bảo hộ quyền tác giả theo hiệp định thương mại việt – mỹ - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP
-----…o0o…-----

LUẬT VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN
KHÓA 35 (2009 – 2014)
Tên đề tài:

BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ
THEO HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT – MỸ

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

ThS. NGUYỄN PHAN KHÔI

ĐINH HOÀNG DUY
MSSV: 5095410
Lớp: Luật Tư pháp 2

CẦN THƠ, tháng 11 năm 2014


Bảo hộ quyền tác giả theo Hiệp định thương mại Việt – Mỹ

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................

...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................

...........................................

GVHD: ThS. Nguyễn Phan Khôi

.......................................

2

SVTH: Đinh Hoàng Duy



1.1.2. Đặc điểm của quyền tác giả ..........................................................................8
1.1.3. Vai trò của quyền tác giả ..............................................................................9
1.1.4. Sự cần thiết bảo hộ quyền tác giả ............................................................... 10
1.2. Sự hình thành hệ thống pháp luật bảo hộ quyền tác giả .....................................11
1.2.1. Thế giới ........................................................................................................11
1.2.2. Việt Nam .......................................................................................................12
1.3. Bối cảnh ra đời của Hiệp định thương mại Việt - Mỹ ........................................13
1.4. Nội dung cơ bản của hiệp định thương mại Việt – Mỹ ......................................15
1.4.1. Đối tượng được bảo hộ ................................................................................15
1.4.2. Các quyền được bảo hộ ................................................................................16
1.4.3. Các nguyên tắc của Hiệp định .....................................................................17
1.4.4. Những ngoại lệ của Hiệp định .....................................................................18
1.4.5. Những điều lệ giới hạn sự bảo hộ ................................................................ 19
1.4.6. Thực thi hiệp định và chế tài ........................................................................19
1.4.7. Ý nghĩa của việc bảo hộ quyền tác giả theo Hiệp định ................................ 20
CHƯƠNG II: QUY ĐỊNH BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ THEO HIỆP ĐỊNH
THƯƠNG MẠI VIỆT – MỸ ...................................................................................... 22
2.1. Chủ thể có quyền tác giả ..................................................................................... 22
2.1.1. Tác giả ..........................................................................................................22
2.1.2. Chủ sở hữu quyền tác giả .............................................................................26
GVHD: ThS. Nguyễn Phan Khôi

3

SVTH: Đinh Hoàng Duy


Bảo hộ quyền tác giả theo Hiệp định thương mại Việt – Mỹ
2.2. Nội dung quyền tác giả ....................................................................................... 28
2.2.1. Quyền nhân thân .......................................................................................... 30

4

SVTH: Đinh Hoàng Duy


Bảo hộ quyền tác giả theo Hiệp định thương mại Việt – Mỹ

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, tài sản trí tuệ đã trở thành mối quan tâm của các quốc gia trên thế giới;
và khi vai trò của loại tài sản này đối với nền kinh tế ngày càng được khẳng định, vấn
đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tất yếu được đặt ra nhằm tạo môi trường cạnh tranh công
bằng, bình đẳng, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên
quan trong xã hội. Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn
bản pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cũng như ký kết các Hiệp định thương mại
với các nước khác liên quan đến lĩnh vực này.
Là một trong những đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, quyền tác giả là một lĩnh
vực phức tạp. Pháp luật về quyền tác giả nhìn chung đã đáp ứng cơ bản yêu cầu của thực
tế, phát huy tác dụng tích cực của các mặt, tạo lập môi trường khuyến khích tự do sáng
tạo văn học, nghệ thuật và khoa học, thúc đẩy phong trào nghiên cứu, sáng tạo trên cả
nước. Tuy nhiên, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, việc xâm phạm
quyền tác giả ngày càng phức tạp,, không những gây thiệt hại cho các chủ thể quyền tác
giả mà còn tác động xấu đến toàn xã hội. Việc xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật
bảo hộ quyền tác giả, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đóng vai trò rất quan trọng. Các quy
định về bảo hộ quyền tác giả rõ ràng, đầy đủ sẽ tạo điều kiện cho việc thực thi được
thuận lợi, hạn chế xảy ra các tranh chấp về quyền tác giả.
Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, tạo tiền đề để hội nhập và
phát triển kinh tế. Tuy nhiên, cũng tạo ra những thách thức mới đòi hỏi nước ta phải có
chính sách phát triển phù hợp với những cam kết mang tính toàn cầu, trong đó có những
cam kết về lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Hiệp định thương mại Việt – Mỹ ra đời năm 2000

