“Vấn đề bảo vệ quyền trẻ em theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn thực hiện tại tỉnh Quảng Nam” - Pdf 33

PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”, là câu nói bao hàm đầy đủ ý
nghĩa về trẻ em. Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất nước,
là người kế tục sự nghiệp của dân tộc vì vậy chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ
em để tạo điều kiện cho trẻ em phát triển toàn diện về cả thể lực lẫn trí lực là
vấn đề mang tính chất toàn cầu, thu hút được sự quan tâm của cộng đồng
quốc tế hiện nay.
Tuy nhiên hiện nay, ở nhiều nơi trên thế giới, vẫn còn tình trạng trẻ em
phải tự lao động kiếm sống, bị lừa gạt, bạo lực, bóc lột sức lao động, sa vào
các tệ nạn xã hội và đang có chiều hướng gia tăng. Điều này làm cho quyền
và lợi ích của trẻ em bị xâm phạm nghiêm trọng, trở thành vấn đề nhức nhối
của gia đình, nhà trường, xã hội, Nhà nước và toàn cộng đồng. Bởi vậy, hơn
lúc nào hết, vấn đề quyền trẻ em được đặt ra như một nhu cầu bức bách cần
được giải quyết, nhằm giành lại cho các em quyền được sống, quyền được
học hành, vui chơi, được chăm sóc và bảo vệ…Những khẩu hiệu “Trẻ em
hôm nay, thế giới ngày mai”, “Hãy dành tất cả những gì tốt đẹp nhất cho trẻ
em mà mình có”…đã và đang là khẩu hiệu hành động của các quốc gia.
Ở Việt Nam, ngay từ khi phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em
năm 1990 (CƯQTVQTE), UNICEF đã phối hợp chặt chẽ với chính phủ Việt
Nam xây dựng Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em và nỗ lực triển
khai thực hiện. UNICEF đã kiên trì thực hiện các hoạt động truyền thông
nhằm nâng cao nhận thức của những người có vai trò và ảnh hưởng đối với
trẻ em. Bởi vậy, trẻ em Việt Nam đã, đang và sẽ được hưởng những cơ hội tốt
đẹp so với trước đây. Mức sống của nhiều gia đình được cải thiện, các bậc cha
mẹ có sự lựa chọn dễ dàng hơn trong việc tổ chức cuộc sống và điều này có
ảnh hưởng tích cực tới lợi ích của trẻ em. Thời gian qua, cùng với cả nước
tỉnh Quảng Nam cũng đã có những tiến bộ trong việc chăm lo cho thế hệ mầm
1





em, và ngăn chặn sự xâm hại đối với trẻ em, tạo môi trường nhận thức và
pháp lý tốt nhất để trẻ em được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục.
Dưới góc độ chuyên ngành, cũng có một số luận văn, luận án nghiên
cứu các vấn đề bảo vệ quyền trẻ em như: Luận văn Th.s của Lê Thị Nga:
“Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam – Thực trạng và giải pháp”;
Luận án T.s của Nghiêm Sỹ Liêm “Vai trò của Gia đình Việt Nam hiện nay
trong việc giáo dục thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay” H. 2001.
Các bài viết này cũng đã góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn
thực hiện pháp luật bảo vệ quyền trẻ em. Tuy nhiên, căn cứ vào điều kiện
thực tiễn ở tỉnh Quảng Nam, công tác bảo vệ quyền trẻ em vẫn còn những hạn
chế nhất định. Do đó, tôi thấy rằng việc nghiên cứu đề tài: “Vấn đề bảo vệ
quyền trẻ em theo pháp luật Việt Nam - Thực tiễn thực hiện tại tỉnh Quảng
Nam” là một vấn đề cần thiết, không trùng lặp với các luận văn, luận án sau
đại học và các công trình nghiên cứu đã được công bố.
3. Mục tiêu của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm các mục tiêu sau:
- Làm sáng tỏ các quy định hiện hành của hệ thống pháp luật về bảo
vệ quyền trẻ em.
- Thực tiễn thực hiện pháp luật bảo vệ quyền trẻ em trên địa bàn tỉnh
Quảng Nam.
- Trên cơ sở phân tích, đánh giá các quy định hiện hành và thực tiễn
pháp luật bảo vệ quyền trẻ em, báo cáo đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động bảo vệ quyền trẻ em.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
- Pháp luật quốc tế về quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em.
- Pháp luật Việt Nam về quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em.
- Thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ quyền trẻ em trên địa bàn tỉnh

- Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật .
- Chương 2: Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động bảo vệ quyền trẻ em trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

4


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM TRONG PHÁP
LUẬT
1.1 Khái niệm trẻ em trong pháp luật
Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất nước, là người
kế tục sự nghiệp của dân tộc…Ý thức được điều đó, ngay từ thửa ban đầu trẻ
em đã được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt. Tuy nhiên, quyền trẻ em vẫn chưa
được đặt ra trong pháp luật. Trong bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền
năm 1789 của nước Pháp cũng chưa đề cập đến khái niệm quyền trẻ em mà
chỉ đề cập đến quyền con người nói chung. Vì thế, cho đến những năm đầu
của thế kỉ XX, đời sống của trẻ em vẫn chưa được quan tâm một cách thích
đáng từ cộng đồng quốc tế. Vấn đề này chỉ được chính thức đặt ra và thu hút
được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất
(1914 - 1918) cùng với việc thành lập các tổ chức cứu trợ trẻ em của hai nước
Anh và Thụy Điển vào năm 1910.
5


Tuyên ngôn Giơnevơ về quyền trẻ em do Hiệp hội quốc tế các quỹ cứu
trợ trẻ em khởi thảo dựa trên cơ sở Hiến chương về quyền trẻ em năm 1923
và được Hội quốc liên thông qua ngày 26 - 9 - 1924, kể từ đó, quyền trẻ em
đã trở thành một khái niệm được khẳng định và được thừa nhận.

chức Lao động quốc tế (ILO), tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên
Hợp Quốc (UNESSCO) thì trẻ em là người dưới 15 tuổi.
Trong khoa học pháp lý Việt Nam, hầu như chưa có một định nghĩa
nào về trẻ em. Thông thường chỉ thấy một số ngành luật nhắc tới khái niệm
trẻ em, NCTN. Tuy nhiên, các quy định này không thống nhất giữa tất cả các
ngành luật.
Điều 1 LBVCS&GDTE năm 2004 quy định: “Trẻ em được quy định
trong Luật này là công dân dưới 16 tuổi” [27,Đ1]. Trong khi đó, theo quy
định tại Điều 18 BLDS được Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa
Việt Nam thông qua ngày 14 - 6 - 2005: “Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người
thành niên. Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên” [7,11]. Như vậy,
khái niệm NCTN rộng hơn khái niệm trẻ em; trẻ em đương nhiên là NCTN,
còn NCTN từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi không được coi là trẻ em theo pháp
luật Việt Nam.
1.2 Pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền trẻ em
Trong mọi xã hội, trẻ em đều là đối tượng được Nhà nước và cả xã hội
dành sự quan tâm, chăm sóc đặc biệt, bởi đó là thế hệ tương lai của mỗi quốc
gia và của nhân loại. Chính vì vậy, việc tạo mọi điều kiện tốt nhất cho sự phát
triển dần dần và đi tới sự phát triển một cách toàn diện về nhân cách, về lối
sống, về nhận thức,…chính là việc bảo đảm cho trẻ em có được các quyền cơ
bản như: quyền được có tên và quốc tịch; quyền được bảo vệ và chăm sóc;
quyền không bị cách ly khỏi cha mẹ; quyền được chăm sóc sức khoẻ; quyền
được học hành; quyền được sống trong môi trường lành mạnh; quyền được
7


thông tin; quyền được giải trí; quyền được hội họp; quyền được bảo vệ chống
lại sự ngược đãi…
Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một vấn đề lớn đang được cộng
đồng quốc tế quan tâm.Trước khi Liên Hợp Quốc được thành lập, các quốc

