ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN ANH HÙNG VẤN ĐỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ
THEO PHÁP LUẬT HOA KỲ
luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc
Hµ néi - 2009
Hµ néi - 2009
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN TÁC GIẢ, BẢO
HỘ QUYỀN TÁC GIẢ
5
1.1.
Khái niệm, đặc điểm của quyền tác giả
5
1.1.1.
Sơ lược sự ra đời và phát triển của quyền tác giả
Đối tượng và phạm vi điều chỉnh của Luật Quyền tác giả
30
2.2.1.
Đối tượng được bảo hộ quyền tác giả
30
2.2.2.
Chủ sở hữu quyền tác giả
34
2.3.
Thời hạn bảo hộ quyền tác giả và những hạn chế đối với
quyền tác giả
37
2.3.1.
Thời hạn bảo hộ quyền tác giả
37
2.3.2.
Những hạn chế đối với quyền tác giả
40
2.4.
Ký hiệu và đăng ký quyền tác giả
43
2.4.1.
Ký hiệu quyền tác giả
43
2.4.2.
Đăng ký quyền tác giả
46
2.5.
Cục Bản quyền tác giả và Ban trọng tài nhuận bút quyền
tác giả
78
3.2.1.
Quản lý nhà nước về quyền tác giả
78
3.2.2.
Trình tự, thủ tục đăng ký bản quyền tác giả
79
3.2.3.
Hệ thống chế tài trong việc thực thi bảo hộ quyền tác giả
81
3.2.4.
Vai trò của các Hiệp hội liên quan đến quyền tác giả
82
3.2.5.
Vấn đề bản quyền và văn hóa
85
3.2.6.
Giải quyết những thách thức về vấn đề bản quyền trong thời
đại kỹ thuật số - nội dung trọng tâm của việc bảo hộ quyền
tác giả trong giai đoạn hiện nay
86
3.2.6.1.
Những nét đặc trưng của công nghệ số có liên quan đến
bản quyền
86
3.2.6.2.
Những điểm đáng lưu ý của pháp luật Hoa Kỳ đối với việc
bảo hộ quyền tác giả trong thời đại kỹ thuật số
87
3.3.
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các sản phẩm của sự sáng tạo trí tuệ mang tính phi vật chất và dễ phổ
biến, khai thác rộng rãi ở nhiều quốc gia khác nhau. Hơn nữa, sự sáng tạo và
các sản phẩm của sự sáng tạo trí tuệ được coi là tiền đề, là động lực thúc đẩy
sự phát triển chung của xã hội loài người. Do vậy, việc bảo hộ quyền tác giả
đối với các sản phẩm của sự sáng tạo trí tuệ ở các quốc gia trên thế giới cũng
như ở Việt Nam có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Hoa Kỳ là nước công nghiệp rất phát triển, các qui định của pháp luật
về quyền tác giả rất chặt chẽ, vấn đề bảo hộ cũng như thực thi các xâm phạm
quyền tác giả được coi trọng và thực hiện một cách nghiêm chỉnh. Vì vậy, việc
nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm của quốc gia này nhằm phục vụ công tác xây
dựng pháp luật về bảo vệ quyền tác giả có ý nghĩa to lớn đối với Việt Nam.
Bên cạnh đó, Hoa Kỳ là đối tác thương mại lớn của Việt Nam và đồng
thời là bên tham gia ký kết hiệp định về Quyền tác giả năm 1997, Hiệp định
Thương mại năm 2000; hai nước cùng là thành viên của Công ước Berne về
bảo hộ quyền tác giả. Do đó, việc nghiên cứu, tiếp thu, tiến tới sự tương thích
về pháp luật trong lĩnh vực quyền tác giả giữa hai nước là điều kiện hết sức
quan trọng trong giao lưu, hợp tác về kinh tế, thương mại, văn hóa.