Mỹ” tác giả đã sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như: phương pháp tổng
hợp, phương pháp phân tích luật viết, phương pháp so sánh,… trên cơ sở thế giới quan
và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn được kết cấu thành 3 chương, bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về bảo hộ quyền tác giả theo Hiệp định thương
mại Việt – Mỹ;
Chương 2: Quy định bảo hộ quyền tác giả theo Hiệp định thương mại Việt – Mỹ;
Chương 3: Thực thi bảo hộ quyền tác giả theo Hiệp định thương mại Việt – Mỹ,
những khó khăn và giải pháp.

GVHD: ThS. Nguyễn Phan Khôi

6

SVTH: Đinh Hoàng Duy


Bảo hộ quyền tác giả theo Hiệp định thương mại Việt – Mỹ

CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ THEO
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT - MỸ
1.1.

Khái quát chung về quyền tác giả

1.1.1. Khái niệm quyền tác giả, bảo hộ quyền tác giả
Xuất phát từ những góc độ khác nhau, khái niệm quyền tác giả có thể hiểu theo

Bảo hộ quyền tác giả theo Hiệp định thương mại Việt – Mỹ
Như vậy, bảo hộ quyền tác giả được hiểu là tổng hợp các quy định của pháp luật,
quy định cách thức và phạm vi bảo hộ cũng như xác định các hành vi vi phạm quyền tác
giả, từ đó đưa ra các biện pháp nhằm ngăn chặn và xử lí các hành vi xâm phạm.
1.1.2. Đặc điểm của quyền tác giả
Thông qua khái niệm và những quy định của pháp luật về quyền tác giả, cho thấy
quyền tác giả có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, đối tượng của quyền tác giả luôn mang tính sáng tạo. Đối tượng của
quyền tác giả là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. Tác phẩm là thành quả lao
động sáng tạo của tác giả được thể hiện dưới hình thức nhất định. Mọi cá nhân đều có
quyền sáng tạo văn học, nghệ thuật, khoa học và khi cá nhân tạo ra tác phẩm trí tuệ
không phụ thuộc vào giá trị nội dung và nghệ thuật đều có quyền tác giả đối với tác
phẩm. Tác phẩm phải do tác giả trực tiếp thực hiện bằng lao động trí tuệ của mình mà
không phải sao chép từ tác phẩm của người khác;
Thứ hai, đặc tính vô hình của các đối tượng quyền tác giả. Đối tượng của sở hữu
trí tuệ là những tài sản trí tuệ - kết quả của hoạt động tư duy sáng tạo của con người mà
chúng ta không thể nắm bắt được một cách cụ thể (tài sản vô hình). Do đó, đặc tính vô
hình của các đối tượng quyền sở hữu làm cho chúng sau khi được bộ lộ công khai có thể
lan truyền vô giới hạn tới mức không thể kiểm soát được nên nội dung quyền chiếm hữu
không có ý nghĩa đối với hầu hết các sản phẩm trí tuệ;
Thứ ba, pháp luật bảo hộ hình thức thể hiện tác phẩm. Tác phẩm chính là những
ý tưởng sáng tạo của cá nhân được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định. Tác phẩm
có thể được thể hiện dưới một hoặc sự kết hợp các hình thức như từ ngữ, hình ảnh, âm
thanh,… Pháp luật quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức thể hiện của những ý tưởng sáng
tạo mà không bảo hộ những ý tưởng sáng tạo chứa đựng trong tác phẩm, được thể hiện
ra từ tác phẩm. Qua đó, nhằm cản trở những người sao chép nó, lấy và sử dụng chính
hình thức tác phẩm gốc đã được tác giả thể hiện;
Thứ tư, quyền tác giả được bảo hộ theo cơ chế bảo hộ tự động. Quyền tác giả
được xác lập dựa vào chính hành vi tạo ra tác phẩm của tác giả. Từ thời điểm tạo ra tác
phẩm, tác giả được bảo hộ về mặt pháp lí và có tác quyền của người sáng tạo mà không