Quốc, đặc biệt trong tinh thần hòa bình, phẩm giá, khoan dung, tự do, bình
đẳng và đoàn kết” [15,48].
Điều 1 của Công ước đã đưa ra khái niệm trẻ em, theo đó “trẻ em
nghĩa là những người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với
trẻ em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn” [15,49].
Công ước xác lập các nguyên tắc cơ bản về quyền trẻ em xuyên suốt
các điều khoản, bao gồm:
1. Không phân biệt đối xử trong việc đảm bảo thực hiện các quyền trẻ
em.
2. Dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em.
3. Trẻ em có quyền xác lập, bày tỏ các ý kiến riêng của mình và quyền
đó phải được tôn trọng.
4. Những quy định trong pháp luật Quốc gia hay pháp luật Quốc tế có
lợi hơn cho trẻ em so với những điều khoản quy định trong Công ước sẽ được
áp dụng.
Trên cơ sở 4 nguyên tắc cơ bản đã được nêu trên, sự điều chỉnh của
Công ước đối với việc bảo vệ các quyền trẻ em bao gồm các nhóm quyền sau
đây:
1. Quyền được sống: Bao gồm các quyền của trẻ em được sống và được
đáp ứng những nhu cầu để tồn tại. Các nhu cầu đó gồm: mức sống đủ, có nơi
ở và được chăm sóc sức khỏe.
2. Quyền được phát triển: Bao gồm những điều kiện mà trẻ em cần có
để phát triển đầy đủ nhất như: quyền được hưởng giáo dục, vui chơi tiếp cận
thông tin, tự do tín ngưỡng tôn giáo.
3. Quyền được bảo vệ: Là những điều khoản đòi hỏi trẻ em phải được
bảo vệ chống lại các hình thức lạm dụng, sao nhãng và bị bóc lột. Các quyền
này bao gồm những vấn đề như: Bảo vệ đặc biệt cho trẻ em khỏi bị tra tấn,
lạm dụng khi vi phạm hình sự, không bị tham gia vào các cuộc xung đột vũ
trang, lao động trẻ em, nghiện ma túy và lạm dụng tình dục.
4. Quyền được tham gia, cho phép trẻ em đóng một vai trò tích cực

hoàn thiện trên tất cả các lĩnh vực pháp luật và đặc biệt có luật điều chỉnh
riêng về trẻ em.
1.3 Quan điểm của Đảng ta về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
10


Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là đường lối nhất quán, xuyên
suốt trong sự nghiệp lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Đặc biệt trong
thời gian vừa qua, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đại hội của trí tuệ,
dân chủ, đổi mới và đoàn kết đã thành công tốt đẹp. Văn kiện Đại hội Đại
biểu toàn quốc lần thứ XI lại thêm một lần nữa khẳng định đường lối, chính
sách của Đảng và Nhà nước ta với mục tiêu và động lực chính của sự phát
triển là do con người, cho con người và vì con người, trong đó vấn đề bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em được đặt vào vị trí ưu tiên hàng đầu trong chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Ngay từ buổi đầu thành lập (3 - 2 - 1930) dù trong hoàn cảnh kháng
chiến khó khăn, nhiệm vụ lớn nhất là giành chính quyền nhưng Đảng vẫn
giành mối quan tâm lớn nhất cho chính sách đối với trẻ em thể hiện thái độ
cuộc cách mạng nhân dân xác định rất lớn.
Trong Chương trình Việt Minh với tư cách là một cương lĩnh vận động
cách mạng tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền do Đảng lãnh đạo được đưa
ra trong những ngày tiền khởi nghĩa đã xác định học sinh, nhi đồng như hai
tầng lớp nhân dân - lực lượng của cuộc cách mạng: Đối với học sinh chính
sách của Việt Minh là: “bỏ học phí, mở thêm trường học, giúp đỡ học sinh
nghèo” [25,419], đối với nhi đồng thì được “Chính Phủ chăm sóc đặc biệt về
thể lực và trí lực” [25,422]. Trong bài diễn ca Hồ Chí Minh viết, ý tưởng này
đã trở thành lời ca thân thiết:
“Trẻ em bố mẹ khỏi lo
Dạy nuôi Chính Phủ giúp đỡ cho đầy đủ
Thanh niên có trường học nhiều

