các biện pháp bảo hộ quyền tác giả theo quy định của pháp luật việt nam - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOALUẬT
---ostQso—LỜI CÁM ƠN

********
Đe hoàn thành khóa học cũng như luận văn tốt nghiệp đúng thời hạn như
ngày hôm nay, tôi xin trân trọng gửi lời biết om đến:
LUẬN
TỐTnhững
NGHIỆP
Những người thân
trongVĂN
gia đình,
người luôn ủng hộ, động viên, tạo
mọi điều kiện tốt nhất về vật chất cũng như tinh thần cho tôi trong suốt bốn năm
đại học cũng như trong quá trình thực hiện đề tài luận vãn.
Đề tài:

Cô Nguyễn Thị Ngọc Tuyền, cô đã trực tiếp hướng dẫn và giúp tôi hoàn

thành luận văn
tốt nghiệpPHÁP
của mình.
CẤC
BIỆN

BẢO

Hộ

QUYỀN

3J--------------3


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ luật hình sự 1999- NXB Chính trị quốc gia Hà Nội- 2007 sửa đổi, bổ sung một
số điều ngày 19 tháng 6 năm 2009
2. Bộ luật tố tụng hình sự 2004- Nhà xuất bản tổng hợp Thảnh Phố Hồ Chí Minh
3. Bộ luật tố tụng dân sự 2004- NXB Chính tri quốc gia Hà Nội- 2007
4. Luật Sở Hữu Trí Tuệ 2005- NXB Chính trị quốc gia Hà nội- 2006
5. Nghị định 56/2006/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn
hóa thông tin
6. Nghị định số 47/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 5 năm 2009 quy định xử phạt vi pham
hành chính về quyền tác giả, quyền lien quan
7. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 sửa đổi, bổ sung ngày 2 tháng 4
năm 2008
8. Bình luận về quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam- NXB Tư pháp Hà Nội năm
2005
9. Nguyễn Như Quỳnh- Khoa luật dân Sự trường Đại học luật Hà Nội, Tư liệu hội
thao hà Nội- 2009
10. Lê Xuân Thảo- Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về Sở Hữu Trí Tuệ- NXB Tư pháp
Hà Nội năm 2005
11. Vụ công tác lập pháp- Những nội dung cơ bản của luật SHTT- NXB Tư pháp Hà
Nội năm 2006
12. Vũ Khắc Trai- Một số vấn đề chung về SHTT Việt Nam, tài liệu hội thảo, Hà Nội


MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU...........................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài....................................................................................1


Thời hiệu xử phạt hành chính, thời hạn được coi là chưa bị xử phạt hành

chính..........................................................................................................................36
2.2.2.4...............................Các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính
37
2.2.2.5.......................................................................Thẩm quỵền xử phạt hành chính
38
2.2.2.6......................................Nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt hành chính
42


NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN


NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐÒNG PHẢN BIỆN


BẢNG TỪ VIẾT TẮT
BLHS: Bộ luật hình sự
BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự
BLDS: Bộ luật dân sự
BLTTDS: Bộ luật tố tụng dân sự
SHTT: Sở hun trí tuệ


Các biện pháp bảo hộ quyền tác giả theo quy định của pháp luật Việt Nam
LỜI NÓI ĐẰU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sở hữu trí tuệ, trong đó quyền tác giả ngày càng có vị trí quan trọng trong đời sống

1

SVTH: Nguyễn Hồng Quân


Các biện pháp bảo hộ quyền tác giả theo quy định của pháp luật Việt Nam
Chương 2. Quy định của pháp luật Việt Nam về các biện pháp bảo hộ quyền tác giả.
Chương 3. Thực trạng các biện pháp bảo hộ quyền tác giả, nguyên nhân và một số ý
kiến đề xuất.

