quyền liên quan đến quyền tác giả theo quy định của pháp luật việt nam - Pdf 13






QUYỀN LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN TÁC GIẢ
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT
NAM
 !




"#$%&'(
  !
QUYỀN LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN TÁC GIẢ
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT
NAM
)*+,) /01.234.$ ')./,) 5/67/)8.$
/'9:/;<../ +=.2/;)./
1>$?!%<.'6
2
 !


Để hoàn thành được khóa luận tốt
nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân,
lời đầu tiên trong khóa luận tốt nghiệp
này, em xin được bày tỏ lòng biết ơn
chân thành đến cô giáo – Thạc só Hồ Thò
Vân Anh đã tận tình dạy dỗ, hướng dẫn,

4
@AA
5
6
9B@CB
9D./7E>5/)57FG,)87.2/) 7HIJ5=)
Thưởng thức các giá trị nghệ thuật và làm phong phú đời sống văn
hóa, tinh thần là nhu cầu cơ bản của con người và đó cũng là một yếu tố
xuyên suốt lịch sử loài người. Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi đời
sống con người ngày càng phát triển, chất lượng cuộc sống ngày càng cao
thì nhu cầu thưởng thức đó lại càng lớn và dường như “nó”đã trở thành
món ăn tinh thần không thể thiếu đối với bản thân của mỗi con người. Tuy
nhiên, việc ghi nhận và bảo hộ quyền của những người đóng góp sáng tạo
trí tuệ của mình cho sự thỏa mãn nhu cầu cơ bản ấy dường như vẫn là một
vấn đề mới mẻ. Nếu như quyền tác giả chỉ mới lần đầu tiên được bảo hộ
trên phạm vi thế giới kể từ cuối thế kỷ XIX (với sự ra đời Công ước Berne
năm 1886) thì đối với quyền liên quan dành cho những người thể hiện
chuyển tải, các tác phẩm nghệ thuật đến công chúng, sự bảo hộ quốc tế chỉ
được thiết lập sau đó gần một thế kỷ, và cho đến nay vẫn đang là vấn đề
gây nhiều tranh luận.
Ở Việt Nam, pháp luật về sở hữu trí tuệ được hình thành từ những
thập niên 70 và 80 của thế kỷ XX. Trong giai đoạn đổi mới, hội nhập
quốc tế, pháp luật về sở hữu trí tuệ nước ta đã có bước phát triển quan
trọng, thể hiện qua các quy định về sở hữu trí tuệ được ghi nhận trong
các Hiến Pháp đặc biệt là Hiến Pháp năm 1992, qua các chế định trong
Bộ luật Dân sự, được cụ thể hóa qua Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi,
bổ sung năm 2009), Pháp lệnh về giống cây trồng và các nghị định,
quyết định, thông tư của Chính phủ, các Bộ, các ngành quy định chi tiết,
hướng dẫn thi hành các luật trên từng mặt, lĩnh vực cụ thể và qua việc
Nhà nước ta gia nhập và ký kết nhiều điều ước quốc tế đa phương và