để các cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa
học, bảo đảm quyền bình đẳng của cá nhân, tổ chức và loại trừ những hoạt động văn hóa
không lành mạnh làm tổn hại đến lợi ích văn hóa truyền thống của đất nước. Các quy
định pháp luật về việc bảo hộ quyền tác giả đã tạo ra những cơ hội cho mỗi cá nhân phát
huy được sự sáng tạo, năng khiếu của mình để cống hiến cho dân tộc, cho nhân loại
những tác phẩm đậm nét nhân văn phục vụ mục tiêu bình đẳng, bác ái và sự hợp tác vì

GVHD: ThS. Nguyễn Phan Khôi

9

SVTH: Đinh Hoàng Duy


Bảo hộ quyền tác giả theo Hiệp định thương mại Việt – Mỹ
sự phát triển chung của nhân loại trong thời kỳ khoa học – công nghệ trên thế giới phát
triển không ngừng.1
1.1.4. Sự cần thiết bảo hộ quyền tác giả
Ngày nay, vấn đề bảo vệ quyền tác giả ngày càng được xã hội quan tâm và tôn
trọng. Hành vi xâm phạm bản quyền ảnh hưởng trực tiếp đến người sáng tạo ra tác phẩm,
là một hành vi nguy hiểm. Việc bảo hộ quyền tác giả giúp người sáng tạo ra sản phẩm
sở hữu trí tuệ yên tâm sáng tạo ra các tác phẩm, các chương trình máy tính… mà không
bận tâm đến tác phẩm của mình có bị sao chép trái phép hay không. Đó là một động lực
rất lớn cho các tác giả trong thời đại hiện nay.
Tôn trọng và bảo vệ lợi ích của tác giả là quan niệm và hành xử có văn hóa trong
xã hội văn minh. Lấy tài sản của người khác để kinh doanh một cách bất minh là hành
vi trục lợi, phạm pháp, và trực tiếp liên quan tới đạo đức kinh doanh. Vì thế, việc bảo
hộ quyền tác giả từ các tổ chức chính phủ, doanh nghiệp tư nhân và các cá nhân trong
xã hội là cần thiết trong việc bảo hộ sản phẩm sở hữu trí tuệ. Góp phần khuyến khích sự
sáng tạo để xã hội ngày càng phát triển.