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

2

SVTH: Nguyễn Hồng Quân


Các biện pháp bảo hộ quyền tác giả theo quy định của pháp luật Việt Nam
CHƯƠNG1

MỘT SỐ VẮN ĐÈ Cơ BẢN VÈ QUYỀN TÁC GIẢ VÀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO Hộ
1.1 Khái quát chung về quyền tác giả và việc bảo hộ quyền tác giả

1.1.1

Lịch sử hình thành và phát triển quyền tác giả

1.1.1.1

Thế giới

những tác phẩm văn học đang được ưa chuộng một cách rẻ tiền. Những ý tưởng của phong
trào khai sáng phàn lớn là được truyền bá bằng các bản in lậu.
* Khi thời kỳ Phục hưng bắt đầu, cá nhân con người trở nên quan trọng hom và
quyền tác giả cũng được ban phát để thưởng cho những người sáng tạo ra tác phẩm của họ.
Tại Đức thí dụ như là Albercht Durer(1511) đã được công nhận một đặc quyền như vậy.
Nhưng việc bảo vệ này chỉ dành cho người sáng tạo như một cá nhân (quyền cá nhân) và
chưa mang lại cho tác giả một thu nhập nào.
* Giữa thế kỷ 16 các đặc quyền lãnh thổ được đưa ra, cấm in lại trong một vùng
nhất định trong một thời gian nhất định.
Khi các nhà xuất bản bắt đầu ừả tiền nhuận bút cho tác giả thì họ tin rằng cùng với
việc này họ có được một độc quyền kinh doanh (thuyết về sở hữu của nhà xuất bản) ngay
cả khi họ không có đặc quyền cho tác phẩm này. Vì thế mà việc in lại bị cấm khi các quyền
từ tác giả được mua lại.
* Mãi đến thế kỷ 18, làn đầu tiên mới có các lý thuyết về các quyền giống như sở
hữu cho các lao động trí óc (và hiện tượng của sở hữu phi vật chất). Trong một bộ luật của
nước Anh năm 1710,Statue of Anne, lần đầu tiên một đặc quyền sao chép của một tác giả
được công nhận. Tác giả sau đó nhượng quyền này lại cho nhà xuất bản. Sau một thời gian
được thõa thuận trước tất cả các quyền lợi thuộc về tác giả. Tác phẩm phải được ghi vào
trong danh mục của hiệp hội các nhà xuất bản và phải có them ghi chú Coppyright để được
bảo vệ. Phương pháp này được đưa vào ứng dụng tại Mỹ vào năm 1785(yêu cầu phải ghi
vao danh mục được bãi bỏ tại Anh vào năm 1956 và tại Hoa Kỳ vào năm 1978). Ý tưởng
về sở hữu trí tuệ phần lớn được giải thích bằng thuyết về quyền tự nhiên ( Tiếng Anh:
natural law). Tại một sở hữu văn học nghệ thuật đưa ra trong hai bộ luật vào năm 1781 và
1793. Tại nước Phổ một bảo vệ tương tự cũng được đưa ra vào năm 1837. Cũng vào năm
1837 Hội đồng liên bang của liên minh Đức quyết định thời hạn bảo vệ từ khi tác phẩm ra
đời là 10 năm, thời hạn này được kéo dài là 30 năm sau khi tác giả qua đời vào năm 1845.
Trong liên minh Bắc Đức việc bảo vệ quyền tác giả được đưa ra vào năm 1857 và được Đế
chế Đức thu thập và được mở rộng sau đó. Trong Đệ tam đế chế của tác giả chỉ là “người
được ủy thác trông nom tác phẩm” cho cộng đồng nhân dân.1


sáng tạo ra tác phẩm, thì các ông chủ nhà in lấy tác phẩm ở đâu ra mà in, điều đó nói lên
mục đích của việc ban hành luật đầu tiên vế quyền tác giả. Luật này được gọi là đạo luật
của Nữ hoàng Anmo ra đời ngày 10/4/1710. Đây là đạo luật đầu tiên thừa nhận tác giả có
một số quyền như 21 năm đối với sách đã in trước ngày ban bố đạo luật và thêm 14 năm
nữa nếu tác giả còn sống thì hết hạn đầu tiên. Nhưng để được hưởng bản quyền đó, tác giả
phải đăng ký tác phẩm và tên tác giả, phải nộp lưu chiểu 9 bản tác phẩm cho các trường đại
học và thư viện.
Nhưng đạo luật này chỉ liên quan đến việc tái bản sách, vì thế người ta gọi là quyền

