TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ĐỀ TÀI
“BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM”
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
NGUYỄN PHAN KHÔI
SINH VIÊN THỰC HIỆN
HÀ QUỐC ĐỆ
MSSV: 5054728
TƯ PHÁP 02-K31
Cần Thơ, 11/2008
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ VÀ QUYỀN LIÊN QUAN
03
I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN QUYỀN TÁC GIẢ
03
II. ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ ĐIỀU CHỈNH QUYỀN TÁC GIẢ VÀ QUYỀN LIÊN
và nghiên
cứu
HỮU
TRÍ
TUỆThơ
VIỆT@
NAM
BẢO
HỘtập
QUYỀN
TÁC GIẢ
PHÁP
LUẬT
VÀ QUYỀN LIÊN QUAN
12
I. BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ VÀ QUYỀN LIÊN QUAN GIAI ĐOẠN TRƯỚC
12
NĂM 2005
1. Thành tựu
13
2. Hạn chế
13
II. BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ VÀ QUYỀN LIÊN QUAN TỪ NĂM 2005 ĐẾN
NAY
14
1. QUYỀN TÁC GIẢ
1.1 Chủ thể quyền tác giả
1.1.1 Tác giả
24
1.2.1 Tác phẩm-đối tượng bảo hộ của quyền tác giả
1.2.2 Phân loại tác phẩm
24
1.2.2.1 Căn cứ vào nội dung tác phẩm
24
1.2.2.2 Căn cứ vào hình thức tác phẩm
25
1.2.2.3 Căn cứ vào thời điểm công bố tác phẩm
25
1.2.3 Điều kiện về tác phẩm
25
1.2.3.1 Tác phẩm thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả
25
1.2.3.2 Đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả
26
1.2.4 Các loại hình tác phẩm được bảo hộ
28
32
1.3 Nội dung quyền tác giả
1.3.1 Quyền nhân thân
32
32
1.3.1.1 Quyền đặt tên cho tác phẩm
1.3.1.2 Quyền đứng tên hoặc bút danh trên tác phẩm của mình; được nêu tên thật
hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng
33
33
1.3.1.3 Quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm
1.3.1.4 Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt
1.3.2.6 Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính
39
1.4 Một số quy định riêng về quyền tác giả
40
40
1.4.1 Quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu
1.4.1.1 Tác giả tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu
40
41
1.4.1.2 Tác phẩm (điện ảnh, sân khấu)
1.4.1.3 Nội dung quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu
41
42
1.4.1.4 Thời hạn bảo hộ
1.4.2 Quyền tác giả đối với chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu
43
1.4.2.1 Tác giả chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu
43
43
1.4.2.2 Tác phẩm (chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu)
1.4.2.3 Nội dung quyền tác giả chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu
44
45
1.4.2.4 Thời gian bảo hộ
1.4.3 Quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
45
46
1.5 Các giới hạn bảo hộ quyền tác giả
1.5.1 Trường hợp sử dụng tác phẩm không phải xin phép-không phải trả tiền
46
2.2.3 Chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá
2.3 Nội dung bảo hộ quyền liên quan
55
2.3.1 Quyền của người biểu diễn
55
56
2.3.1.1 Quyền nhân thân của người biểu diễn
2.3.1.2 Quyền tài sản của người biểu diễn
57
60
2.3.2 Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
2.3.2.1 Quyền sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình của mình
60
2.3.2.2 Quyền phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao bản ghi âm, ghi hình
của mình thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương
Trung tiện
tâmkỹHọc
liệumàĐH
Cần
Thơ
Tài
thuật nào
công
chúng
có thể@
tiếp
cậnliệu
đượchọc tập và nghiên cứu
60
61
70
2.1.2 Tờ khai đăng ký quyền liên quan
71
71
2.2 Giấy tờ kèm theo hồ sơ đăng ký
3. Thẩm quyền cấp Giấy Chứng nhận đăng ký quyền tác giả-quyền liên quan
72
MỤC LỤC
3.1 Cục Bản quyền tác giả Văn học - Nghệ thuật
3.2 Sở Văn hoá - Thông tin
4. Hiệu lực, cấp lại, đổi, hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả,
Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan
4.1 Hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả-Giấy chứng nhận đăng ký
quyền liên quan
4.2 Cấp lại, đổi, hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy
chứng nhận đăng ký quyền liên quan
5. Ý nghĩa của việc đăng ký quyền tác giả và quyền liên quan
72
73
IV. CHUYỂN GIAO QUYỀN TÁC GIẢ-QUYỀN LIÊN QUAN
1. Chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan
1.1 Khái niệm
1.2 Đặc điểm
1.3 Hợp đồng chuyển nhượng
2. Chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan
2.1 Khái niệm
2.1 Tự bảo vệ
2.2 Biện pháp dân sự
1.3 Biện pháp hành chính
2.4 Biện pháp hình sự
77
78
80
80
81
81
82
85
VI. Ý NGHĨA CỦA VIỆC BẢO HỘ
1. Về mặt kinh tế
2. Về mặt xã hội
87
87
87
Chương 3
THỰC TRẠNG XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ VÀ QUYỀN LIÊN QUAN,
NGUYÊN NHÂN, GIẢI PHÁP VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN
88
I. THỰC TRẠNG XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ VÀ QUYỀN LIÊN QUAN
1.Thực trạng chung về xâm phạm sở hữu trí tuệ
2. Thực trạng về quyền tác giả-quyền liên quan trong một số lĩnh vực
2.1 Trong lĩnh vực xuất bản
97
97
1.2.2 Luật còn thiếu hoặc chưa phù hợp
2. Đề xuất giải pháp và Phương hướng hoàn thiện luật
100
2.1 Đề xuất giải pháp
100
2.2 Phương hướng hoàn thiện luật
102
2.2.1 Phương hướng sửa đỗi luật
102
2.2.2 Phương hướng bổ sung luật
103
KẾT LUẬN
105
Trung
Học liệu
Tài tâm
Liệu Tham
KhảoĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Bảo hộ Quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam
LỜI NÓI ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại ngày nay, thời đại của kinh tế tri thức, Việt Nam cũng như các
quốc gia trên thế giới ý thức được giá trị và tầm quan trọng của sản phẩm do trí tuệ
Giới hạn nghiên cứu
Cán bộ hướng dẫn: Nguyễn Phan Khôi
Sinh viên thực hiện: Hà Quốc Đệ
Bảo hộ Quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam
Trong giới hạn của đề tài của luận văn, người viết xin chỉ đề cập đến một phần
trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ là “bảo hộ quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam”, và
quyền tác giả được đề cập ở đây là quyền tác giả trong quyền tác giả của tác phẩm
văn học, nghệ thuật, khoa học-phân biệt với quyền tác giả trong quyền sở hữu công
nghiệp. Quyền tác giả ở đây sẽ được tìm hiểu theo nghĩa rộng của nó, tức là bao
gồm cả quyền tác giả trong lĩnh vực sáng tạo tác phẩm văn học-nghệ thuật-khoa học
và quyền liên quan đến quyền tác giả (hay còn gọi là quyền kề cận) của các chủ thể
là người biểu diễn, tổ chức ghi âm-ghi hình, tổ chức phát sóng và chủ sở hữu quyền
liên quan.
Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở quy định của luật, người viết sẽ thực hiện thao tác phân tích các quy
định hiện hành, đồng thời có so sánh với các quy định liên quan trước thời kỳ có
Luật sở hữu trí tuệ và đối chiếu với các Điều ước quốc tế có liên quan, trong khả
năng cho phép, từ đó đưa ra điểm được cũng như điểm chưa được của luật hiện
hành. Ngoài ra còn kết hợp với thực tiển thực thi quyền đối chiếu với luật viết kết
hợp với tìm hiểu thực tế, tham khảo tài liệu chuyên ngành và các tài liệu có liên
quan, cũng như tham khảo những luận điểm của các tác giả khác về lĩnh vực này từ
Trungđótâm
Học
liệu
ĐH
Tàitrạng
liệubảo
Sinh viên thực hiện: Hà Quốc Đệ
Bảo hộ Quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam
rõ tính ưu việt cũng như mặt hạn chế của luật hiện hành; bố cục phân tích theo chủ
thể, khách thể và nội dung bảo hộ; giới hạn của việc bảo hộ, các quy định về chuyển
giao cũng như những biện pháp thực thi quyền của luật hiện hành.
Chương III, nhìn nhận về thực trạng xâm phạm quyền tác giả-quyền liên quan,
nguyên nhân xâm phạm, giải pháp và phương hướng hoàn thiện luật. Từ thực tiển
của vấn đề về bảo hộ và thực thi quyền tác giả trong nước, đưa ra nguyên nhân dẫn
đến hành vi xâm phạm, giải pháp giải pháp cho tình trạng xâm phạm vừa nêu và từ
đó đưa ra phương hướng hoàn thiện luật.
Sau cùng rút ra kết luận về pháp luật về bảo hộ quyền tác giả của nước ta hiện
nay.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Cán bộ hướng dẫn: Nguyễn Phan Khôi
Sinh viên thực hiện: Hà Quốc Đệ
3
Bảo hộ Quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ BẢO HỘ
QUYỀN TÁC GIẢ VÀ QUYỀN LIÊN QUAN
thế,liệu
để chống
hành
trên, các cứu
nhà
in đã xin các quyền lợi đặc biệt từ phía chính quyền, cấm in lại một tác phẩm ít nhất
là trong một thời gian nhất định. Lợi ích của nhà in trùng với lợi ích của nhà cầm
quyền vì những người này muốn có ảnh hưởng đến những tác phẩm được phát hành
trong lãnh địa của họ. Đặc biệt là nước Pháp do có chế độ chuyên chế sớm nên đã
thực hiện được điều này, ít thành công hơn là ở Đức.