vấn đề thực tiễn cần được xem xét và giải quyết, đòi hỏi không ngừng đổi mới
và hoàn thiện các quy định của lĩnh vực pháp luật này. Mặt khác, đi đôi với sự
8
phát triển mạnh mẽ trong hoạt động của các chủ thể của quyền liên quan đến
quyền tác giả là các hoạt động xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với các tác
phẩm của các chủ thể quyền này. Đặc biệt, cùng với sự bùng nổ của công
nghệ thông tin, sự phổ biến của Internet trên quy mô toàn cầu và khả năng tiếp
cận dễ dàng các sản phẩm nghệ thuật bằng các phương tiện kĩ thuật số, các tác
phẩm được truyền đạt với rất nhiều cách thức đa dạng, được sử dụng ở bất cứ
thời điểm và không gian nào, khiến vi phạm bản quyền có điều kiện phát
triển, quyền liên quan đến quyền tác giả có thể được coi là một đề tài “nóng”
của sở hữu trí tuệ hiện nay.Hơn nữa, với bối cảnh hội nhập đa chiều, đa lĩnh
vực của nước ta trong giai đoạn này cũng khiến việcnghiên cứu tìm hiểu về
quyền liên quan đến quyền tác giả càng trở nên cấp thiết.
Vì lý do trên, tác giả đã chọn đề tài làm khóa luận tốt nghiệp là: “Quyền
liên quan đến quyền tác giả theo quy định của pháp luật Việt Nam”.
9@K7ID7/.2/) 7H
Khoá luận hướng tới việc làm rõ cơ sở lý luận của quyền liên quan
đến quyền tác giả theo quy định của pháp luật Việt Nam, phân tích các quy
định pháp luật hiện hành điều chỉnh quyền liên quan đến quyền tác giả
cũng như phản ánh thực tiễn áp dụng các quy định này. Trên cơ sở đó, tác
giả đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về quyền
liên quan đến quyền tác giả, nâng cao khả năng thực thi của chúng, bảo hộ
có hiệu quả các quyền liên quan đến quyền tác giả.
?9L.//L./.2/) 7HIJ5=)
Quyền liên quan đến quyền tác giả là một khái niệm pháp lý tương đối
mới ở Việt Nam. Việc xuất hiện các quy định về quyền liên quan đến quyền
tác giả xuất phát từ việc hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới như
gia nhập ASEAN, APEC, WTO…sự phát triển kinh tế, xã hội kéo theo sự
thay đổi của khung pháp lý. Trước thực tế cần phải có đầy đủ các quy định

dung, giới hạn quyền liên quan đến quyền tác giả và xem xét tình hình thực
thi trên thực tế các quy định này.
10
Với phạm vi nghiên cứu như trên, tác giả xác định đối tượng nghiên
cứu chủ yếu của khóa luận bao gồm:
- Các quy định pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành về quyền
liên quan đến quyền tác giả;
- Bên cạnh đó tác giả cũng đi vào tìm hiểu một số quy định về quyền
liên quan đến quyền tác giả của các điều ước quốc tế phổ biến và pháp luật
một số quốc gia để làm rõ thêm đối tượng nghiên cứu;
- Tình hình thực thi các quy định pháp luật về quyền liên quan đến
quyền tác giả tại Việt Nam hiện nay;
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định về quyền liên quan đến
quyền tác giả.
Q9/0R.2>/*>.2/) 7H
Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử theo quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, khóa luận sử dụng
các phương pháp nghiên cứu cụ thể của khoa học xã hội nói chung, khoa
học pháp lý nói riêng, đó là các phương pháp lịch sử, hệ thống, phân tích,
tổng hợp, so sánh. Các phương pháp này được kết hợp nhằm làm rõ các
quy định của pháp luật thực định, nhìn nhận, đánh giá chúng trong mối liên
hệ với pháp luật quốc tế cũng như trong thực tiễn áp dụng.
S9T.2/UGVWVX.,=5/675)Y.7FGIJ5=)
Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật về quyền liên quan đến
quyền tác giả, qua việc so sánh đối chiếu với thực tiễn áp dụng pháp luật của
các cơ quan có thẩm quyền để tìm ra những vướng mắc, thiếu sót, qua đó đề
xuất một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về quyền
liên quan đến quyền tác giả, nâng cao khả năng thực thi của chúng, bảo hộ có
hiệu quả các quyền liên quan đến quyền tác giả trong giai đoạn hiện nay.
Khóa luận có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu

trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa được quy
định tại Điều 745,746, 747 và Điều 748 của Bộ luật Dân sự và Điều 29, 30
và Điều 31 của Luật Sở hữu trí tuệ”.
Như vậy, quyền liên quan đến quyền tác giả được bảo hộ cho những
cá nhân, tổ chức hoạt động trong quá trình đưa tác phẩm đến công chúng.
Đây là sự khác biệt giữa quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác
giả. Do vậy bảo hộ quyền này là bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của
những tổ chức, cá nhân đối với những sản phẩm mà họ thực hiện mà sản
phẩm của họ không phải là tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học được
13
bảo hộ với danh nghĩa là quyền tác giả.
So với những quyền liên quan đến quyền tác giả được bảo vệ ở cấp độ
toàn cầu theo các điều ước quốc tế như Công ước Rome hay Hiệp ước của
WIPO về biểu diễn và bản ghi âm năm 1996 (WPPT), khái niệm quyền liên
quan đến quyền tác giả được quy định trong pháp luật Việt Nam có phạm
vi rộng hơn, bao gồm cả quyền của nhà sản xuất bản ghi hình và quyền của
tổ chức phát sóng đối với tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.
1.1.2. Khái niệm quyền liên quan đến quyền tác giả trong khoa học
pháp lý
Quyền liên quan đến quyền tác giả cũng như nhiều khái niệm khác
trong khoa học pháp lý thường được hiểu theo hai phương diện:
Thứ nhất, đó là các quyền nhân thân và quyền tài sản của các cá nhân,
tổ chức thực hiện việc chuyển tải, truyền đạt tác phẩm tới công chúng
thông qua việc biểu diễn tác phẩm; sản xuất bản ghi âm, bản ghi hình và
phát sóng tác phẩm.
Thứ hai, đó là tổng hợp các quy định pháp luật nhằm xác định và bảo
vệ các quyền nhân thân và quyền tài sản của cá nhân, tổ chức đối với cuộc
biểu diễn tác phẩm; cá nhân, tổ chức sản xuất bản ghi âm, bản ghi hình; tổ
chức phát sóng cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, phát sóng tác phẩm.
99'6/L./5/=./,=>/*55j)k.7FG/85/M.27*7,l.mi.>/*>

địa vị pháp lý của họ.
Để hướng dẫn thi hành các quy định về quyền tác giả, quyền liên quan
đến quyền tác giả tại BLDS nhiều văn bản dưới luật đã ban hành. Tuy
nhiên, sau một thời gian áp dụng thì các quy định trên bộc lộ những hạn
chế, bất cập không phù hợp với tình hình thực tiễn. Do đó, đứng trước nhu
cầu cấp bách cần phải có một hành lang pháp lý về bảo hộ sở hữu trí tuệ
đáp ứng được các quy tắc chung của thế giới, đủ điều kiện để gia nhập
WTO của Việt Nam, Bộ khoa học và Công nghệ đã được Chính phủ giao
chủ trì xây dựng Luật Sở hữu trí tuệ (Luật SHTT). Trong một thời gian
tương đối ngắn, từ ngày 27/12/2004 thành lập Ban soạn thảo liên ngành
15
đến ngày 7/2/2005 thì bản Dự thảo Luật SHTT (lần 2) đã được hoàn chỉnh
để gửi xin ý kiến. Dự thảo này gồm 14 Chương với 479 Điều điều chỉnh
toàn diện quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu
công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng mới. Tại kỳ họp Quốc hội
khóa X, kỳ họp thứ 10, ngày 29/11/2005 Luật SHTT (luật số
50/2005/QH10) đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực kể từ ngày
01/07/2006. Ngay sau khi Luật SHTT 2005 ra đời và đi vào thực tiễn điều
chỉnh các quan hệ có liên quan trong xã hội, Chính phủ, các Bộ và cơ quan
có liên quan đã ban hành các văn bản hướng dẫn về việc thực hiện các quy
định của Luật SHTT 2005. Trong lĩnh vực quyền liên quan đến quyền tác
giả có các văn bản hướng dẫn thi hành Luật SHTT 2005 như Nghị định số
100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về
quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả.
Trải qua hơn ba năm thi hành kể từ ngày có hiệu lực, một số các quy
định trong Luật SHTT 2005 đã không còn phù hợp với thực tế. Chính các
quy định đó đã gây cản trở cho hoạt động của các chủ thể liên quan tới
quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có quyền liên quan đến quyền tác giả. Vì
vậy, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT 2005 là cần thiết.