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

5

SVTH: Nguyễn Hồng Quân


Các biện pháp bảo hộ quyền tác giả theo quy định của pháp luật Việt Nam
Sau đạo luật Anmo, phải nói đến Hiến pháo Hoa Kỳ năm 1787, trong mục 8, Điều 1
đã cho phép Quốc hội có quyền “đẩy manh tiến bộ khoa học nghệ thuật có ích, bằng cách
bảo đảm trong một thời gian hạn định cho các tác giả và người sáng chế độc quyền về
những bản viết và phát minh của họ”.
* Năm 1770, Đạo luật liên bang đầu tiên về quyền tác giả đã ra đời. Luật này cũng
yêu cầu tác giả phải thực hiện một số thủ tục nhu đăng ký, nộp lưu chiểu. Luật bảo hộ tác
phẩm viết như sách, bản đồ, đồ án với thời hạn là 14 năm và có thể gia hạn nếu tác giả còn
sống khi thời hạn lần thứ nhất đã hết.
* Còn ở Pháp, vào thời kỳ cách mạng, đã công bố văn bản vế quyền tác giả.Đó là
hai nghị định được ban hành năm 1791 và 1793, một nghị định quy định về thực hiện tác
giả và thời hạn suốt cuộc đời tác giả và 5 năm tiếp theo kể từ khi tác giả chết. Nghị định
thứ hai đã thiết lập quyền tái bản mà các tác giả được hưởng suốt đời, quyền nay kéo dài
10 năm tiếp theo kể từ sau khi tác giả chết.

Còn ở các nước theo truyền thống Anglo-Xacson họ nghiêng về việc bảo hộ những
người truyền bá tác phẩm bằng tác giả. Ở Anh và Hoa Kỳ, nơi có nền công nghiệp đĩa hát
phát triển mạnh mẽ, họ coi bản ghi âm là tác phẩm và được bảo hộ như quyền tác giả. Còn
ở Pháp trong, trong luật quyền tác giả Công bố ngày 3/7/1985 bên cạnh quyền tác giả có
ghi quyền kề cận, quyền kề cận này bảo hộ các quyền cho những người sản xuất băng đĩa
nhạc, CD.
về vấn đề quyền tác giả phát sinh từ khi nào, theo quan điểm truyền thống Latinh,
quyền tác giả ra đời khi tác giả sáng tạo ra tác phẩm.Tác giả được nhà nước bảo hộ ngay từ
lúc đó, chứ không đợi lúc tác phẩm được công bố, phổ biến. Còn theo quan điểm của
truyền thống Anglo-Xacson, để khuyến khích tác giả công bố tác phẩm của mình, trước kia
người ta chỉ bảo hộ tác giả phải đăng ký và nộp lưu chiểu. Sau này, quan điểm nói trên đã
mất dần, người ta không thấy nó thể hiện trong đạo luật quyền tác giả của Mỹ ban hành
năm 1976, tuy không bỏ hết các thủ tục, nhưng cũng gạt bỏ di rất nhiều.
Một vấn đề nữa về người sáng tạo ra tác phẩm thực hiện theo khuôn khổ họp đồng
(đặt hàng), viên chức nhả nước sáng tạo ra tác phẩm do cơ quan nhả nước giao nhiệm vụ
thì theo truyền thống Latinh và Anglo-Xacson giải quyết như thế nào?
Các nước theo truyền thống Latinh có khuynh hướng khẳng định tuy quyền tác giả
nảy sinh từ người sáng tạo, nhưng có thể dễ dàng chấp nhận việc chuyển giao quyền vật
chất cho cá nhân, tổ chức đặt hang hoặc giao nhiệm vụ vì họ là những cá nhân, tổ chức có
quyền công bố, phổ biến tác phẩm.
* Ở các nước có truyền thống Anglo-Xacson, cách giải quyết vấn đề này khác hẳn,
người ta nhấn mạnh đến vai trò phổ biến tác phấm của cá nhân, tổ chức đặt hang hoặc cơ
quan nhà nước, họ nhấn quan mạnh hệ pháp lý của người sáng tạo với cơ quan nhả nước
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