1.2.1. Thế giới
Thuật ngữ “sở hữu trí tuệ” (tiếng Anh – Intellectual property) xuất hiện từ thế kỷ
thứ XV tại những nước có các ngành công nghiệp sáng tạo nhằm mục đích quản lý việc
sao chép các sáng chế, các biểu tượng định dạng và các hình thức sáng tạo khác. Quyền
sở hữu trí tuệ được hiểu là quyền sở hữu kết quả sáng tạo của cá nhân trên cơ sở pháp
luật, trong đó quyền của chủ thể sáng tạo được độc quyền trong thời hạn nhất định khi
chiếm hữu, sử dụng, định đoạt sản phẩm trí tuệ do mình tạo ra.
Trong lịch sử pháp luật về bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ
chức, vấn đề quyền tác giả được thừa nhận muộn. Vào thời cổ, các quy định luật pháp
chỉ dành cho những vật mang tác phẩm trí tuệ, đặc biệt là về sở hữu. Ví dụ: không được
phép trộm cắp một quyển sách nhưng lại được phép chép lại từ quyển sách đó. Hình
thức khởi thủy của sự bảo hộ bản quyền xuất hiện ở Anh, vào khoảng đầu thế kỷ XVI,
với việc cấp giấy phép cho các chủ xưởng in với mục tiêu bảo hộ độc quyền in sách cho
các chủ xưởng in, làm tăng thêm một khoản tiền đáng kể cho ngân quỹ của nhà cầm
quyền, tạo ra sự dễ dàng, thuận tiện cho chính quyền trong việc kiểm soát các ấn phẩm
có tính chất dấy loạn hoặc phản tôn giáo. Nước Anh là quốc gia đi tiên phong trong việc
đưa ra quy định pháp luật về quyền tác giả với đạo luật “Statue of Anne” có hiệu lực từ
tháng 10/1710. Đây là luật bản quyền đầu tiên trên thế giới, đưa ra hai quyền cơ bản: tác
giả có độc quyền những tác phẩm của mình và độc quyền đó được bảo vệ trong một
khoảng thời gian nhất định. Nữ hoàng Anne quy định dành 14 năm độc quyền cho việc
in một cuốn sách và độc quyền này có thể được gia hạn thêm 14 năm nữa, nếu tác giả
của cuốn sách vẫn còn sống khi thời hạn bảo hộ đầu tiên đã hết.
Sau Anh, các quốc gia trên thế giới lần lượt ban hành các đạo luật về quyền tác
giả: Đan Mạch (1741), Pháp (1791), Mỹ (1795), Đức (1845)… Cùng với việc các tác

GVHD: ThS. Nguyễn Phan Khôi

11

SVTH: Đinh Hoàng Duy


Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thực hiện quyền sở hữu trí tuệ và quyền tác giả trong hoạt động thông tin – thư
viện, [truy cập ngày 22/10/2014].
3
Khoa luật – Đại học Huế, Giáo trình pháp luật sở hữu trí tuệ, Nxb chính trị quốc gia, Tr 28 – 29.
2

GVHD: ThS. Nguyễn Phan Khôi

12

SVTH: Đinh Hoàng Duy


Bảo hộ quyền tác giả theo Hiệp định thương mại Việt – Mỹ
Ở Việt Nam, bắt đầu từ Hiến pháp năm 1980, quyền tác giả mới được công nhận
là một trong những quyền cơ bản của công dân. Vào năm 1986, Nghị định số 142/HĐBT
ban hành ngày 14/11/1986 của Hội đồng Bộ trưởng có quy định 8 điều liên quan đến
bảo hộ quyền tác giả như quy định về tác giả, về các loại tác phẩm được bảo hộ, các
quyền lợi tinh thần và vật chất của tác giả, thời hạn bảo hộ quyền tác giả… Tuy nhiên,
mãi đến Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Dân sự năm 1995, vấn đề bảo hộ quyền tác giả
được chính thức ghi nhận. Sau đó quyền tác giả được hoàn thiện dần với các nội dung
ngày càng đầy đủ, cụ thể hơn trong các văn bản như Quy định việc xử phạt các hành vi
vi phạm về quyền tác giả (Điều 131, Bộ luật Hình sự năm 1999 – sửa đổi, bổ sung năm
2009); Quy định về quyền tác giả tại Điều 4, Điều 5, Điều 8 và Điều 23 của Luật Di sản
văn hóa số 28/2001-QH10; Điều 736, Điều 743, Bộ luật Dân sự 2005 (sửa đổi năm
2009); Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi năm 2009); Quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ và quyền tác giả (Nghị
định số 100/2006/NĐ-CP); Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ

Thương mại Việt – Mỹ gồm bốn chương: Thương mại, sở hữu trí tuệ, Đầu tư và Dịch
vụ theo quan điểm mở cửa tự do hoàn toàn. Bản dự thảo này áp dụng các quy định của
Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) dành cho các nước đã phát triển. Nước ta không
nhất trí và nêu rõ trong quan điểm của mình “Việt Nam chỉ ký Hiệp định Thương mại
với Mỹ trên cơ sở các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) áp dụng đối
với nước đang phát triển ở trình độ thấp”. Với quan điểm đó chúng ta xây dụng bản dự
thảo của mình.
Vòng 4: từ 06/10/1997 đến 11/10/1997 tại Wasington. Tại vòng đàm phán này,
phía Việt Nam đưa ra bản dự thảo với cam kết sẽ mở cửa thị trường, theo đó thời hạn
bảo hộ dài nhất cho một số chủng loại hàng hóa và dịch vụ là năm 2020.
Vòng 5: từ 16/5/1998 đến 22/5/1998 tại Washington. Trước vòng đàm phán này,
các nhà đàm phán Việt Nam đã thiết kế lại bản dự thảo Hiệp định mới theo nguyên tắc
Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) áp dụng cho các nước có trình độ phát triển thấp.
Vòng 6: từ 15/9/1998 đến 22/9/1998 tại Hà Nội.
Vòng 7: từ 15/3/1999 đến 19/3/1999 tại Hà Nội. Tại hai vòng đàm phán 6 và 7,
các Bên tiếp tục trao đổi về các vấn đề quan trọng chưa đi đến nhất trí trong các vòng
đàm phán trước, như: phát triển quan hệ đầu tư, thương mại dịch vụ, thương mại hàng
hóa và sở hữu trí tuệ.
Vòng 8: từ ngày 14/6/1999 đến 18/6/1999 tại Washington.
Vòng 9: từ ngày 23/7/1999 đến 25/7/1999 tại Hà Nội, trong cuộc họp cấp Bộ
trưởng, hai nước đã thông báo thỏa thuận trên nguyên tắc những nội dung mà Hiệp định
thương mại đã đạt được.
Vòng 10: từ 28/8/1999 đến 2/9/1999 tại Washington.

GVHD: ThS. Nguyễn Phan Khôi

14

SVTH: Đinh Hoàng Duy



ĐồÁn.edu.vn, Tìm hiểu Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, [truy cập ngày 23/10/2014].
4

GVHD: ThS. Nguyễn Phan Khôi

15

SVTH: Đinh Hoàng Duy


Bảo hộ quyền tác giả theo Hiệp định thương mại Việt – Mỹ
Như vậy, quyền tác giả trong Hiệp định thương mại Việt Mỹ chỉ bảo hộ tác phẩm
nguyên gốc. Mọi hành vi sao chép lại tác phẩm đều không được bảo hộ quyền tác giả.
Tuy nhiên, nếu việc sưu tập dữ liệu, tài liệu có sự sáng tạo, lựa chọn và sắp xếp nội dung
vẫn được bảo hộ như tác phẩm (không làm phương hại đến quyền tác giả đang tồn tại
đối với dữ liệu, tư liệu sao chép).
1.4.2. Các quyền được bảo hộ
Theo quy định tại khoản 2, Điều 4, Chương II của Hiệp định thương mại Việt –
Mỹ thì mỗi bên dành cho tác giả và những người thừa kế quyền lợi của họ những quyền
được liệt kê tại Công ước Berne đối với các tác phẩm thuộc khoản 1 và dành cho họ
quyền cho phép hoặc cấm:
“A. nhập khẩu vào lãnh thổ của Bên đó bản sao của tác phẩm;
B. phân phối công khai lần đầu bản gốc và mỗi bản sao tác phẩm dưới hình thức
bán, cho thuê hoặc các hình thức khác;
C. truyền đạt tác phẩm tới công chúng; và
D. cho thuê bản gốc hoặc bản sao chương trình máy tính nhằm đạt lợi ích thương
mại.
Không áp dụng mục D trong trường hợp bản sao chương trình máy tính không
phải là đối tượng chủ yếu để cho thuê. Mỗi Bên quy định rằng việc đa bản gốc hoặc bản

