi nhỏ, riêng rẽ.
- Bước 2: GV chỉ định từng HS trả lời hoặc để học sinh tự nguyện trả lời (mỗi học
sinh trả lời một câu hỏi và trước mỗi câu hỏi nên để thời gian cho HS suy nghĩ câu trả lời)

trong lớp và thời gian cần thiết để hoàn thành bài làm. Không nên chỉ chọn một đề bài,
mà cần chọn nhiều đầu bài có nội dung tương đương nhau nhưng hỏi về nhiều khía
cạnh khác nhau.
b. Ưu điểm
- Có thể đo được nhiều trình độ nhận thức theo hệ thống phân loại B.Bloom, đặc
biệt là ở trình độ tổng hợp. Không những kiểm tra được kiến thức học sinh mà còn
kiểm tra được kỹ năng kỹ xảo về giải bài tập, thực hiện các phép tính, vẽ đồ thị, chứng
minh các công thức.
- Có thể kiểm tra đánh giá các mục tiêu liên quan đến thái độ, sự hiểu biết những
ý niệm sở thích và diễn đạt tư tưởng.
- Hình thành cho học sinh thói quen suy diễn, khái quát, phát huy tính độc lập
sáng tạo
- Việc chuẩn bị câu hỏi rễ hơn, ít tốn kém hơn so với trắc nghiệm khách quan.
c. Nhược điểm
- Độ tin cậy thấp do số lượng câu hỏi hạn chế và việc chọn mẫu câu hỏi thiếu
tính chất tiêu biểu, độ tin cậy còn bị giảm đi vì phụ thuộc vào tính chất chủ quan, trình
độ của người chấm.
- Độ giá trị thấp do phụ thuộc vào yếu tố chủ quan khi chấm bài. Cùng một bài
thi cùng một người chấm nhưng ở hai thời điểm khác nhau hoặc hai người chấm độc
lập thì điểm số hầu như khác nhau.
- Việc chấm điểm khó chính xác so với trắc nghiệm khách quan.
2. Phương pháp trắc nghiệm khách quan
a. Khái niệm.
Trắc nghiệm khách quan (objective test), là một cụm từ đã xuất hiện trên thế giới
hàng trăm năm nay, theo các nhà nghiên cứu cũng như những nhà thực tiễn thường gọi
cụm từ này để chỉ hình thức tổ chức kiểm tra hoặc hình thức tổ chức thi cử, bằng cách
cho thí sinh lựa chọn và đánh dấu lên các mẫu tự để trả lời các câu hỏi trực tiếp hoặc
gián tiếp của đề thi.
Trắc nghiệm có thể hiểu như là một hoạt động kiểm tra và đo lường
kiến thức cũng như năng lực của các đối tượng nào đó, nhằm mục đích xác định. Đề

- Tiết kiệm thời gian : tiết kiệm thời gian coi thi vì thời gian làm bài trắc nghiệm
phải ngắn, tiết kiệm được thời gian chấm bài rất nhiều.
- Có tính tiện ích : Có thể sử dụng các phương tiện hiện đại trong chấm bài
và phân tích kết quả kiểm tra của HS (nếu bài thi trắc nghiệm được thiết kế trên máy
tính). Chấm bài nhanh, chính xác, khách quan, dễ cho điểm, đáng tin cậy.
- Sự may rủi hầu như không có: Vì một đề thi trắc nghiệm trải rộng gần toàn bộ
chương trình. Việc chọn ngẫu nhiên cũng có xác suất đúng được 25%. Nhưng tần suất
trả lời đúng đạt tối đa của xác suất này cũng chỉ là khoảng 25% câu hỏi
c. Nhược điểm của trắc nghiệm khách quan
- Tốn rất nhiều thời gian ở khâu chuẩn bị, soạn đề
- Khuyến khích đoán mò: thí sinh vẫn có thể suy đoán nếu không nắm bài đầy
đủ
- Dễ quay cóp lúc làm bài : vì đáp án chỉ là a, b, c, d nên rất dễ đọc kết quả cho
nhau nên đòi hỏi khâu coi thi phải chặc chẽ, nghiêm túc
- Khó khăn trong việc soạn nội dung đề trắc nghiệm: Người soạn TNKQ thường
chủ quan, vì cho rằng TNKQ soạn dễ. Kết quả là: bộ câu hỏi thường rời rạc, chuyên
biệt, không bao quát, thường không quan tâm đúng mức đến các kĩ năng phân tích và
tổng hợp.
d. Các hình thức của câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Về hình thức của câu hỏi trắc nghiệm khách quan: Hiện nay có khoảng 5 dạng
câu
hỏi trắc nghiệm khách quan thường được sử dụng để soạn thảo câu hỏi cho các đề
kiểm tra và đề thi trong các trường phổ thông; đó là Câu trả lời ngắn, câu trả lời đúng
sai, Câu hỏi tương thích, Câu hỏi lựa chọn đa phương án, Câu hỏi gốc là
dạng câu hỏi tổng quát …
* Dạng câu trả lời ngắn
* Yêu cầu: Trả lời một câu hỏi hoặc điền thêm vào một câu cho đúng nghĩa bằng
một từ, một nhóm từ, một ký hiệu, một công thức…
* Ưu điểm
- Dễ xây dựng