Đầu thế kỷ XVI, khi thời kỳ Phục hưng bắt đầu, cá nhân con người trở nên
quan trọng hơn và đặc quyền tác giả cũng được ban phát để thưởng cho những
người sáng tạo ra tác phẩm của họ. Tại nước Đức, như là Albrecht Dürer (năm
1511) đã được công nhận một đặc quyền như vậy. Nhưng việc bảo vệ này chỉ dành
cho người sáng tạo như là một cá nhân (quyền cá nhân) và chưa mang lại cho tác giả
một thu nhập nào.
Giữa thế kỷ XVI các đặc quyền lãnh thổ được đưa ra, cấm in lại trong một
vùng nhất định trong một thời gian nhất định. Khi các nhà xuất bản bắt đầu trả tiền
nhuận bút cho tác giả thì họ tin rằng cùng với việc này họ có được một độc quyền
kinh doanh (thuyết về sở hữu của nhà xuất bản). Vì thế mà việc in lại bị cấm khi các
quyền từ tác giả được nhà xuất bản mua lại.
Mãi đến thế kỷ XVIII, lần đầu tiên mới có các lý thuyết về các quyền giống
như sở hữu cho các lao động trí óc và hiện tượng của sở hữu phi vật chất. Trong một
bộ luật của nước Anh năm 1710 (Statue of Anne) lần đầu tiên một độc quyền sao
chép của tác giả được công nhận. Tác giả sau đó nhượng quyền này lại cho nhà xuất
bản, sau một thời gian được thỏa thuận trước tất cả các quyền lại thuộc về tác giả.
Cán bộ hướng dẫn: Nguyễn Phan Khôi
Sinh viên thực hiện: Hà Quốc Đệ
CầnÂuThơ
@ Tài
liệu
học tập
nghiên
của Liên
(European
Union
Directive).
Tạivà
châu
Âu, các cứu
Chỉ
thị của Liên minh châu Âu có tính chất tạo khuôn khổ và được bổ sung bằng các luật
lệ của từng quốc gia.
Quyền tác giả là một lĩnh vực phức tạp và còn mới mẻ đối với Việt Nam, tuy ý
tưởng về quyền tác giả có thể được xem là đã hình thành từ bản Hiến pháp năm
1946 và được tiếp tục ghi nhận tại các bản Hiến pháp sau. Nhưng pháp luật về bảo
hộ quyền tác giả chỉ mới được ghi nhận chính thức dưới văn bản luật từ Bộ luật dân
sự 1995 và dưới hình thức các văn bản hướng dẫn của Chính phủ là chủ yếu. Đến
năm 2005, Việt Nam đã ban hành Bộ luật dân sự 2005 và văn bản luật chuyên ngành
về sở hữu trí tuệ là Luật sở hữu trí tuệ 2005, cũng như đã và đang gia nhập các Điều
ước quốc tế, các hiệp định song phương và đa phương về sở hữu trí tuệ nói chung
cũng như về quyền tác giả nói riêng.
II. ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ ĐIỀU CHỈNH QUYỀN TÁC GIẢ VÀ
QUYỀN LIÊN QUAN
1. Công ước Berne 1886
Vấn đề bảo hộ bản quyền tác giả ở cấp độ quốc tế được khởi đầu vào khoảng
giữa thế kỷ 19 trên cơ sở những thoả ước song phương. Nhiều thoả ước như vậy quy
(WTO: The World Trade Organization). Hiệp định TRIPs bao gồm những nguyên
tắc toàn diện nhất về thực thi quyền quyền sở hữu trí tuệ trên phạm vi toàn thế giới.
So với Công ước Berne cũng như nhiều công ước quốc tế khác về quyền sở hữu trí
Trungtuệtâm
Học
ĐH
Thơphát
@triển
Tàirất
liệu
học Hiệp
tập định
và nghiên
, Hiệp
địnhliệu
TRIPs
thểCần
hiện bước
rõ ràng.
dành phầncứu
III
với 21 điều (từ Điều 41 đến Điều 61) quy định về thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Hiệp
định quy định nhiều biện pháp thực thi quyền sở hữu trí tuệ, các quy định này được
xây dựng trên nguyên tắc tối thiểu và dành quyền quy định cụ thể cho các quốc gia
thành viên.
Hiệp định Trips đã quy định hệ thống các thủ tục, biện pháp chế tài dân sự,
hành chính và hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm
cả việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, trừng phạt, tịch thu hay tiêu huỷ.