7

SVTH: Nguyễn Hồng Quân



80. Nhà nước đã ban hành một số văn bản pháp luật, trong đó có quy định về việc bảo vệ
quyền tác giả như hiến pháp 1992 Luật báo chí, Luật xuất bản, Bộ luật hình sự ... .Tuy vậy,
trên thực tế việc bảo vệ quyền tác giả được điều chỉnh chủ yếu trong nghị 142- Hội đồng
bộ trưởng. Qua một số năm thực hiện, Nghị định số 142-Hội đồng bộ trưởng đã tạo tiền đề

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

8

SVTH: Nguyễn Hồng Quân


Các biện pháp bảo hộ quyền tác giả theo quy định của pháp luật Việt Nam
hiện, Nghị định số 142- Hội đồng bộ trưởng đã bộc lộ một số hạn chế cả về mặt nội dung
lẫn hình thức. Những hạn chế về nội dung như một số đối tượng về quyền tác giả chưa
được quy định bảo hộ như trong chưong trình máy tính, thời hạn bảo hộ quyền tác giả còn
quá ngắn (30 năm sau khi tác giả đã chết) , chưa có quy định về bảo hộ các quyền liên
quan ( quyền của người biểu diễn, của tổ chức sản xuất băng, đĩa ghi âm, ghi hình và của tổ
chức phát thanh, truyền hình ). Những hạnchế Nghị định 142- Hội đồng bộ trưởng là văn
bản dưới luật nên bị hạn chế về hiệu lực thi hành. Nghị định này chưa đáp ứng được các
yêu cầu đặt ra trong lĩnh vực bảo hộ quyền tác giả ở nước ta trong thời kỳ đầu của công
cuộc đổi mới nền kinh tế. Đối với nước ngoài, Nghị định chưa được coi là văn bản pháp lý
cao của Nhà nước ta tham gia các hiệp định song phưomg hoặc đa phưomg về quyền tác giả.
Để khắc phục các khuyết điểm trên của Nghị định 142- Hội đồng bộ trưởng, ngày
12/12/1994, ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả. Với
bố cục gồm 7 chưomg và 47 điều, pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả đã quy định tương đối
đầy đủ và cụ thể những vấn đề về bảo hộ quyền tác giả. So với Nghị định 142-Hội đồng bộ
trưởng, Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả quy định đầy đủ hom về các đối tượng bảo hộ
quyền tác giả, bao gồm cả phàm mềm máy tính, quy định cụ thể các quyền của tác giả. về
thời hạn bảo vệ Pháp lệnh đã tăng thời hạn bảo vệ đối với quyền tác giả trong suốt cuộc đời

Sau một thời gian thi hành Bộ luật dân sự, việc bảo hộ quyền tác giả ở nước ta đạt
được một số thành tựu sau: Bước đẩu xây dựng nền móng cho ý thức tôn trọng pháp luật
về quyền tác giả từ phía các cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm; góp phần giáo
dục ý thức tôn trọng quyền tác giả trong nhân dân; tạo lập niềm tin cho đội ngũ những
người sáng tác vào sự bảo hộ của pháp luật đối với hoạt động sáng tác của họ.
Tổ chức việc đăng ký quyền tác giả cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu.
Tạo cơ sở pháp lý để bảo hộ các quyền tác giả, giúp tòa án có căn cứ pháp lý cần
thiết để giải quyết vi phạm và tranh chấp về quyền tác giả.
Là cơ sở pháp lý để Việt Nam thiết lập và mở rộng họp tác quốc tế trong lĩnh vực
quyền tác giả. Việt Nam đã ký kết hai Hiệp định song phương về quyền tác giả với Hoa
Kỳ, Thụy Sĩ và ký Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, trong đó một phần của Hiệp
định này là quyền sở hữu trí tuệ. Ngày 26/7/2004 Việt Nam đã chính thức gia nhập công
ước Bem về bảo vệ quyền tác giả. Công ước Bem có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày
26/10/2004.
Các văn bản pháp luật nhằm hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật dân sự về
quyền tác giả đã được ban hành, nhưng nhìn chung pháp luật về quyền tác giả hiện nay ở
nước ta còn cỏ khiếm khuyết: Pháp luật về quyền tác giả là lĩnh vực mới được hình thành
và phát triển ở Việt Nam. Đây là một lĩnh vực khó và phức tạp, đòi hỏi phải hiểu biết, nắm
được lý luận khoa học và có nhiều kinh nghiệm thực tế. Vì vậy, nhiều chế định pháp luật
chưa được xây dựng trên cơ sở khoa học pháp lý; Hệ thống văn bản pháp luật về quyền tác
giả của nước ta còn phức tạp, gồm nhiều văn bản do nhiều cấp ban hành, có những khoảng
trống, nhưng cũng có những quy định chồng chéo, thiếu tính thống nhất về nội dung và