Tuy có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng như vậy nhưng vấn đề
bảo hộ quyền tác giả trong pháp luật Hoa Kỳ chưa được các nhà khoa học
pháp lý Việt Nam đầu tư nghiên cứu một cách thỏa đáng. Chình ví vậy, tác
giả đã lựa chọn đề tài "Vấn đề bảo hộ quyền tác giả theo pháp luật Hoa Kỳ"
làm đề tài nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây ở Việt Nam đã có một số bài báo và công
trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề bảo hộ quyền tác giả theo pháp luật Hoa
2
Kỳ nói riêng, pháp luật nước ngoài nói chung ở một số khía cạnh hoặc đối với
- Đánh giá sự tương quan và khác biệt trong hệ thống quy định pháp
luật về quyền tác giả của Hoa Kỳ với Việt Nam và các qui định của pháp luật
quốc tế để đề xuất những sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện hơn nữa các qui
định về quyền tác giả tại Việt Nam.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với phạm vi nghiên cứu nêu trên trong luận văn này, tác giả tập trung
vào giải quyết những nhiệm vụ chính như sau:
- Phân tích, tổng kết các vấn đề lí luận về quyền tác giả như: khái
niệm, đặc điểm, đối tượng, chủ thể của quyền tác giả.
- Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của các quy định về bảo hộ
quyền tác giả trong pháp luật quốc tế; phân tích ý nghĩa, nội dung các nguyên
tắc cơ bản trong bảo hộ quyền tác giả.
- Phân tích các quy định về bảo hộ quyền tác giả theo pháp luật Hoa Kỳ;
- So sánh quy định pháp luật về quyền tác giả của Việt Nam và Hoa Kỳ.
- Trên cơ sở những nghiên cứu đó, đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn
thiện chế định bảo hộ quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam để có sự hài hòa
với pháp luật của đối tác thương mại Hoa Kỳ và phù hợp với hệ thống pháp
luật quốc tế.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được những mục đích đã đặt ra trên cơ sở lý luận là phép duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn đã sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu như: phương pháp so sánh, phân tích tài liệu, phương pháp tổng
hợp, cũng như những thành tựu của khoa học luật tư pháp quốc tế, các công
trình của các nhà khoa học - luật gia ở trong và ngoài nước.
Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào số liệu trong các báo cáo
hàng năm, các chuyên đề, tài liệu hội thảo của Cục Bản quyền tác giả Văn học -
4
nghệ thuật, của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và
một số vụ tranh chấp quyền tác giả theo pháp luật Hoa Kỳ trong thực tiễn.
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA QUYỀN TÁC GIẢ
1.1.1. Sơ lƣợc sự ra đời và phát triển của quyền tác giả [19]
Trong thời kỳ Cổ đại và thời kỳ Trung cổ người ta chưa biết đến quyền
cho một tác phẩm trí tuệ. Các quy định luật pháp chỉ có cho những vật mang
tác phẩm trí tuệ, đặc biệt là về sở hữu, như không được phép trộm cắp một
quyển sách nhưng lại được phép chép lại từ quyển sách đó. Việc nhiều nghệ sĩ
và tác giả cùng làm việc trong một đề tài là một trường hợp bình thường, cũng
như việc các nhạc sĩ khác lấy hay thay đổi các bài hát và tác phẩm âm nhạc.
Khi không muốn bài viết bị thay đổi tác giả chỉ còn có cách gắn một lời
nguyền rủa vào quyển sách của mình như Eike von Repgow, tác giả của
Sachsenspiegel, một quyển sách ghi chép lại các luật lệ đương thời, đã
nguyền rủa những người giả mạo tác phẩm của ông sẽ bị bệnh hủi.
Cùng với phát minh in (khoảng năm 1440), các bản sao chép lại của
một tác phẩm bắt đầu có thể được sản xuất ở số lượng lớn một cách dễ dàng
hơn. Nhưng tác giả vẫn chưa có được "quyền tác giả" ở bên cạnh và còn phải
vui mừng là chẳng những tác phẩm được in mà nhà in hay nhà xuất bản còn
trả cho một số tiền cho bản viết tay. Thế rồi đi đến trường hợp là bản in đầu
tiên bị các nhà in khác in lại. Việc này làm cho việc kinh doanh của nhà in
đầu tiên khó khăn đi vì người này đã đầu tư lao động nhiều hơn và có thể
cũng đã trả tiền cho tác giả, những người in lại tự nhiên là có thể mời chào
sản phẩm của họ rẻ tiền hơn. Tác giả cũng có thể không bằng lòng với các bản
in lại vì những bản in lại này thường được sản xuất ít kỹ lưỡng hơn: có lỗi hay
thậm chí bài viết còn bị cố ý sửa đổi.