Mục tiêu tổng quát của Hiệp định Trips là “giảm sai lệch thương mại và các rào cản
đối với thương mại quốc tế, (...) thúc đẩy bảo hộ hiệu quả và thoả đáng quyền sở
thêm sự cần thiết bảo hộ các đối tượng này. Với những đòi hỏi trên, cuối cùng Công
ước quốc tế bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng
cũng đã ra đời tại Rome vào ngày 26 tháng 10 năm 1961 để đáp ứng đòi hỏi trên.
Theo đó, người biểu diễn được bảo hộ chương trình biểu diễn, chống lại các
hành vi không được sự đồng ý của họ, như: phát sóng và truyền đạt tới công chúng
chương trình biểu diễn trực tiếp của họ; định hình các chương trình biểu diễn trực
tiếp của họ; sao chép các bản định hình này khi bản định hình gốc đã được tạo ra
không có sự đồng ý của họ.
Nhà sản xuất bản ghi âm được hưởng quyền cho phép hoặc cấm sao chép trực
tiếp, gián tiếp các bản ghi âm của họ. Tổ chức phát sóng được quyền cho phép hoặc
cấm các hành vi tái phát sóng các chương trình; định hình các chương trình phát
Trungsóng,
tâmsaoHọc
ĐHđịnh
Cần
liệucủahọc
tập gian
và nghiên
chépliệu
các bản
hìnhThơ
thuộc@
bảnTài
quyền
họ. Thời
bảo hộ là cứu
hai
mươi năm tính từ năm tiếp theo kể từ khi chương trình biểu diễn được định hình;
bản ghi âm được công bố; chương trình truyền hình được phát sóng.
Công ước Rome đảm bảo buổi biểu diễn của các nhà biểu diễn, các băng đĩa
chuẩn mới về quyền tác giả và quyền liên quan tại Uỷ ban WIPO được tiến hành
khẩn trương và hội nghị ngoại giao WIPO về các vấn đề quyền tác giả và quyền liên
quan được diễn ra ngay từ ngày 2 đến 20 tháng 12 năm 1996. Hội nghị ngoại giao đã
thông qua 2 Điều ước quốc tế là Công ước WIPO về quyền tác giả (WCT) và Công
ước WIPO về cuộc biểu diễn và bản ghi âm (WPPT) (Tiến sĩ Mihály Ficsor-Các
Công ước Internet của WIPO:Phạm vi, lợi ích và kinh nghiệm của các quốc giawww.cov.gov.vn)
Với 5 chương, 33 điều, với mục đích mong muốn phát triển và duy trì việc bảo
hộ các quyền của người biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi âm một cách có hiệu quả
và đồng bộ nhất. Đưa ra những quy tắc quốc tế mới để tạo ra những giải pháp thoả
đáng đối với những vấn đề do sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá và kỹ thuật đặt
ra. Công nhận ảnh hưởng sâu rộng của sự phát triển và thành tựu của công nghệ tin
học và truyền thông về sản xuất và sử dụng các cuộc biểu diễn và bản ghi âm. Công
nhận nhu cầu duy trì sự cân bằng giữa các quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất
bản ghi âm và lợi ích của đông đảo công chúng, đặc biệt là giáo dục, nghiên cứu và
truy cập thông tin (Lời nói đầu của WPPT). Hiệp ước WPPT có hiệu lực vào ngày
20 tháng 5 năm 2002, quá trình phê chuẩn và gia nhập của các quốc gia mới vẫn
Trungđược
tâm
tiếpHọc
tục. liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Nội dung chủ yếu của WPPT gồm:
-Các quy định chung về quan hệ với các Công ước khác, các chủ thể hưởng
bảo hộ theo Hiệp ước.
-Các quyền của người biểu diễn như: quyền tinh thần, đối với các buổi biểu
diễn nghe trực tiếp hoặc các buổi biểu diễn được định hình trong bản ghi âm, và
thậm trí sau khi chuyển nhượng các quyền kinh tế đó, người biểu diễn có quyền yêu
cầu được công nhận là người biểu diễn của buổi biểu diễn của mình.
-Quyền kinh tế của người biểu diễn trong các buổi biểu diễn chưa được định
hình như quyền phát sóng và truyền đạt tới công chúng buổi biểu diễn chưa được
định hình của mình, định hình buổi biểu diễn chưa được định hình của mình; quyền
tính tăng nhanh…Vào năm 1986, Hội nghị ngoại giao WIPO về “Một số bản quyền
tác giả và quyền liên quan” đã phê chuẩn Hiệp ước của WIPO về Bản quyền tác giả.
Để đảm bảo bản quyền tác giả trước tình hình trên, một yêu cầu đặt ra là phải có một
văn bản để điều chỉnh cho phù hợp với tình hình mới. Cùng với sự ra đời cùng thời
điểm với Hiệp ước WPPT là sự ra đời của Hiệp ước WCT tại hội nghị ngoại giao
WIPO từ ngày 2 đến 20 tháng 12 năm 1996, Hiệp ước WCT có hiệu lực vào ngày 20
tháng 3 năm 2002.