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

10

SVTH: Nguyễn Hồng Quân



hiện đó được bảo hộ chứ không phải là bảo hộ chính ý tưởng đó. Thí dụ, một tác giả bộc lộ
ý tưởng của mình là làm thế nào để chế tạo một chiếc máy bay bong một bài báo đăng trên
một tạp chí, thì tác giả được hưởng “ bản quyền” đối với bài báo đó và như vậy không ai
được phép sao chụp bài báo nếu không được sự đồng ý của tác giả, nhưng tác giả lại không
có quyền ngăn cản được người khác sử dụng ý tưởng của mình để tạo ra một chiếc máy
bay như mô tả trong bài báo của tác giả

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

11

SVTH: Nguyễn Hồng Quân


7 Khoản 1 Điều 6 Luật Sờ hữu trí tuệ năm 2005
8 Lê
Xuân Thảo, Đổi mới và
hoàn
Các biện pháp bảo hộ quyền tác giả theo quy định của pháp luật Việt Nam thiện pháp luật về Sở hữu
trí tuệ
Nhà xuất bản Tư pháp Hà
Nội - 2005, trang 22
Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một
hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện,
ngôn ngữ, đã công bố, chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.7
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là căn cứ chứng minh trong trường họp có tranh chấp phát
sinh lại phụ thuộc rất nhiều vào căn cứ pháp lý và điều quan trọng là trách nhiệm chứng
minh lại thuộc về người yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giảiquyết. Thí dụ thực tế như
trong vụ tranh chấp bản quyền bài hát “Tình thôi xót xa” giữa nhạc sĩ Bảo Chấn và nữ nhạc
sĩ Keiko Matsui (Nhật bản ), Bảo Chấn có thể được xem là tác giả nhưng không ai có thể

Các biện pháp bảo hộ quyền tác giả theo quy định của pháp luật Việt Nam
Bảo hộ quyền tác giả là biện pháp hữu hiệu khuyến khích lao động sáng tạo và phổ
biến tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, góp phàn thúc đẩy sự phát triển mọi mặt
của đời sống văn hóa, xã hội và là động lực tăng trưởng kinh tế tại mỗi quốc gia.
a) Đặc điểm bảo hộ quyền tác giả