2 cột đối xứng.
* Ưu điểm
- Dễ xây dựng
- Có thể hạn chế sự đoán mò bằng cách tăng lượng thông tin trong bảng chọn.
* Nhược điểm
- Chủ yếu dùng để kiểm tra nhận biết
- Thông tin có tính dàn trải, không nhấn mạnh được những điều quan trọng.
* Ví dụ: Hãy nối ý cột bên trái sao cho phù hợp với cột bên phải
Triac Có 1 lớp tiếp giáp P - N
Tirixto Có 2 lớp tiếp giáp P - N
Tranzito Có 3 lớp tiếp giáp P - N
Điốt Có 4 lớp tiếp giáp P - N
* Dạng câu hỏi lựa chọn đa phương án
* Yêu cầu: Lựa chọn một phương án trả lời đúng hoặc đúng nhất trong các
phương án đã chọn.
* Ưu điểm
- Có thể sử dụng để kiểm tra các kỹ năng kiến thức bậc cao.
- Hạn chế được khả năng đoán mò của học sinh.
- Đánh giá chính xác kiến thức, kỹ năng của học sinh.
* Nhược điểm
- Khó biên soạn các câu dùng để đánh giá các kỹ năng đánh giá nhận thức bậc cao
hơn.
- Vì có nhiều phương án được chọn nên khó xây dựng hệ thống câu hỏi có chất
lượng cao.
- Tồn tại tỷ lệ đoán mò phụ thuộc vào tỷ lệ phương án được cho.
* Những điểm cần lưu ý:
- Không nên đưa nhiều ý khác nhau trong cùng 1 phương án
- Cần cẩn thận khi đưa vào phương án “tất cả câu trên đều đúng” hoặc “tất cả câu
trên đều sai”.
* Ví dụ: Mạch nào không phải là mạch điện tử điều khiển

THPT Hậu Lộc 2 cho thấy cách KT - ĐG kết qủa học tập của học sinh trước đây
thường do giáo viên thực hiện. Cách đặt câu hỏi, ra đề kiểm tra thường chú ý đến khả
năng ghi nhớ và tái hiện kiến thức của học sinh.
Cách KT - ĐG bộc lộ những hạn chế nhất định như: các bài kiểm tra không thể
hiện được tất cả nội dung kiến thức mà các học sinh được học ở trường, bài kiểm tra
chỉ kiểm tra được những kiến thức mà học sinh ghi nhớ từ sách giáo khoa, không kiểm
tra được những kiến thức quan trọng khác. Kết quả KT - ĐG chưa chính xác với kết
quả học tập của học sinh trong cả quá trình. Việc cho điểm không thống nhất giữa giáo
viên trong cùng một tổ chuyên môn, một trường và giữa các trường còn khá phổ biến
Những bất cập với hệ thống KT - ĐG ở nhà trường phổ thông hiện nay:
Hệ thống KT - ĐG học sinh trong nhà trường bao gồm việc xác định chuẩn mực KT -
ĐG, người KT - ĐG và phương thức KT - ĐG
* Chuẩn KT - ĐG học sinh
Mục tiêu đào tạo nhà trường đề ra là giáo dục toàn diện thể hiện qua các tiêu chí
Đức, Trí, Thể, Mỹ, Lao động. Học sinh trong nhà trường phổ thông được KT - ĐG
“theo những chuẩn” sau:
- Về Đức, học sinh được KT - ĐG thông qua giáo viên chủ nhiệm có tham khảo
giáo viên bộ môn và tổ chức Đoàn định kỳ hàng năm và học kỳ.
- Về Trí, học sinh được giáo viên bộ môn KT - ĐG qua điểm số đạt được ở các
môn học. Đây là nội dung KT - ĐG được nhà trường, gia đình và xã hội quan tâm
nhiều nhất với hệ thống KT - ĐG quy mô nhất trong các tiêu chí.
- Về Thể chất, học sinh chỉ mới được giáo viên thể dục KT - ĐG qua giờ học bộ
môn, chưa được KT - ĐG thể chất học sinh một cách toàn diện.
- Về Mỹ học, học sinh hầu như chưa được KT-ĐG, hay nói đúng hơn là chỉ được
KT-ĐG qua hai môn Nhạc, Họa (nếu có giáo viên giảng dạy).
- Về Lao động hướng nghiệp, đây là nội dung quan trọng trong quá trình đào tạo
của nhà trường mới. Việc KT - ĐG học sinh ở lãnh vực này, chỉ được giáo viên phụ
trách ghi nhận thông qua môn Nghề phổ thông.
Với chuẩn KT - ĐG vừa nêu, ta thấy phần nào sự thiếu hoàn chỉnh của hệ thống
tiêu chí đánh giá quá trình đào tạo so với mục tiêu giáo dục toàn diện của