Nội dung chủ yếu của WCT:
-Lưu trữ tác phẩm bằng một phương tiện dưới hình thức kỹ thuật số: Việc lưu
trữ tác phẩm được bảo hộ dưới hình thức kỹ thuật số trong một phương tiện điện tử
tạo nên việc tái tạo, nhân bản theo Điều 9 của công ước Berne.
-Truyền tải trong mạng kỹ thuật số: Việc truyền tải tác phẩm trên internet và
Trungcáctâm
Học
liệu
Cầncủa
Thơ
Tàicho
liệu
học
vàhoặc
nghiên
cứu
mạng
tương
tự làĐH
đối tượng
độc@
quyền
phép
Bảo hộ Quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam
năm 1971 dưới sự bảo trợ của WIPO, Công ước hướng tới sự bảo hộ chống lại trước
nguy cơ bị đe doạ. Công ước không quy định các quyền đặc biệt cụ thể; chỉ đưa ra
những gì mà vào thời điểm đó là các hành vi nguy hiểm nhất từ phía người vi phạm
bản ghi âm và nghĩa vụ của các bên tham gia ký kết đặt ra các quy định bảo hộ thích
hợp chống lại người có hành vi vi phạm, đồng thời cho phép mở rộng biên độ trên
phương diện kỹ thuật pháp lý để đáp ứng các nghĩa vụ này.
Với mục đích trên và quy định rằng: “Mong muốn không ảnh hưởng theo bất
kỳ cách thức nào tới các thoả thuận quốc tế đang có hiệu lực và đặc biệt là không
gây cản trở bằng bất kỳ cách thức nào đến việc chấp nhận rộng rãi hơn nữa Công
ước Rome ngày 26 tháng 10 năm 1961 quy định về việc bảo hộ người biểu diễn và
các tổ chức phát thanh truyền hình cũng như nhà sản xuất bản ghi âm”. Công ước ra
đời nhằm bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống lại việc làm bản sao mà không
được sự đồng ý của nhà sản xuất bản ghi âm đó và chống lại việc nhập khẩu các bản
sao đó, với điều kiện là việc làm bản sao hoặc nhập khẩu đó là nhằm mục đích phân
phối tới công chúng, và chống lại việc phân phối các bản sao đó tới công chúng.
Cách thức bảo hộ bảo hộ thông qua việc cho hưởng quyền tác giả hoặc quyền cụ thể
khác; bảo hộ thông qua luật về cạnh tranh bất chính; bảo hộ thông qua các chế tài
hình sự. Việt Nam đã gia nhập Công ước này ngày 06 tháng 7 năm 2005
7. Công ước Brussels 1974 (Công ước Vệ tinh)
Đây là Công ước được thông qua tại Bỉ vào ngày 21 tháng 5 năm 1974, nhằm
bảo vệ quyền của các tổ chức phát sóng đối với tín hiệu mang chương trình đã được
Trungmãtâm
ĐH
@công
Tàichúng
liệu học
tậpgián
Cán bộ hướng dẫn: Nguyễn Phan Khôi
Sinh viên thực hiện: Hà Quốc Đệ
10
Bảo hộ Quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam
Công ước Brussels có giá trị bảo vệ quyền của các tổ chức phát sóng đối với
tín hiệu mang chương trình đã được mã hoá truyền qua vệ tinh nhằm phục vụ công
chúng một cách gián tiếp thông qua cơ cấu trung gian để nhận chương trình.
Kể từ ngày 12 tháng 01 năm 2006, Công ước Brussels về việc phân phối các
tín hiệu mang chương trình truyền qua vệ tinh đã chính thức có hiệu lực đối với Việt
Nam.
III. CAM KẾT CỦA VIỆT NAM VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ
VÀ QUYỀN LIÊN QUAN
Việt Nam đã là thành viên của WIPO từ ngày 02 tháng 7 năm 1976. Trong quá
trình đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam cam kết rằng, trước ngày gia nhập, Việt
Nam sẽ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với yêu cầu. Theo đó,
các cơ quan của Chính phủ chỉ sử dụng các phần mềm máy tính hợp pháp và không
vi phạm quyền tác của những phần mềm này; quy định việc mua và quản lý tất cả
phần mềm do các cơ quan của Chính phủ sử dụng; ban hành văn bản quy phạm pháp
luật quy định việc các nhà cung cấp truyền hình cáp chỉ được cung cấp các chương
trình đã có phép đến khách hàng của họ.
Về thù lao, nhuận bút, các tổ chức, cá nhân sử dụng các tác phẩm đã được
công bố hoặc bản ghi âm, ghi hình để thực hiện chương trình phát sóng có tài trợ,
quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép nhưng phải
trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan theo quy
11
Bảo hộ Quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam
Luật sở hữu trí tuệ cũng dành hẳn một phần (Phần thứ năm) quy định về “bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ” trong đó quy định cụ thể về các biện pháp bảo vệ quyền sở
hữu trí tuệ: cơ chế tự bảo vệ, xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng nhiều biện
pháp khác nhau.