Việc bảo hộ quyền tác giả mang tính quốc gia, có nghĩa là bảo hộ quyền tác giả
trong phạm vi biên giới và theo pháp luật của từng quốc gia. Tuy nhiên, trong bối cảnh
hiện nay, khi sự giao lưu văn hóa, khoa học, giáo dục, sự trao đổi thông tin, sản phẩm.,
dịch vụ giữa các nước ngày càng tăng và tỷ trọng các đối tượng được bảo hộ quyền tác giả
ở mỗi sản phẩm, dịch vụ lưu thông trên thị trường ngày càng lớn, vượt trội về giá trị so với
đối tượng vật chất, một mặt đòi hỏi mối quan hệ “ bảo hộ - cạnh tranh” trong kinh tế và
thưomg mại quốc tế không chỉ được điều chỉnh bằng công cụ thuế quan, phi thuế quan hoặc
đàu tư, mà còn đặt dưới sự kiểm sát của hệ thống sở hữu trí tuệ nói chung. Mặt khác các
quốc gia cần tăng cường hom nữa sự họp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo hộ quyền tác giả.
Để có thể đáp ứng được những yêu cầu trên các quốc gia cần ký kết hoặc gia nhập các
Điều ước quốc tế song phưomg, đa phưomg về bảo hộ quyền tác giả. Việc bảo hộ quyền tài
sản của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm được một giới hạn trong thời gian nhất định. Đối với
tác phẩm điện ảnh, phát thanh, truyền hình,video và tác phẩm di cảo, thì quyền tài sản đối
với những tác phẩm đó được bảo hộ trong thời gian 50 năm, kể từ ngày tác phẩm được
công bố lần đầu tiên. Đối tác phẩm không rõ tác giả thì quyền tài sản đối với tác phẩm
được bảo hộ trong thời hạn 50 năm, tính từ ngày xác định được tác giả.
Trong trường họp quyền nhân thân của tác giả, của người biểu diễn, quyền tài sản
của tác giả, của chủ sở hữu bị xâm phạm, người có quyền bị xâm phạm, phải bồi thường
thiệt hại theo đúng các quy định của Bộ luật dân sự, người bị xâm phạm cũng có thể yêu
cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành chính người có hành vi vi phạm. Người
xâm phạm cũng có thể bị xử phạt hình sự theo quy định tại điều 131 Bộ luật hình sự năm
1999. Người nắm giử quyền nhân thân hoặc quyền tài sản đối tác phẩm còn có thể yêu cầu
đối với cơ quan hải quan áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với hàng hóa xuất nhập
khẩu, nếu thấy có dấu hiệu xâm phạm quyền tác giả của minh.9

kiến trúc cảnh quan một vùng, đô thị, hệ thống đô thị, khu chức năng, đô thị, khu dân cư;
Tác phẩm tạo hình là tác phẩm được thể hiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc, bố cục
như hội hoạ, đồ hoạ, điêu khắc, nghệ thuật sắp đặt và các hình thức thể hiện khác tồn tại
dưới dạng độc bản. Đối với loại hình đồ hoạ có thể thể hiện đến phiên bản thứ 50, có số thứ
tự và có chữ ký của tác giả; Mỹ thuật ứng dụng là tác phẩm được thể hiện bằng đường nét,
hình khối, màu sắc, bố cục với tính năng hữu ích, có thể gắn liền với đồ vật hữu ích, được
sản xuất hàng loạt, bằng tay hoặc bằng máy như biểu trưng, hàng thủ công mỹ nghệ, hình
thức thể hiện trên sản phẩm, bao bì sản phẩm; Tác phẩm nhiếp ảnh là tác phẩm thể hiện
hình ảnh của thế giới khách quan trên vật liệu bắt sáng hoặc trên phương tiện mà hình ảnh
được tạo ra hay cỏ thể tạo ra bằng bất cứ phương tiện kỹ thuật nào. Có thể là phương pháp
hoá học, điện tử, hoặc phương pháp khác; Bản hoạ đồ, bản vẽ, sơ đồ, bản đồ có liên quan

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

14

SVTH: Nguyễn Hồng Quân


10 Bình luận về quyền tác giả theo Pháp Luật Việt Nam, Nhà xuất bản Tư pháp Hà Nội-2005, trang 35
Các biện pháp bảo hộ quyền tác giả theo quy định của pháp luật Việt Nam
đến địa hình, các loại công trình khoa học; Chưong trình máy tính, sưu tập dữ liệu; Tác
phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo vệ theo quy định tại khoản 1 điều 14 Luật sở hữu trí
tuệ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng làm tác phẩm
phái sinh.
Tác phẩm được bảo vệ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 điều 14 Luật sở hữu trí tuệ
phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác
phẩm của người khác.
Chính phủ hướng dẫn cụ thể về các loại hình tác phẩm quy định tại khoản 1 điều 14 Luật

phẩm là do cá nhân người sử dụng lựa chọn, một tác phẩm có thể sử dụng cho một hoặc
nhiều mục đích khác nhau tùy yêu cầu thực tế, trình độ công nghệ. Thậm chí, có trường
hợp ngay cả tác giả và người sử dụng cũng chưa dự kiến được mục đích sử dụng tác
1 Ẵ 11
pham
1.1.3