6
Vì thế, để chống lại tệ in lại, các nhà in đã xin các quyền lợi đặc biệt
từ phía chính quyền, cấm in lại một tác phẩm ít nhất là trong một thời gian
nhất định. Lợi ích của nhà in trùng với lợi ích của nhà cầm quyền vì những
người này muốn có ảnh hưởng đến những tác phẩm được phát hành trong
et artistique (sở hữu văn học và nghệ thuật) được đưa ra trong hai bộ
luật vào năm 1791 và 1793. Tại nước Phổ một bảo vệ tương tự cũng được đưa
ra vào năm 1837. Cũng vào năm 1837 Hội đồng liên bang của Liên minh Đức
quyết định thời hạn bảo vệ từ khi tác phẩm ra đời là 10 năm, thời hạn này
được kéo dài thành 30 năm sau khi tác giả qua đời (post mortem auctoris) vào
năm 1845. Trong Liên minh Bắc Đức việc bảo vệ quyền tác giả được đưa ra
vào năm 1857 và được Đế chế Đức thu nhập và tiếp tục mở rộng sau đó.
Trong Đệ tam Đế chế các tác giả chỉ là "người được ủy thác trong nom tác
phẩm" cho cộng đồng nhân dân.
1.1.2. Khái niệm quyền tác giả
Khi một người tạo ra một tác phẩm văn học, âm nhạc, khoa học hay
nghệ thuật, thì người đó sẽ trở thành chủ sở hữu của tác phẩm đó và tự do
quyết định việc sử dụng nó, những người này được gọi là "nhà sáng tạo", "tác
giả " hay "chủ sở hữu quyền" và họ có quyền kiểm soát số phận của tác phẩm.
Một tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả kể từ thời điểm tác phẩm được ra
đời nên không cần tiến hành thủ tục gì, như đăng ký hoặc nộp lưu chiểu, để
tác phẩm đó có điều kiện được bảo hộ. Bản thân các ý tưởng thì không được
bảo hộ mà chỉ bảo hộ cách thức mà chúng được thể hiện.
Quyền tác giả - một bộ phận quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ - có
đối tượng là một loại tài sản đặc biệt, là những sản phẩm trí tuệ có đặc tính
chung là trừu tượng và vô hình (không giống với đối tượng của quyền sở hữu
là tài sản hữu hình). Theo một cách chung nhất, Tổ chức sở hữu trí tuệ thế
giới (WIPO) định nghĩa quyền tác giả như sau: "
" [38].
8
Quyền tác giả là sự bảo hộ pháp lý dành cho chủ sở hữu các quyền đối
với một tác phẩm nguyên gốc mà người đó tạo ra. Quyền tác giả hay tác
quyền (tiếng Anh: copyright) là
tăm của tác giả. Quyền nhân thân được xem là độc lập với quyền tài sản và
nói chung vẫn được dành cho tác giả, kể cả sau khi tác giả đã chuyển giao
quyền của mình cho tổ chức, cá nhân khác
Cả hai nhóm quyền này thuộc về người sáng tạo ra tác phẩm - người
có thể thực hiện các quyền đó. Thực hiện các quyền có nghĩa là anh ta có thể
tự mình sử dụng tác phẩm hoặc cho phép người khác sử dụng tác phẩm hoặc
cấm người khác sử dụng tác phẩm của mình. Nguyên tắc chung là các tác
phẩm được bảo hộ quyền tác giả không thể được sử dụng khi không được
phép của chủ sở hữu quyền. Tuy nhiên, có một số ít ngoại lệ được thể hiện
trong luật bản quyền của các quốc gia. Theo nguyên tắc, thời hạn bảo hộ là
suốt cuộc đời tác giả và tối thiểu 50 năm sau khi tác giả qua đời.
Các khía cạnh pháp lý này được cụ thể hóa trong các công ước quốc tế
mà hiện nay hầu hết các quốc gia đều là thành viên. Khi gia nhập, các quốc
gia thành viên phải có hệ thống pháp luật quốc gia phù hợp với các tiêu chuẩn
quốc tế.
Ở cấp độ quốc tế, các quyền kinh tế và tinh thần được thừa nhận trong
Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật được thông
qua năm 1886, Công ước này đã được sửa đổi nhiều lần có tính đến tác động
của công nghệ mới đối với mức độ bảo hộ mà nó quy định. Công ước này do
Tổ chức Sở hữu Thế giới (WIPO), một trong những cơ quan quốc tế chuyên
ngành của hệ thống Liên hợp quốc, quản lý. Quyền tác giả là quyền của tổ
chức cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.