Đặc biệt, Luật sở hữu trí tuệ có quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng
các biện pháp hành chính, dân sự và hình sự, trong đó có đưa ra các mức bồi thường
thiệt hại cụ thể khác nhau liên quan đến vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Cụ thể, căn cứ vào các mức độ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, cơ quan có thẩm
quyền xét xử có thể áp dụng mức bồi thường thiệt hại lên đến 500 triệu đồng (đối
với các thiệt hại về vật chất) và từ 5 đến 200 triệu đồng (đối với các thiệt hại về tinh
thần). Ngoài ra, còn có những quy định kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
liên quan đến sở hữu trí tuệ.
Cùng với các quy định về quyền tác giả và quyền liên quan trong Bộ luật dân
sự 2005, Luật Sở hữu trí tuệ, các Nghị định của Chính phủ, Thông tư của các Bộ
ngành có liên quan, trong lĩnh vực bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan, tạo ra
cơ chế pháp lý khá rõ ràng với các quy định về bảo vệ và thực thi quyền tác giả và
các quyền liên quan với các cơ chế xử lý vi phạm.
Với sự ra đời của các văn bản pháp luật trên, Việt Nam đã có bước tiến lớn
trong việc thể chế hóa các cam kết quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung,
quyền tác giả nói riêng.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Cán bộ hướng dẫn: Nguyễn Phan Khôi
Sinh viên thực hiện: Hà Quốc Đệ
Cầnhọc,
Thơ
@ Tài
học
cứu
có quyền
cứu khoa
kỹ thuật,
phátliệu
minh,
sángtập
chế,và
sángnghiên
kiến cải tiến
kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các
hoạt động văn hoá khác. Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công
nghiệp”. Đây là nền tảng cơ sở để ban hành các luật chuyên ngành để bảo hộ quyền
tác giả, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với lĩnh vực này là rất lớn.
Với tính chất là luật chung, Bộ luật dân sự 1995 ghi nhận những nguyên tắc cơ
bản của lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng. Về cơ bản Bộ
luật dân sự 1995 đã thừa kế và bổ sung các quy định về quyền tác giả trong Pháp
lệnh bảo hộ quyền tác giả 1994. Nhiều quy định mới được bổ sung cho phù hợp với
yêu cầu của thực tiễn bảo hộ quyền tác giả và yêu cầu mở cửa, hội nhập quốc tế
trong lĩnh vực này (Thông tin xét xử, Tòa án nhân dân tối cao, Số 05 năm 2006).
Trên cơ sở Bộ luật dân sự 1995, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban
hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ
luật dân sự, như: Nghị định 76/CP ngày 29 tháng 11 năm 1996 của Chính phủ
hướng dẫn thi hành các quy định về quyền tác giả trong Bộ luật dân sự; Nghị định
60/CP ngày 06 tháng 6 năm 1997 của Chính phủ hướng dẫn thi hành các quy định
của Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài; các Nghị định số 48/CP
hướng dẫn thi hành một số quy định về quyền tác giả trong Bộ luật dân sự;
- Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004;
- Công văn số 97/KHXX ngày 21/8/1997 của Toà án nhân dân tối cao, về xác
định thẩm quyền giải quyết tranh chấp về quyền tác giả và quyền sở hữu công
nghiệp;
-Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BVHTT ngày
5/12/2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ văn
Trunghoá-thông
tâm Học
ĐH
Cần
@ Tài
tập và
nghiên
tin, liệu
về giải
quyết
các Thơ
tranh chấp
liên liệu
quan học
đến quyền
tác giả
tại Toàcứu
án
nhân dân;
- Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các
vụ án hành chính năm 1998; Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002;
- Nghị định 88/CP ngày 14/12/1995 của Chính Phủ quy định về xử phạt vi
phạm hành chính trong các hoạt động văn hoá và phòng chống tệ nạn xã hội;
dân sự, Thông tư của Toà án… Thẩm quyền của Toà án chỉ có thể xác định được
trên cơ sở các quy định rải rác trong các văn bản pháp luật kể trên.