Tại Điều 1, Chương II của hiệp định thương mại Việt – Mỹ, quy định chung về
mục tiêu, nguyên tắc và phạm vi của các nghĩa vụ. Theo đó:
“1. Mỗi Bên dành cho công dân của Bên kia sự bảo hộ và thực thi đầy đủ và có
hiệu quả đối với quyền sở hữu trí tuệ trong lãnh thổ của mình.
2. Các Bên thừa nhận các mục tiêu về chính sách xã hội cơ bản của các hệ thống
quốc gia về bảo hộ sở hữu trí tuệ, kể cả mục tiêu phát triển và mục tiêu công nghệ và
bảo đảm rằng các biện pháp bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ không cản trở hoạt
động thương mại chính đáng
3. Để bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ một cách đầy đủ và có hiệu quả,
mỗi Bên tối thiểu phải thực hiện Chương này và các quy định có nội dung kinh tế của:
A. Công ước Geneva về bảo hộ người sản xuất bản ghi âm chống sự sao chép trái phép,
năm 1971 (Công ước Geneva);
B. Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật, năm 1971 (Công
ước Berne);
C. Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp, năm 1967 (Công ước Paris);
D. Công ước Quốc tế về bảo hộ giống thực vật mới, năm 1978 (Công ước UPOV
(1978)), hoặc Công ước quốc tế về bảo hộ giống thực vật mới, năm 1991 (Công ước
UPOV (1991)); và
E. Công ước về phân phối tín hiệu mang chương trình truyền qua vệ tinh (1974).

GVHD: ThS. Nguyễn Phan Khôi

17

SVTH: Đinh Hoàng Duy


Bảo hộ quyền tác giả theo Hiệp định thương mại Việt – Mỹ
Nếu một Bên chưa tham gia bất kỳ Công ước nào nêu trên vào ngày hoặc trước
ngày Hiệp định này có hiệu lực thì Bên đó phải nhanh chóng cố gắng tham gia Công

18

SVTH: Đinh Hoàng Duy


Bảo hộ quyền tác giả theo Hiệp định thương mại Việt – Mỹ
Mặt khác, tại khoản 9 Điều 4 chương II của Hiệp định cũng nêu rõ: “Mỗi bên
giới hạn các hạn chế hoặc ngoại lệ đối với các quyền được quy định tại điều này trong
một số trường hợp đặc biệt nhất định mà không mâu thuẫn với việc khai thác bình
thường tác phẩm và không gây phương hại một cách hợp lý tới các lợi ích chính đáng
của người có quyền”. Theo quy định về việc bảo hộ quyền tác giả tại Công ước Berne
thì ngoại lệ được quy định trong việc bảo hộ quyền tác giả ở khoản 2 Điều 9 là: “Luật
pháp Quốc gia thành viên Liên hiệp, trong vài trường hợp đặc biệt, có quyền cho phép
sao in những tác phẩm nói trên, miễn là sự sao in đó không phương hại đến việc khai
thác bình thường tác phẩm hoặc không gây thiệt thòi bất hợp lý đến những quyền lợi
hợp pháp của tác giả.”
1.4.5. Những điều lệ giới hạn sự bảo hộ
Khoản 5 Điều 4 trong chương II của Hiệp định nêu ra điều lệ giới hạn sự bảo hộ
như: “Không bên nào được cấp phép dịch hoặc sao chép theo quy định tại Phụ lục của
Công ước Berne khi nhu cầu hợp pháp về bản dịch hoặc bản sao tác phẩm trong lãnh
thổ của Bên đó có thể được người có quyền đáp ứng một cách tự nguyện nếu không gặp
những trở ngại do bên đó tạo ra”.
Tại Điều 16 Chương II Hiệp định thương mại Việt – Mỹ quy định: nghĩa vụ bảo
hộ quyền tác giả đối với những tác phẩm đang tồn tại chỉ được xác định theo Điều 18
Công ước Berne (1971) và nghĩa vụ bảo hộ quyền của những người ghi âm và người
biểu diễn đối với những bản ghi âm đang tồn tại chỉ được xác định theo Điều 18 Công
ước Berne (1971), được áp dụng với những sửa đổi cần thiết.
1.4.6. Thực thi hiệp định và chế tài
Trong chương II của Hiệp định thương mại Việt – Mỹ đã quy định về việc thực
thi quyền sở hữu trí tuệ tại Điều 11:

không Bên nào phải quy định việc xem xét lại theo thủ tục tư pháp đối với quyết định vô
tội trong vụ án hình sự.”
Về chế tài phạt vi phạm, có thể áp dụng các biện pháp tạm thời đối với hành vi
vi phạm quyền tác giả theo điều 13 (chương II của Hiệp định). Bên cạnh đó, tùy vào
từng trường hợp vi phạm về việc bảo hộ quyền tác giả ta có thể áp dụng chế tài xử phạt
theo biện pháp dân sự, biện pháp hành chính, biện pháp hình sự, biện pháp kiểm soát
xuất nhập khẩu.
1.4.7. Ý nghĩa của việc bảo hộ quyền tác giả theo Hiệp định
Để tạo điều kiện cho công dân phát huy được tài năng trong việc sáng tạo những
tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học có giá trị, Hiệp định thương mại Việt Mỹ và các
văn bản pháp luật có liên quan đều có những quy định nhằm giải phóng mọi năng lực
sáng tạo trí tuệ của mỗi cá nhân. Các quyền nhân thân và các quyền tài sản của tác giả,

GVHD: ThS. Nguyễn Phan Khôi

20

SVTH: Đinh Hoàng Duy


Bảo hộ quyền tác giả theo Hiệp định thương mại Việt – Mỹ
của chủ thể quyền liên quan và của chủ sở hữu quyền tác giả được pháp luật bảo đảm
thực hiện.
Hiệp định thương mại Việt Mỹ quy định về quyền tác giả là cơ sở pháp lí bảo vệ
quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Tạo điều kiện
cho tác giả có ý thức và trách nhiệm sáng tạo ra các tác phẩm văn học, nghệ thuật, công
trình khoa học có chất lượng về nội dung và nghệ thuật cao phục vụ cho sự nghiệp giáo
dục và phát triển khoa học, công nghệ của đất nước.
Trên đây là những khái quát chung về bảo hộ quyền tác giả theo Hiệp định thương
mại Việt – Mỹ. Có thể nói, việc ký kết hiệp định giữa Việt Nam – Hoa kỳ đã tạo điều

2. Người sáng tạo ra tác phẩm phái sinh từ tác phẩm của người khác, bao gồm
tác phẩm được dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên,
chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn là tác giả của tác phẩm phái sinh đó”.
Điều 8, Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 của Chính phủ quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự về quyền tác giả và quyền
liên quan thì, tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn
học, nghệ thuật và khoa học bao gồm: cá nhân Việt Nam có tác phẩm được bảo hộ quyền
tác giả; cá nhân nước ngoài có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật
chất nhất định tại Việt Nam; cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên
tại Việt Nam; cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước
quốc tế. Nhìn chung, một chủ thể nếu như muốn được công nhận là tác giả cần phải đáp
ứng được những điều kiện sau đây:
Thứ nhất, phải là người trực tiếp thực hiện các hoạt động sáng tạo để tạo ra tác
phẩm. Hoạt động sáng tạo của tác giả là sự lao động trí tuệ để tạo ra các tác phẩm một
GVHD: ThS. Nguyễn Phan Khôi