toàn dân đã có phong trào chăm lo và bảo vệ thiếu niên, nhi đồng diễn ra rộng
khắp các địa phương trong cả nước.
Năm 1975 giành độc lập tại miền Nam và thống nhất đất nước, Nước
ta bước vào thời kỳ quá độ tiến lên CNXH. Vẫn nhất quán với tư tưởng về
con người về trẻ em, Đảng ta lại có những điều kiện mới để chăm lo giáo dục
trẻ em. Năm 1979, chính sách, đường lối của Đảng về trẻ em được cụ thể hóa
12


trong Pháp lệnh Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1979. Có thể coi
Pháp lệnh này là một trong những nền tảng pháp lý đầu tiên trong công tác
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Đến cuối những năm 80, Đảng và Nhà nước ta tiến hành công cuộc
đổi mới Nhà nước trên nhiều phương diện. Vấn đề bảo vệ quyền trẻ em cũng
là một bộ phận quan trọng của công cuộc đổi mới. Đường lối, chính sách đổi
mới của Đảng ta về công tác bảo vệ quyền trẻ em được tiến hành trên chiều
sâu lẫn chiều rộng và được thể chế hóa trong pháp luật.
Đầu tiên về thành tựu lập pháp, hàng loạt các văn bản có hiệu lực
pháp lý cao đã ra đời nhằm thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng về trẻ
em vào trong hệ thống pháp luật cho phù hợp với tình hình mới. Đó là: BLHS
năm 1985, LHN - GĐ năm 1986, Luật Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân
năm 1988. Đặc biệt với sự kiện CƯQTVQTE ra đời vào năm 1989, ngay sau
đó, Việt Nam là nước đầu tiên của Châu Á và là nước thứ hai của thế giới phê
chuẩn Công ước này mà không bảo lưu một điều khoản nào. Hơn nữa, chúng
ta còn ban hành LBVCS&GDTE năm 1991, Luật Phổ cập giáo dục tiểu học
năm 1991, Luật Giáo dục năm 1998 nhằm cụ thể hóa các quy định của Công
ước vào hệ thống pháp luật quốc gia. Ngoài ra, chúng ta còn tổ chức nhiều
chương trình hành động quốc gia vì trẻ em trên nhiều lĩnh vực như: giáo dục,
y tế, dinh dưỡng.
Đặc biệt với sự ra đời của Chỉ thị 38-CT/TW ngày 30 - 5 - 1994 của

1.4 Pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền trẻ em
1.4.1 Tổng quan về sự điều chỉnh của pháp luật Việt nam về quyền trẻ
em
Việt Nam, vốn coi gia đình là tế bào của xã hội, trong đó ông bà, bố mẹ
có trách nhiệm chăm lo cho con cháu. Theo truyền thống này, trẻ em được
dạy dỗ để làm “rạng danh giống nòi”. Với truyền thống tốt đẹp của dân tộc,
thấm nhuần lời dạy của Hồ Chí Minh: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi
ích trăm năm trồng người”, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn luôn quan

14


tâm tới việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, coi đây là sự nghiệp cao
quý, trách nhiệm to lớn với tương lai của dân tộc và đất nước.
Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên của chế độ - Hiến pháp năm 1946,
Nhà nước ta đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt đối với trẻ em - người chủ
tương lai của đất nước. Trong hai cuộc kháng chiến, mặc dù nhiệm vụ kháng
chiến thống nhất đất nước mới là nhiệm vụ quan trọng nhưng Đảng và Nhà
nước ta vẫn quan tâm tới công tác chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em.
Tháng 9 năm 1972 Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội phát động phong trào bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em theo khẩu hiệu: “Tất cả vì tương lai con em
chúng ta”. Nhà nước ta đã coi pháp luật là phương tiện quan trọng để thể chế
hóa đường lối chính sách của Đảng về quyền trẻ em. Vì thế năm 1979 Nhà
nước ta đã ban hành Pháp lệnh bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Đẩy mạnh công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Hiến pháp
năm 1980 tiếp tục kế thừa các yếu tố tiến bộ của Hiến pháp năm 1959. Trên
cơ sở này, các văn bản pháp luật ra đời nhằm thể chế hóa các quy định của
Hiến pháp 1980: BLHS năm 1985, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988, Luật
Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989.
Đất nước chuyển sang thời kỳ phát triển mới, vấn đề trẻ em đã có