Còn những quy định chưa rõ ràng về thực thi quyền tác giả, như, quy định về
thẩm quyền cụ thể của từng cơ quan trong hệ thống các cơ quan hành chính trong
thực thi quyền tác tác giả. Còn nhiều vấn đề chưa được điều chỉnh, như một loạt các
vấn đề trong giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ nói chung, quyền tác giả
nói riêng theo thủ tục tố tụng dân sự chưa được pháp luật điều chỉnh. Cụ thể như
sau: Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 chỉ quy định “Nguyên đơn trong vụ án dân sự
là người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật này quy
định khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi
ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm. Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định
khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà
nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn” (khoản 2 Điều 56 Bộ luật
tố tụng dân sự). Do pháp luật không quy định ai có quyền khởi kiện tranh chấp về
quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng, dẫn đến trong thực tế
người có quyền khởi kiện đôi khi bỏ mất quyền khởi kiện hoặc người không có
Trungquyền
tâmkhởi
Học
liệu
ĐHkiện
Cần
TàiToàliệu
học
tập và nghiên cứu
kiện
lại khởi
nênThơ
không@
được
ngày 19 tháng 11 năm 2005, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật
sở hữu trí tuệ với 6 phần, 18 chương, 222 điều.
Bộ luật dân sự 2005 và Luật sở hữu trí tuệ đã pháp điển hoá được những quy
định về quyền tác giả trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, phát triển các loại
thị trường dịch vụ khoa học, công nghệ, sản phẩm trí tuệ…Cho nên, việc thực hiện
tốt chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đãi ngộ đặc biệt đối với các nhà khoa học
có công trình nghiên cứu xuất sắc là cần thiết và đúng đắn. Trong lĩnh vực văn học,
nghệ thuật, bảo đảm được tự do, dân chủ cho mọi sáng tạo văn hoá, văn học, nghệ
thuật, tạo điều kiện thuận lợi để phát huy hiệu quả lao động nghệ thuật.
Bộ luật dân sự và Luật sở hữu trí tuệ được xây dựng trên những nguyên tắc cơ
bản là: Pháp điển hoá, kế thừa có chọn lọc, bổ sung các quy định còn thiếu, các quy
định mới về sở hữu trí tuệ trong Bộ luật dân sự năm 1995 và các văn bản hướng dẫn
thi hành; đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ giữa các quy định pháp luật sở hữu trí
tuệ và giữa các quy định liên quan đến sở hữu trí tuệ của các ngành luật khác; đảm
bảo sự tương thích giữa các quy định sở hữu trí tuệ của Việt nam và các công ước
quốc tế mà chúng ta đã và sẽ là thành viên, các Hiệp định song phương, đa phương
khác chúng ta đã ký kết; đảm bảo các quy định về quyền sở hữu trí tuệ phù hợp với
điều kiện của Việt nam. Chính vì được xây dựng trên những nguyên tắc như vậy,
cho nên Bộ luật dân sự năm 2005 và Luật sở hữu trí tuệ đã khắc phục được gần như
hầu hết những khiếm khuyết của các quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ trước đó.
1. QUYỀN TÁC GIẢ
Trung tâm
Họctácliệu
ĐH sử
Cần
@hộTài
liệu văn
họchọc,
tăng giá trị quyền tài sản của tác phẩm, mang về cho tác giả một lợi nhuận vật chất
bằng việc xuất bản nhiều bản sao của tác phẩm. Vì vậy, quan niệm rằng quyền tác
Cán bộ hướng dẫn: Nguyễn Phan Khôi
Sinh viên thực hiện: Hà Quốc Đệ
16
Bảo hộ Quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam
giả có hai đặc điểm riêng biệt-quyền tài sản và quyền nhân thân- được phát triển đầu
tiên ở châu Âu. Quan niệm này mới được đưa vào châu Á khá gần đây, trừ một số ít
nước, luật về quyền tác giả mới chỉ được phổ biến ở các nước châu Á từ nửa cuối
thế kỷ XX.
Như vậy có thể thấy quyền tác giả có hai đặc tính cơ bản: quyền tài sản đối với
tác phẩm và quyền nhân thân của tác giả.
1.1 Chủ thể quyền tác giả
1.1.1 Tác giả
Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hay toàn bộ tác phẩm văn học,
nghệ thuật, khoa học, bao gồm: cá nhân Việt Nam có tác phẩm được bảo hộ quyền
tác giả, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức
vật chất nhất định tại Việt Nam, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần
đầu tiên tại Việt Nam, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam
theo Điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên (Điều 8 Nghị
định 100/2006/NĐ-CP); người sáng tạo ra tác phẩm phái sinh từ tác phẩm của người
khác, bao gồm tác phẩm được dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm
phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn là tác giả của tác
phẩm phái sinh (Điều 736 Bộ luật dân sự 2005).
Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra toàn bộ hay một phần tác phẩm. Tức là
họ chỉ nghĩ ra một câu trong bài hát, chỉ góp ý kiến cho việc đặt tên một quyển
sách… Do đó những cá nhân hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người
khác sáng tạo ra tác phẩm không được xem là tác giả. Điều đó có nghĩa rằng, chính
tác giả là người đóng vai trò quyết định trong việc thể hiện ý tưởng và tạo nên tác
phẩm từ những ý tưởng đó.