Nội dung của quyền tác giả

Quyền tác giả đối với tác phẩm được quy định tại Điều 18 Luật sở hữu trí tuệ 2005
bao

gồm

quyền

nhân

thân



quyền

tài

sản.

a) Quyền nhân thân
Quyền nhân thân của tác giả là tập họp các quyền nhằm bảo vệ các lợi ích tinh thần

50
người khác sử dụng tác phẩm thuộc quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp giữa tác giả và
chủ sở hữu có thoả thuận khác.12
Thực chất ta thấy, quyền công bố, phổ biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến
tác phẩm của mình và quyền cho hoặc không cho người khác sử dụng tác phẩm của mình
không hoàn toàn là quyền nhân thân mà còn là quyền tài sản, bởi vì thông qua việc công
bố, phổ biến, cho phép người khác sử dụng tác phẩm của mình, tác giả đã thu được những
lợi ích kinh tế về cho mình. Vì vậy, Bộ luật dân sự quy định hai quyền này thuộc về tác
giả, nếu tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm, nếu tác giả không đồng thời là chủ sở
hữu tác phẩm (khoản 1 Điều 751(Điều 738) Bộ luật dân sự và khoản 1 Điều 752 (đã bỏ) Bộ
luật dân sự). Và các quyền này chỉ được bảo hộ trong suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau
khi tác giả chết. Các quyền này có thể được chuyển giao và có thể được thừa kế. Ngược lại,
quyền được nhận giải thưởng đối với tác phẩm của mình quy định tại điểm d khoản 2 Điều
751 (Điều 738) Bộ luật dân sự và điểm c khoản 2 Điều 752 (đã bỏ) Bộ luật dân sự không
chỉ mang ý nghĩa vật chất, mà yếu tố tinh thần của quyền này nổi trội hơn yếu tố vật chất.
Trong mọi trường hợp, các quyền nhân thân sau đây luôn thuộc về tác giả hoặc đồng tác
giả bao gồm các quyền: Quyền đặt tên cho tác phẩm, Quyền được nêu tên thật hoặc bút
danh khi tác phẩm được công bố, phổ biến, sử dụng; Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác
phẩm. Các quyền này gắn liền với nhân thân của tác giả và không thể chuyển giao cho
người khác, không được thừa kế và được bảo hộ vô thời hạn. Thậm chí, có hệ thống pháp
luật còn quy định những quyền này không thể khước từ được. Sau khi tác giả chết, việc bảo
vệ các quyền này được thực hiện thông qua Nhà nước hoặc cộng đồng nhân dân.13
b) Quyền tài sản
Quyền tài sản là một bộ phận của quyền tác giả.Quyền tài sản là tập họp các quyền
nhằm bảo vệ lợi ích được khai thác và/hoặc tham gia vào quá trình sử dụng, khai thác các
giá trị kinh tế của tác phẩm.
Quyền tài sản của tác giả bao gồm các quyền sau: Quyền làm tác phẩm phái sinh;
Quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng; Quyền sao chép tác phẩm; Quyền phân phối,
nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; Quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng
bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ

đó, có thể được thừa kế và có thể tịch biên để thi hành các nghĩa vụ vủa người nắm giữ
quyền đó theo thủ tục cưỡng chế thi hành án. Các quyền tài sản của tác giả được bảo hộ có
thời hạn cụ thể như: quyền tài sản đối với các tác phẩm không thuộc điện ảnh, nhiếp ảnh,
sân khấu, mỹ thuật ứng dụng “được bảo hộ suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp
theo năm tác giả chết”. Nói cách khác, quyền tài sản đối với tác phẩm âm nhạc không được
bảo hộ kể từ năm thứ 51 tiếp sau năm tác giả chết.
1.1.4

Giói hạn quyền tác giả

Nói chung, pháp luật sở hữu trí tuệ luôn bảo vê quyền lợi ích hợp pháp của chủ thể

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

18

SVTH: Nguyễn Hồng Quân



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status