thư giãn, giải tỏa căng thẳng…Trong khi đó các nghệ sĩ biểu diễn, nhà sản
xuất bản ghi và tổ chức phát thanh, truyền hình đều hướng tới mục đích
làm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của công chúng. Những mục đích này của
họ thường mang tính lợi nhuận và nghề nghiệp. Hành vi sử dụng của họ do
đó cũng mang tính chuyên nghiệp và đòi hỏi những kỹ năng đặc biệt như
chất giọng, khả năng diễn xuất, kỹ thuật ghi âm, phát sóng… Kết quả việc
sử dụng tác phẩm của các chủ thể quyền liên quan đến quyền tác giả cũng
là một điểm rất đặc biệt, đó là việc tạo ra những tác phẩm sáng tạo nghệ
thuật mới trên cơ sở tác phẩm đã có nhưng không thuộc phạm vi bảo hộ
của quyền tác giả, mà bản chất của nó là bước trung gian giữa tác phẩm
17
nghệ thuật của tác giả với công chúng.
Như vậy, hoạt động của chủ thể quyền liên quan đến quyền tác giả là
hành vi sử dụng tác phẩm đã có, đó là một sự sử dụng đặc biệt mang tính
sáng tạo nghệ thuật nhất định, tạo nên cầu nối đưa tác phẩm đến công
chúng. Do đặc điểm này, chủ thể quyền liên quan đến quyền tác giả được
pháp luật sở hữu trí tuệ bảo hộ quyền lợi bằng một nhóm những quy định
riêng biệt. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng tác phẩm các chủ thể này vẫn
phải tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ đối với tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả
của tác phẩm mà họ sử dụng theo quy định pháp luật như các chủ thể có
hành vi sử dụng tác phẩm khác.
1.3.2. Đối tượng quyền liên quan đến quyền tác
giả được bảo hộ khi có tính nguyên gốc
Tính chất này của đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả được
xem xét trên hai phương diện chủ yếu sau:
Thứ nhất, tính nguyên gốc được xác định trên cơ sở lao động sáng tạo
mang dấu ấn cá nhân của chủ thể.
Việc quyền liên quan đến quyền tác giả phát sinh trên cơ sở hành vi sử
dụng tác phẩm đã có từ trước không ảnh hưởng đến tính nguyên gốc của
các đối tượng mà nó bảo hộ. Không khó để nhận ra rằng sự trình diễn của