Theo quan điểm của Văn phòng Bản quyền Hoa Kỳ (United States
Copyright Office) trực thuộc Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ (Library of Congress):
"
10
".
.
2.
gia đó là thành viên.
Thứ hai, quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.
Quyền nhân thân bao gồm các quyền sau đây: (i) Đặt tên cho tác phẩm; (ii) Đứng
tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác
phẩm được công bố, sử dụng; (iii) Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác
công bố tác phẩm; và (iv) Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người
khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây
phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả. Quyền tài sản bao gồm các quyền
sau đây: (i) Làm tác phẩm phái sinh; (ii) Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;
(iii) Sao chép tác phẩm; (iv) Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác
phẩm; (v) Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô
tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác; và
(vi) Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.
Tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm có quyền yêu cầu các cơ quan hữu quan tiến
hành các biện pháp hành chính hoặc chế tài chống lại các vi phạm quyền tác giả.
Thứ ba, quyền tác giả có thể trở thành đối tượng của các giao dịch
mua bán (chuyển quyền)
Quyền tác giả là sự bảo hộ của pháp luật đối với sự sáng tạo từ trí óc
con người. Đối tượng của quyền tác giả là các sáng tác văn học, nghệ thuật và
khoa học - là những thành quả lao động trí tuệ (được thể hiện dưới hình thức
nhất định). Do đó, đối tượng của quyền tác giả có đặc tính vô hình phân biệt
với đối tượng của quyền sở hữu tài sản hữu hình.
Với sở hữu tài sản, thông thường người ta hiểu theo nghĩa truyền thống
là sở hữu tài sản vật chất, tài sản hữu hình - là những tài sản mà con người có
12
thể chiếm giữ, sờ, nắm được. Đối với sở hữu trí tuệ, đối tượng sở hữu là tài
sản tinh thần, không thể cần nắm một cách cụ thể. Sự khác biệt về đối tượng
sở hữu đó đã tạo ra sự khác biệt trong nội dung quyền sở hữu tài sản với sở
hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng.
Sự sáng tạo, ý tưởng của con người là trừu tượng và không giới hạn.
Không ai trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy hay sờ vào những ý tưởng sáng tạo về
văn học, nghệ thuật và khoa học. Người ta chỉ có thể tiếp cận, cảm nhận về
tác phẩm thông qua các từ ngữ, âm thanh, nốt nhạc, màu sắc, đường nét, hình
dáng … và cách thức tác giả lựa chọn, sắp xếp chúng.
Quyền tác giả đối với tác phẩm giới hạn trong phạm vi thể hiện cụ thể
của tác phẩm mà không bao gồm ý tưởng của tác giả thể hiện trong tác phẩm
bởi vì không một ai có thể biết được những vấn đề nằm trong suy nghĩ của
người khác. Những ý tưởng, kể cả cách sắp xếp, trình bày đã có trong suy
nghĩ của tác giả nhưng chưa được thể hiện ra bên ngoài bằng hình thức nhất
định thì không có căn cứ để công nhận và bảo hộ.
Thứ năm, quyền tác giả xác lập theo cơ chế bảo hộ tự động và được
bảo bộ một cách không tuyệt đối.
Quyền tác giả phát sinh và được bảo hộ về mặt pháp lý từ thời điểm
sáng tạo ra tác phẩm mà không phụ thuộc vào thể thức và thủ tục đăng ký
nào. Quyền tác giả được phát sinh mặc nhiên từ thời điểm tác phẩm được thể
hiện dưới hình thức xác định mà người khác có thể nhận biết được. Quy định
pháp luật quốc tế và các quốc gia trên thế giới đều xác định cơ chế bảo hộ tự
động đối với quyền tác giả. Việc đăng ký quyền tác giả không phải là căn cứ
làm phát sinh quyền tác giả mà chỉ có giá trị là chứng cứ chứng minh khi có
tranh chấp về quyền tác giả.