thực hiện các nhóm quyền của trẻ em. Trước đây, nhiều người chưa hiểu và
còn ngại ngùng khi nói đến việc trẻ em có “các quyền” nhưng bây giờ vấn đề
quyền trẻ em đã được xã hội, gia đình thừa nhận một cách tự nhiên và được
ghi nhận trong nhiều ngành luật.
1.4.2.1 Quyền được khai sinh và có quốc tịch
Một trong những quyền quan trọng đầu tiên cuả trẻ em là quyền được
khai sinh. Bởi vì quyền được khai sinh là cơ sở điều kiện để thực hiện các
quyền cơ bản khác của trẻ em như quyền có họ tên, có quốc tịch, có bản sắc
riêng, quyền được biết cha mẹ mình là ai,...Có thể nói quyền được khai sinh là
quyền đầu tiên để khẳng định mỗi trẻ em là một con người đặc biệt, một chủ
thể độc lập, một công dân bình đẳng với các công dân khác. Chính vì vậy,
CƯQTVQTE đã khẳng định rằng: “Trẻ em phải được đăng kí ngay lập tức
ngay khi sinh ra và có quyền có họ tên, quyền có quốc tịch và trong chừng
16


mực có thể, quyền biết cha mẹ mình và được cha mẹ mình chăm sóc sau khi
ra đời” [15,50].
Ngay tại Điều 11 nói về quyền cơ bản và bổn phận của trẻ em
trong LBVCS&GDTE năm 2004 tuyên bố: “Trẻ em có quyền được khai sinh
và có quốc tịch” [27,Đ11]. Tuy nhiên, quyền được khai sinh không phải là
một quyền riêng có của trẻ em mà là của bất cứ cá nhân nào. Thế nhưng trong
thực tế cũng như theo pháp luật về hộ tịch thì mỗi cá nhân đều phải được khai
sinh ngay từ khi mới sinh ra và do đó quyền được khai sinh của mỗi người
gần đồng nghĩa với quyền được khai sinh của trẻ em. Nói đến quyền khai sinh
của trẻ em, Điều 7 Công ước cũng đã nhấn mạnh là phải được khai sinh ngay
lập tức sau khi được sinh ra. Thuật ngữ “ngay lập tức” trong trường hợp này
được hiểu là việc khai sinh được thực hiện càng sớm càng tốt và do đó pháp
luật phải định ra một thời hạn nhất định là bao nhiêu ngày kể từ lúc trẻ sinh ra
phải khai sinh cho trẻ. Theo pháp luật về hộ tịch Việt Nam thì thời hạn đó là

con và đăng ký khai sinh” [36,Đ15].
Qua đó thể hiện quan điểm nhân đạo Đảng và Nhà nước ta. Việc pháp
luật hộ tịch tạo ra mọi thủ tục bình thường cho việc đăng ký khai sinh cho con
ngoài giá thú không phải tạo ra tác dụng phụ về khuyến khích hiện tượng xã
hội không lành mạnh mà nhằm giải quyết hậu quả đã xảy ra trên quan điểm
nhân đạo và về quyền con người.
Quyền khai sinh của trẻ em bị bỏ rơi
Vấn đề trẻ sơ sinh bị bỏ rơi là một hiện tượng xã hội thực tế không chỉ
ở Việt Nam mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có. Theo quy định Nghị
Định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch:
- Người phát hiện trẻ sơ sinh bị bỏ rơi có trách nhiệm bảo vệ trẻ và báo
ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn, nơi trẻ
bị bỏ rơi để lập biên bản và tìm người hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ
em đó. Quy định này không chỉ nhằm bảo vệ tính mạng, bảo vệ quyền được
18