tượng quyền liên quan đến quyền tác giả và nếu tổ chức phát sóng nào
khác tiến hành tiếp sóng, phát sóng đồng thời hoặc phát lại chương trình
này thì việc phát sóng của tổ chức thứ hai này là không có tính nguyên gốc
và cũng như trường hợp trên, bị xác định là hành vi xâm phạm quyền liên
quan đến quyền tác giả theo pháp luật sở hữu trí tuệ” [20; 41].
Nếu như đặc trưng thứ nhất của quyền liên quan đến quyền tác giả
(tính chất sử dụng các tác phẩm đã có) là điểm quan trọng để phân biệt nó
với các loại quyền sở hữu trí tuệ khác, thì tính nguyên gốc của quyền liên
quan đến quyền tác giả cho phép xác định đâu là quyền liên quan đến
quyền tác giả được pháp luật bảo hộ và khi nào xảy ra sự xâm phạm quyền
liên quan đến quyền tác giả. Khi tính nguyên gốc được thỏa mãn, ta có thể
19
xác định được đối tượng được bảo hộ bởi quyền liên quan đến quyền tác
giả, chủ thể của quyền liên quan đến quyền tác giả và ngược lại, việc không
đảm bảo tính nguyên gốc đó là căn cứ để nhận định đã có hành vi xâm
phạm đến quyền liên quan đến quyền tác giả.
1.3.3. Quyền liên quan đến quyền tác giả chỉ được bảo hộ trong thời
hạn nhất định, kể cả các quyền nhân thân
Đây là một đặc điểm riêng biệt của quyền liên quan đến quyền tác giả
trong sự so sánh với quyền tác giả và cả quyền sở hữu công nghiệp. Đối với
quyền tác giả, các quyền tài sản và các quyền nhân thân có thể chuyển dịch
(quyền công bố tác phẩm) được bảo hộ với thời hạn thông thường là suốt
cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết; các quyền nhân thân gắn
liền với tác giả không thể chuyển dịch được bảo hộ vô thời hạn. Đối với
quyền sở hữu công nghiệp, thời hạn bảo hộ phần lớn là xác định (có thể gia
hạn hoặc không), tuy nhiên, đối với tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật
kinh doanh thời hạn bảo hộ là không xác định và sẽ kéo dài đến khi nào các
đối tượng này còn đáp ứng được các điều kiện bảo hộ. Như vậy, thông
thường thì luôn có một số đối tượng của quyền tác giả và quyền sở hữu
công nghiệp được bảo hộ với thời hạn không xác định. Tuy nhiên, đối với

mang chương trình được mã hóa chỉ được bảo hộ…với điều kiện không gây
phương hại đến quyền tác giả”(khoản 4 Điều 17 Luật SHTT), hay: “Quyền
liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương
trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa được định
hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả” (khoản 2
Điều 6 Luật SHTT).
Đặc điểm này một lần nữa khẳng định bản chất của quyền liên quan
đến quyền tác giả: phát sinh trên cơ sở hành vi sử dụng tác phẩm đã có.
Quyền liên quan đến quyền tác giả có mối liên hệ mật thiết với quyền tác
giả. Hành vi của chủ thể quyền liên quan đến quyền tác giả trong việc sử
dụng tác phẩm, chuyển tải tác phẩm tới công chúng đòi hỏi cần phải có sự
cho phép của tác giả bởi lẽ các hành vi của chủ thể quyền liên quan đến
quyền tác giả nếu không được sự cho phép của tác giả có thể sẽ làm ảnh
hưởng đến quyền lợi của tác giả như hình ảnh,danh dự, nhân phẩm và cả
21
quyền lợi vật chất của tác giả nữa. Mặt khác, nó đáp ứng mong muốn của
tác giả trong việc phổ biến tác phẩm của mình đến khán giả một cách rộng
rãi, cũng như đem lại một khoản thù lao xứng đáng với công sức sáng tạo
của tác giả. Nếu việc sử dụng tác phẩm không đảm bảo tôn trọng quyền tác
giả (không được sự cho phép của tác giả) thì đó bị coi là hành vi xâm phạm
quyền tác giả và hành vi này không làm phát sinh quyền liên quan đến
quyền tác giả được bảo hộ theo quy định của pháp luật.
9!9@o5pMI)J017gM75,JghJ.V) gG.I.ghJ.5*72)i
“Trên phạm vi toàn cầu, quyền liên quan đến quyền tác giả đã sớm
được quan tâm với tư cách một lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ độc lập chứ
không phải một “bộ phận” gắn liền với quyền tác giả” [21; 69]. Đến nay
đã có nhiều điều ước quốc tế riêng biệt về quyền liên quan đến quyền tác
giả mà đáng chú ý nhất là Công ước quốc tế về bảo hộ người biểu diễn, nhà
sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng (Công ước Rome 1961), Công
ước về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống lại việc sao chép trái phép bản