22

SVTH: Đinh Hoàng Duy


Bảo hộ quyền tác giả theo Hiệp định thương mại Việt – Mỹ
cách sáng tạo hay nói cách khác thì các tác phẩm phải là kết quả của hoạt động lao động
sáng tạo được thể hiện trên hình thái vật chất hoặc được thể hiện thông qua những hình
thức nhất định, có tính độc lập tương đối, mang tính mới về nội dung, ý tưởng hoặc
mang tính với về sự thể hiện tác phẩm. Tất cả các hoạt động chỉ nhằm hỗ trợ như cung
cấp kinh phí, vật chất, phương tiên, tư liệu, góp ý kiến đều không được coi là hoạt động
sáng tạo. Do đó, những tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động này không được coi là
tác giả.
Thứ hai, người tạo ra tác phẩm phải ghi tên thật hoặc bút danh của mình trên tác

Từ những phân tích trên có thể định nghĩa về tác giả như sau: “Tác giả là người
trực tiếp lao động sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học để tạo ra toàn
bộ hoặc một phần tác phẩm thuộc một trong các lĩnh vực đó”.
Tại khoản 7, Điều 2, Chương II của Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, quy định
về “Người có quyền” cũng được nêu rõ. Cụ thể, "người có quyền" được nhắc đến có bao
gồm bản thân người có quyền theo quy định của pháp luật quốc gia. Ở đây, có thể hiểu
“bản thân người có quyền” được đề cập đến trong Hiệp định là “tác giả”. Bởi bản chất
quyền tác giả khi đang được bảo hộ, không thể tách rời hai chủ thể xác định là bản thân
tác giả và sáng tạo của họ (gọi chung là tác phẩm).
Tuy nhiên, do bản chất đặc thù về khía cạnh quốc tế, và đối tượng “tác giả” có
thể là công dân của một trong hai quốc gia đã tham gia ký kết Hiệp định là Việt Nam và
Mỹ, nên trong hiệp định cũng nêu lên một số nguyên tắc nhằm giúp xác định rõ và đồng
thời giới hạn phạm vi áp dụng và ràng buộc của Hiệp định. Để làm rõ vấn đề này, có thể
điểm qua các mục tiêu, nguyên tắc và phạm vi của các nghĩa vụ được ghi nhận tại Điều
1, Chương II của Hiệp định thương mại Việt – Mỹ.
Thứ nhất, mỗi Bên dành cho công dân của Bên kia sự bảo hộ và thực thi đầy đủ
và có hiệu quả đối với quyền sở hữu trí tuệ trong lãnh thổ của mình. 5 Nguyên tắc này
được đề ra, theo nghĩa hẹp, có thể thấy được giới hạn của sự ràng buộc của Hiệp định
đối với hai quốc gia ký kết, đồng thời cũng là cam kết của hai bên về trách nhiệm của
mình trong việc thực thi Hiệp định. Việc bảo hộ và thực thi phải đầy đủ và đồng thời,
phải có hiệu quả, để đảm bảo việc quyền sở hữu trí tuệ của công dân thuộc một trong
hai nước – được đảm bảo bảo hộ trong phạm vi khả năng có thể của nước sở tại, từ đó
làm tiền đề cho việc giao lưu các sản phẩm trí tuệ và nâng cao mức độ an toàn vê bảo
hộ quyền sở hữu trí tuệ giữa hai nước.
Thứ hai, các Bên thừa nhận các mục tiêu về chính sách xã hội cơ bản của các hệ
thống quốc gia về bảo hộ sở hữu trí tuệ, kể cả mục tiêu phát triển và mục tiêu công nghệ
và bảo đảm rằng các biện pháp bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ không cản trở
hoạt động thương mại chính đáng.6 Mục tiêu này không tách rời khỏi việc bảo hộ đối
với các “chủ thể có quyền” đã được nhắc đến. Do sự khác biệt giữa hai quốc gia tham


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status