sống của trẻ sơ sinh mà còn bảo vệ quyền được biết cha mẹ mình là ai của
trẻ.
- Cá nhân, tổ chức nuôi dưỡng phải khai sinh cho trẻ sơ sinh theo pháp
luật về hộ tịch.
Những quy định trên chứng tỏ tinh thần chung của pháp luật là trong
mọi trường hợp đều phải cố gắng tới mức tối đa có thể để khai sinh cho trẻ
em bị bỏ rơi.
Quyền được đăng ký khai sinh của trẻ sơ sinh bị chết
Theo quy định của Nghị Định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về
đăng ký và quản lý hộ tịch: “Trẻ em sinh ra được sống 24h trở lên rồi mới
chết, thì cũng phải đăng ký khai sinh theo quy định của Nghị Định,..”[36,
Đ23]. Quy định trên không phải là sự máy móc của pháp luật, cũng không
phải chỉ có mục đích duy nhất là phục vụ cho công tác thống kê y tế tìm

- Nguyên tắc tự nguyện khai nhận cha
Theo quy định tại Điều 43 BLDS năm 2005 và Điều 64 LHN - GĐ
năm 2000 thì một người đàn ông có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm
quyền xác nhận mình là cha của đứa trẻ.
Trong thực tế, không phải bao giờ việc xác nhận cha mẹ cho trẻ cũng
đều thực hiện được. Đặc biệt trong những trường hợp con ngoài giá thú, con
bị bỏ rơi thì vấn đề càng khó khăn và phức tạp hơn nữa. Tuy nhiên, để bảo vệ
quyền có cha mẹ của trẻ em, việc đứa trẻ ra đời từ một người cha, người mẹ
nhất định được xác định dù giữa cha mẹ có tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp
hay không. Đó cũng xuất phát từ bản chất tốt đẹp, tính nhân đạo xã hội chủ
nghĩa của Nhà nước ta.
Một vấn đề có ý nghĩa pháp lý quan trọng đối với mỗi người đó là
việc xác định một người có quốc tịch nào ở một quốc gia. Đối với trẻ em thì
việc xác định quốc tịch cho trẻ từ khi mới sinh ra lại càng có ý nghĩa vì chúng
là những người nhỏ tuổi, còn non nớt, cần được hổ trợ giúp đỡ, do vậy việc
20


xác định các em thuộc quốc tịch nào gắn liền với quyền và lợi ích mà các em
được hưởng.
Từ góc độ bảo vệ trẻ em, Luật Quốc tịch năm 2008 đã khẳng định
đường lối nhất quán của Nhà nước ta đảm bảo cho trẻ em từ khi sinh ra có
quyền được có quốc tịch. Luật đã khẳng định quyền nhân thân thiêng liêng
của trẻ em là có quốc tịch, theo đó xác định quyền, lợi ích của các em được
hưởng và bổn phận công dân của các em.
1.4.2.2 Quyền được bảo vệ và chăm sóc
Trên cơ sở thừa nhận hoàn cảnh đặc biệt của trẻ em là còn non
nớt về thể chất và trí tuệ cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt. Điều 18
CƯQTVQTE yêu cầu các quốc gia thành viên phải đảm bảo thừa nhận
nguyên tắc là cả cha mẹ có trách nhiệm chung trong việc nuôi dưỡng và

nền đạo đức mới. LHN - GĐ năm 1986, LHN - GĐ năm 2000 tiếp tục kế thừa
nguyên tắc này. Điều 34 LHN - GĐ năm 2000 đã quy định rõ: “Cha mẹ
không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi hành hạ, xúc phạm
con,...” [32,26]. Đảm bảo cho các em được chăm sóc tốt ngay cả khi cha mẹ
đã ly hôn, LHN - GĐ năm 2000 đã quy định vấn đề cấp dưỡng: “Khi ly hôn,
cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con chưa thành niên hoặc con đã thành niên
bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không
có tài sản để tự nuôi mình có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con” [32,Đ56].
Sống chung với cha mẹ là quyền năng đặc biệt để đảm bảo cho trẻ phát
triển toàn diện và trở thành những người có ích cho xã hội. Điều 13
LBVCS&GDTE năm 2004 quy định: “Trẻ em có quyền sống chung với cha