Quyền tác giả là quyền cơ bản của con người, được pháp luật bảo hộ
chặt chẽ theo cơ chế tự động. Tuy nhiên, sự bảo hộ đó cũng không phải hoàn
toàn tuyệt đối. Việc sử dụng các tác phẩm đã được công bố, phổ biến và tác
14
phẩm không bị cấm sao chụp mà không nhằm mục đích kinh doanh; không
làm ảnh hưởng đến việc sử dụng, khai thác bình thường của tác phẩm; không
xâm hại đến các quyền, lợi ích hợp pháp của tác giả và chủ sở hữu quyền tác
giả thì không bị coi là vi phạm quyền tác giả. Trong Luật Quyền tác giả Hoa
tác phẩm của mình tại những quốc gia là thành viên của Công ước đó.
Tuy nhiên, Công ước Berne cho phép cấp bản quyền có điều kiện,
chẳng hạn như trường hợp của Hoa Kỳ chỉ bảo hộ bản quyền đối với những
tác phẩm được sáng tác theo những hình thức nhất định. Nhiều nước cũng có
các trung tâm bản quyền quốc gia để quản lý hệ thống bản quyền. Chẳng hạn,
Hoa Kỳ, Hiến pháp cho phép Quốc hội ban hành luật để thiết lập hệ thống bản
quyền và hệ thống này do Phòng Bản quyền thuộc Thư viện Quốc hội quản
lý. Phòng Bản quyền của Hoa Kỳ là nơi nhận các khiếu nại về bản quyền và
là nơi các văn bản liên quan tới bản quyền được lưu giữ khi đáp ứng được các
yêu cầu của luật bản quyền Hoa Kỳ. Tuy nhiên, đối với tất cả các tác phẩm -
kể cả tác phẩm nước ngoài - thì việc đăng ký bản quyền mau lẹ ở Hoa Kỳ sẽ
đem lại những thuận lợi với chi phí không đáng kể.
Khả năng nhanh chóng đăng ký quyền bảo hộ bản quyền đã làm cho
các ngành công nghiệp giải trí khổng lồ của Hoa Kỳ phát triển mạnh mẽ.
Theo báo cáo năm 2004 của Stephen Siwek về các ngành công nghiệp được
bảo hộ bản quyền trong nền kinh tế Hoa Kỳ thì các ngành công nghiệp được
bảo hộ bản quyền "chủ yếu" ở Hoa Kỳ đóng góp 6% vào GDP năm 2002 của
Hoa Kỳ, hay 626,2 tỷ đô-la Mỹ. Báo cáo định nghĩa các ngành công nghiệp
được bảo hộ bản quyền "chủ yếu" là ngành báo chí, xuất bản sách, ghi âm, âm
nhạc, tạp chí thường kỳ, phim ảnh, chương trình truyền hình và phát thanh,
phần mềm máy tính. Trong báo cáo năm 2004 thì cửa hàng sách và quầy bán
báo cũng được đưa thêm vào danh sách các ngành công nghiệp "chủ yếu".
Chỉ tác giả hay những người được tác giả trao quyền - chẳng hạn như
nhà xuất bản - mới có toàn quyền khiếu nại về bản quyền. Tuy nhiên, cho dù
là ai đang sở hữu bản quyền đi chăng nữa thì quyền đó cũng có giới hạn. Ví
16
dụ, ở Hoa Kỳ người ta có thể sao chép lại một phần tác phẩm với mục đích
học tập, phê bình, đưa tin hay giảng dạy. Những quy định tương tự về "sử
dụng hợp lý" cũng có ở những quốc gia khác.
- Tái sản xuất tác phẩm dưới dạng các bản sao hoặc bản lưu giữ âm thanh;
- Sáng tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm đó;
- Phân phối bản sao hoặc bản lưu giữ âm thanh của tác phẩm tới công
chúng dưới hình thức bán hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu, hoặc cho thuê mướn;
- Trình diễn công khai tác phẩm, nếu là tác phẩm văn học, âm nhạc, sân
khấu, vũ ba-lê, kịch câm, tác phẩm điện ảnh và các tác phẩm nghe nhìn khác;
- Trưng bày công khai tác phẩm, nếu là tác phẩm văn học, âm nhạc,
sân khấu, vũ ba-lê, kịch câm và tác phẩm nhiếp ảnh, đồ họa hoặc điêu khắc, kể
cả những hình ảnh đơn lẻ của tác phẩm điện ảnh hoặc tác phẩm nghe nhìn khác;
- Đối với bản ghi âm, có quyền trình diễn tác phẩm công khai bằng
phương tiện truyền âm kỹ thuật số. Bản ghi âm được định nghĩa trong luật là
"tác phẩm có được sau khi ghi âm một loạt âm thanh bao gồm nhạc, tiếng nói
và các âm thanh khác, nhưng không bao gồm nhạc đệm cho phim hoặc tác
phẩm nghe nhìn". Những ví dụ phổ biến gồm bản ghi âm nhạc, sân khấu hoặc
các bài giảng. Bản ghi âm không giống với bản lưu giữ âm thanh. Bản lưu giữ
âm thanh là vật thể chứa đựng các tác phẩm có bản quyền. Thuật ngữ "bản
lưu giữ âm thanh" là để chỉ băng cát-xét, đĩa CD, đĩa hát nhựa (LP), đĩa loại
45 vòng/phút cũng như các loại băng đĩa khác.