chương trình giáo dục phổ thông theo tinh thần NQ 40/2000/QH10 của Quốc hội.
1. Công cụ KT - ĐG
Môn Công Nghệ cũng như các môn học khác, chủ yếu dùng câu hỏi luận đề để
đo kết quả học tập của học sinh. Các câu hỏi thường sử dụng câu hỏi trong sách giáo
khoa sách giáo viên. Hệ thống câu hỏi yêu cầu chính là học sinh tái hiện lại kiến thức
đã học, phần học sinh vận dụng kiến thức, giải quyết tình huống…rất ít. Có thể nói
công cụ KT - ĐG này chỉ dựa vào trí nhớ của học sinh là chính.
2. Cách tổ chức kiểm tra
Trước khi kiểm tra các bài 15 phút, 1 tiết hay học kỳ, giáo viên cho trước một số
câu hỏi, nội dung ôn tập để học sinh chuẩn bị soạn phần trả lời rồi học thuộc lòng, đến
khi kiểm tra thì viết lại nguyên văn. Các bài tập cũng cho trước và giải mẫu cho học
sinh học thuộc bài giải. Nội dung đề kiểm tra không có gì nằm ngoài sự chuẩn bị của
học sinh.
3. Kết quả học tập
- Phần lớn học sinh đạt điểm trên trung bình, nhìn vào kết quả điểm số chúng ta
thấy kết quả rất khả quan, nhưng xét về chất lượng thật thì còn nhiều tồn tại đáng lo
ngại. Học sinh học thụ động, chưa tích cực tham gia xây dựng bài học, ít đào sâu suy
nghĩ tìm tòi, ít thắc mắc; chưa chú ý học thường xuyên, chỉ chờ đến khi có câu hỏi
kiểm tra mới lo học các câu hỏi ấy, chỉ học trả lời theo câu hỏi mà không học theo hệ
thống kiến thức trọng tâm. Học sinh rất mau quên những điều đã thuộc.
- Với những nội dung đã thuộc, khi kiểm tra học kỳ (Trường ra đề chung) chỉ có
thay đổi một chút ít, thì phần nhiều học sinh không làm được.
- Học sinh vẫn học bài theo lối học thuộc máy móc, ít chú ý thay đổi phương
pháp học.
III. QUÁ TRÌNH THỬ NGHIỆM CẢI TIẾN KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
Ở TRƯỜNG THPT HẬU LỘC 2 TỪ NĂM 2012 ĐẾN NAY.
Từ năm học 2012 – 2013 đến nay tôi đã tiến hành thử nghiệm cách ‘‘Đổi mới
cách KT - ĐG kết quả học tập môn công nghệ bậc THPT” ở các lớp tôi giảng dạy và
tôi nhận thấy.
Để học sinh nắm vững kiến thức đã học. Sau mỗi bài học, mỗi chương tôi hướng

học sinh chấp nhận đề kiểm tra có câu hỏi ngắn, chỉ có 4.38% học sinh chấp nhận câu
hỏi luận đề.
- Đối với các đề kiểm tra đã làm, có:
+ 92.15% học sinh KT - ĐG là tốt;
+ 7.84% không có ý kiến;
+ không có ý kiến nào KT - ĐG chưa tốt.
+ 70% học sinh nhìn nhận với cách kiểm tra mới làm cho bản thân có
hứng thú trong học tập và có tác động làm thay đổi cách học theo hướng mới.
+Thống kê kết quả điểm của các loại bài kiểm tra của học sinh đảm bảo phân hóa
được trình độ học sinh, đảm bảo được đường cong chuẩn.
Phần III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kiểu KT - ĐG học sinh môn Công nghệ bằng hình thức tự luận có nhiều hạn
chế như nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh. Để nâng cao chất lượng dạy học
môn học Công nghệ cần phải thay đổi cách kiểm tra đánh giá, cần có công cụ đánh giá
khách quan. Qua hơn một năm thử nghiệm, bước đầu tôi xin có một vài kết luận :
- Đề kiểm tra môn Công nghê. thích hợp nhất là câu hỏi đặt ra yêu cầu học sinh
hiểu bài và ghi nhớ ý nghĩa nội dung học.
- Hình thức trắc nghiệm kết hợp với câu hỏi ngắn là có nhiều ưu điểm.
- Công cụ đánh giá phải được thử nghiệm và hoàn thiện dần, tiến đến chuẩn hóa.
- Khi thay đổi cách KT - ĐG chắc chắn sẽ dẫn đến thay đổi cách dạy và cách
học. Vì vậy muốn đổi mới PPDH cần phải quan tâm đầu tư nghiên cứu đổi mới cách
KT - ĐG sao cho phù hợp.
Tôi nghĩ rằng trong trường THPT nên thưc hiện chuẩn hóa KT - ĐG kết quả
học tập môn Công nghệ cũng như các môn khác, làm sao đánh giá được chất
lượng thật sự của học sinh, chúng ta mới có thể tránh được tệ nạn gian dối, thiếu trung
thực trong kiểm tra đánh giá và hàng loạt các tiêu cực khác …là nguyên nhân quan
trọng làm cho chất lượng giáo dục chưa đảm bảo được yêu cầu đã diễn ra trong thời
gian qua.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status