mẹ” [27,Đ13]. Tuy nhiên, xuất phát từ thực tế, có nhiều trường hợp cha mẹ vi
phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con, hành
hạ con hoặc bắt con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Do đó,
LHN - GĐ năm 2000 cũng quy định các trường hợp hạn chế quyền của cha
mẹ đối với con chưa thành niên. “Cha, mẹ có thể bị Tòa án quyết định không
22


cho trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản của con hoặc đại diện
cho con trong thời hạn từ 1 đến 5 năm khi bị xử phạt về một trong các tội cố ý
xâm phạm sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của các con hoặc có hành vi vi
phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;
phát tán tài sản của con; có lối sống đồi trụy, xúi dục, ép buộc con làm những
việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội” [32,Đ43].
Pháp luật hình sự cũng tham gia bảo vệ quyền bảo vệ và chăm sóc
của trẻ em bằng những quy định cụ thể trong BLHS sửa đổi, bổ sung
năm 2009.Với mục đích bảo vệ các em tránh khỏi nguy cơ xâm hại thông
qua việc đưa ra những hình phạt nghiêm khắc đối với những hành vi

pháp lý quan trọng, đánh dấu một bước phát triển có ý nghĩa của nền lập pháp
nước ta, tạo cơ sở pháp lý cho quyền học tập cuả trẻ em. Đó là Hiến pháp năm
1992, LBVCS&GDTE năm 1991 nay là LBVCS&GDTE năm 2004, Luật Phổ
cập giáo dục tiểu học năm 1991, Luật Giáo dục năm 2005 sửa đổi, bổ sung
năm 2009.
Hệ thống cơ sở pháp lý trong các văn bản nêu trên đề cập quyền của
trẻ em, một mặt thể hiện chủ trương nhất quán từ trước tới nay coi trọng giáo
dục thế hệ trẻ của đất nước, mặt khác thể hiện yêu cầu có tính pháp lý cao đối
với trách nhiệm của gia đình, nhà trường và toàn xã hội.
Hiến pháp năm 1992 quy định: “Học tập là quyền và nghĩa vụ của công
dân. Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí. Công dân có quyền học
văn hóa và học nghề bằng nhiều hình thức. Học sinh có năng khiếu được Nhà
nước và xã hội tạo điều kiện học tập để phát triển tài năng. Nhà nước có chính
sách học phí, học bổng. Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em tàn tật
được học văn hóa và học nghề phù hợp” [23,Đ59]
Về quyền học tập, kế thừa và phát triển các quy định của Pháp lệnh
năm 1979, và LBVCS&GDTE năm 1991, tại Điều 16 và Điều 28
LBVCS&GDTE năm 2004 một lần nữa khẳng định quyền được học tập của
24


trẻ em cũng như trách nhiệm gia đình, nhà trường, các tổ chức khác trong việc
tạo điều kiện tốt nhất để trẻ em thực hiện quyền học tập của mình.
Luật quy định học tập không chỉ là quyền là còn là bổn phận nhằm bồi
dưỡng cho các em có những kiến thức cần thiết trong quá trình phát triển.
Việc quy định như vậy để trẻ em thấy rằng ngoài trách nhiệm của gia đình,
Nhà nước, và xã hội các em phải có ý thức tự giác trong học tập vì sự phát
triển của các em không chỉ phụ thuộc vào người lớn mà còn phụ thuộc vào
chính bản thân các em. Luật còn quy định người đỡ đầu có trách nhiệm tạo
điều kiện tốt cho con em học tập, đó chính là xác định trách nhiệm cao nhất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status