chúng một buổi biểu diễn “trực tiếp”; ghi lại cuộc biểu diễn chưa được ghi
thu, lưu định; tái tạo, nhân bản một bản ghi thu, lưu định của buổi biểu
diễn, trừ khi bản gốc được thực hiện mà không có sự đồng ý của người biểu
diễn hoặc việc tái tạo, nhân bản được thực hiện vì những mục đích mà
Công ước hoặc người biểu diễn không cho phép (Điều 7). Đối với nhà sản
xuất bản ghi âm, Công ước bảo đảm cho họ quyền cho phép hoặc ngăn cấm
việc tái tạo, nhân bản trực tiếp hoặc gián tiếp các bản ghi âm của họ (Điều
10); Công ước không quy định về quyền cho phép biểu diễn các bản ghi âm
và không dứt khoát ngăn cấm việc phân phối hoặc nhập khẩu những bản
sao ghi âm trái phép. Với tổ chức phát sóng, Công ước quy định họ có
quyền cho phép hoặc ngăn cấm phát lại đồng thời các buổi phát sóng của
họ; thu ghi, lưu định các buổi phát sóng của họ; tái tạo, nhân bản những
bản ghi các buổi phát sóng mà chưa được cho phép hoặc tái tạo, nhân bản
những bản thu ghi, lưu định hợp pháp cho những mục đích bất hợp pháp,
23
và truyền tới công chúng các buổi phát sóng truyền hình thông qua những
trạm thu mà công chúng không phải trả tiền khi tiếp nhận; tuy nhiên, quyền
truyền đạt trên không mở rộng cho các buổi phát sóng thu âm và Công ước
không bảo hộ chống lại việc phân phối các buổi phát sóng bằng cáp.
Công ước Rome cho phép một số hạn chế nhất định về các quyền
được cấp. Bất kỳ quốc gia thành viên nào cũng có thể quy định những
ngoại lệ đối với việc sử dụng cá nhân, sử dụng những trích dẫn ngắn nhằm
ghi lại sự kiện thời sự, bản thu ghi, lưu định tạm thời của một tổ chức phát
sóng được thực hiện bằng các phương tiện của họ và phục vụ cho các buổi
phát sóng của họ và cho tất cả các hình thức sử dụng chỉ nhằm mục đích
giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học (Điều 15).
Một điểm quan trọng của Công ước là quy định về thời hạn bảo hộ tối
thiểu, đó là một giai đoạn 20 năm tính từ khi kết thúc năm mà bản ghi thu,
lưu định được thực hiện, đối với cả bản ghi âm và đối với buổi biểu diễn
được thu ghi trong đó hay tính từ năm kết thúc mà buổi biểu diễn diễn ra,

truyền tới họ.
Công ước vệ tinh mở rộng phạm vi bảo hộ các tổ chức phát sóng bằng
cách không giới hạn phạm vi phát sóng theo định nghĩa khái niệm này
trong Công ước Rome và cung cấp sự bảo hộ đối với cả tín hiệu nguồn
được phân phối bằng dây cáp. Một điểm cần lưu ý là Công ước vệ tinh
không bảo hộ chương trình đã được truyền phát, mà đối tượng bảo hộ là
các tín hiệu được truyền bởi trạm nguồn.Vấn đề thời hạn được Công ước
trao cho luật pháp quốc gia ấn định.
1.4.4. Hiệp ước WPPT
Hiệp ước WPPT ra đời trong bối cảnh mà sự phát triển công nghệ đã
khiến việc hướng dẫn dưới hình thức các khuyến nghị, các nguyên tắc
hướng dẫn và các quy định mẫu và các quy tắc mới mang tính ràng buộc là
không thể thiếu.
WPPT dành nhiều quy định về những vấn đề “nóng” chưa được đề
25

Trích đoạn Tình hình áp dụng các quy định pháp luật về quyền liên quan đến quyền tác giả Vi phạm quyền của người biểu diễn Vi phạm quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình Về quyền của tổ chức phát sĩng Nguyên nhân dẫn đến những hành vi vi phạm quyền liên quan
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status