Ngoài ra, một số tác giả của tác phẩm nghệ thuật thị giác còn có các
quyền về nguồn gốc và bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm được nêu tại mục 106A,
Đạo luật Bản quyền năm 1976. Để có thêm thông tin, yêu cầu xem Thông tư
số 40, .
Sẽ là phạm pháp nếu vi phạm các quyền quy định trong luật bản
quyền đối với chủ sở hữu bản quyền. Tuy nhiên, các quyền này không phải là
18
không có giới hạn. Các mục từ 107 đến 121, Đạo luật Bản quyền năm 1976 quy
định những hạn chế đối với các quyền này. Trong một số trường hợp, những
hạn chế này là việc miễn trách nhiệm pháp lý liên quan tới bản quyền. Một
hạn chế lớn khác là học thuyết "sử dụng hợp lý", được quy định tại mục 107
bảo hộ. Việc bảo hộ này nhằm giảm rủi ro trong các giao dịch thương mại về
quyền sở hữu trí tuệ, nhưng đồng thời cũng tạo nguồn thu cho nhà nước thông
qua việc cung cấp các hiệp định bảo hộ và nhân lên nhiều lần giá trị sử dụng
của các tài sản trí tuệ đã được bảo hộ đó bằng việc thương mại hoá chúng,
chính việc thương mại hóa các tài sản trí tuệ đã đem lại cho chủ thể sở hữu
cũng như những người mua quyền sử dụng tài sản trí tuệ đó những lợi ích
kinh tế. Ví như với việc mỗi năm có đến hàng trăm các phát minh, sáng chế
mới ra đời, NOKIA không chỉ thu được lợi nhuận khổng lồ từ những sản
phẩm trí tuệ mới này được cung cấp bởi chính hãng mà còn thu được nhiều tỷ
USD từ việc bán bản quyền. Theo tài liệu của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới
thì tổng thu nhập từ bản quyền về sáng chế trên toàn thế giới tăng từ 10 tỷ
USD năm 1990 lên 110 tỷ USD năm 2000; riêng hãng máy tính IBM (Mỹ)
năm 2000 đã thu được 1,7 tỷ USD.
Bảo hộ quyền tác giả là bảo hộ cho người sáng tạo, người phổ biến,
người bảo tồn tác phẩm và di sản văn hóa. Bảo hộ quyền tác giả là biện pháp
hữu hiệu khuyến khích lao động sáng tạo và phổ biến tác phẩm văn học, nghệ
thuật và khoa học, góp phần thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của đời sống văn
hóa, xã hội, đồng thời là động lực phát triển kinh tế tại mỗi quốc gia.
Quyền tác giả và quyền liên quan rất quan trọng đối với sự sáng tạo
của con người, tạo cho họ nguồn động viên, khích lệ dưới hình thức thừa nhận
và mang lại lợi ích kinh tế thỏa đáng. Thông qua hệ thống bảo hộ quyền tác
giả, các nhà sáng tạo được đảm bảo rằng các tác phẩm của họ sẽ được phổ
biến mà không có mối lo ngại bị sao chép hoặc đánh cắp bất hợp pháp. Điều
này cho phép tăng khả năng truy cập và nâng cao sự thưởng thức văn hóa, tri
thức và vui chơi, giải trí trên toàn thế giới.
20
Kinh nghiệm xưa nay cho thấy, sự giàu có của di sản văn hóa quốc gia
phụ thuộc trực tiếp vào mức độ và chất lượng bảo hộ đối với các tác phẩm
văn học, nghệ thuật. Số lượng các sáng tạo trí tuệ của quốc gia càng nhiều thì