Căn cứ vào nguồn gốc của tác phẩm sẽ có hai loại tác giả, đó là, tác giả của tác
phẩm gốc và tác giả của tác phẩm phái sinh, bao gồm: tác phẩm dịch, phóng tác, cải
biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn. Pháp luật Việt Nam công nhận
người tạo ra tác phẩm phái sinh, theo đó “người sáng tạo ra tác phẩm phái sinh từ tác
phẩm của người khác, bao gồm tác phẩm được dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ
khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn là tác
Cán bộ hướng dẫn: Nguyễn Phan Khôi
Sinh viên thực hiện: Hà Quốc Đệ
17
Bảo hộ Quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam
giả của tác phẩm phái sinh đó” (khoản 2 Điều 736 Bộ luật dân sự 2005); nhưng để
được bảo hộ, tác phẩm phái sinh phải “không gây phương hại đến quyền tác giả đối
với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh” (khoản 2 Điều 14 Luật sở hữu
trí tuệ). Tại khoản 3 Điều 2 Công ước Berne cũng ghi nhận: “các tác phẩm dịch, mô
phỏng, chuyển nhạc và các chuyển thể khác từ các tác phẩm văn học nghệ thuật đều
được bảo hộ như tác phẩm gốc, miễn sao không phương hại đến quyền tác giả của
tác phẩm gốc”.
Nếu căn cứ vào loại hình tác phẩm phái sinh có thể chia tác giả của tác phẩm
phái sinh thành tác giả của tác phẩm dịch và tác giả của tác phẩm phóng tác, cải
biên, biên soạn… Dịch là việc chuyển tải trung thực nội dung của tác phẩm từ ngôn
ngữ này sang ngôn ngữ khác; phóng tác là sự sáng tạo dựa theo nội dung của một
bộ các quyền tài sản đối với quyền tác giả (Điều 36 Luật sở hữu trí tuệ).
Theo quy định tại Điều 27 Nghị định 100/2006/NĐ-CP thì chủ sở hữu quyền
tác giả sẽ thuộc về: Tổ chức, cá nhân Việt Nam; Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác
Cán bộ hướng dẫn: Nguyễn Phan Khôi
Sinh viên thực hiện: Hà Quốc Đệ
18
Bảo hộ Quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam
phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam; Tổ
chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam; Tổ
chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo Điều ước
quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên.
Chủ sở hữu quyền tác giả là người độc quyền sử dụng, định đoạt tác phẩm.
Trong đa số trường hợp, tác giả sẽ đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả (Lê Nết,
Quyền sở hữu trí tuệ, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh,
2006). Tuy nhiên, nếu tác phẩm hình thành do các tổ chức, cá nhân thuê, giao nhiệm
vụ cho tác giả thì tổ chức, cá nhân sẽ là chủ sở hữu quyền tác giả. Ngoài ra, người
được chuyển giao quyền tác giả, người thừa kế của tác giả đồng thời là chủ sở hữu
quyền tác giả cũng là chủ sở hữu quyền tác giả (sẽ được đề cập trong phần “điều
kiện về chủ sở hữu quyền tác giả”). Xét về khía cạnh kinh tế thì chủ sở hữu quyền
tác giả đóng vai trò quan trọng hơn tác giả, vì khi sử dụng, trình diễn, v.v. tác phẩm,
các chủ thể khác phải trả thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả.
Pháp luật Việt Nam ghi nhận chủ sở hữu quyền tác giả bao gồm tổ chức, cá
nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài thoả những điều kiện trên; họ là
những cá nhân, tổ chức nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ quyền tài sản đối với
quyền tác giả. Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các
quyền tài sản phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất
đầu tư vào việc thực hiện hoàn thành tác phẩm chứ không phải tạo ra tác phẩm theo
nhiệm vụ được giao hoặc hợp đồng. Ví dụ: nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển sáng tác những
bài hát của ông như “Bạc Liêu ngày ấy”, “Đêm Gành Hào nghe điệu Hoài Lang”
hay “Trở lại Bạc Liêu”,.v.v là do ông tự mình bỏ thời gian và tài chính nên ông có
cả quyền nhân thân và quyền tài sản đối với những bài hát này. Nhưng ở một trường
hợp khác, nhạc sĩ Trần Tiến được công ty âm nhạc “A” thuê sáng tác độc quyền cho
công ty này, thì đối với những bài hát do nhạc sĩ sáng tác trong thời gian được công
ty âm nhạc “A” thuê sáng tác độc quyền, ông chỉ còn quyền nhân thân, quyền tài sản
thuộc về công ty âm nhạc “A”.
Do đó các quyền này do tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác
thực hiện theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ. Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử
dụng quyền công bố hoặc quyền tài sản đối với tác phẩm phải xin phép và trả tiền
nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho tác giả.
Cán bộ hướng dẫn: Nguyễn Phan Khôi
Sinh viên thực hiện: Hà Quốc Đệ