Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ và các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả của Việt Nam - Pdf 58

Cam kết dịch vụ tài chính trong Hiệp định Thơng mại Việt - Mỹ và các giải pháp nhằm thực hiện
có hiệu quả của Việt Nam
Lời mở đầu
Một nhà sử học ngời Anh đã từng nói Lịch sử là một chuỗi những thách thức và
đáp lại thách thức. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, một trong
những thách thức lớn mà Việt Nam phải đối mặt, chấp nhận và giải quyết một cách
tốt nhất để tồn tại đó là mở cửa ngành dịch vụ tài chính, một ngành cơ sở hạ tầng
thiết yếu của nền kinh tế quốc dân.
Trong những năm gần đây, mặc dù bối cảnh tài chính- kinh tế thế giới nói chung
và khu vực châu á nói riêng có nhiều biến động không thuận lợi, ngành dịch vụ tài
chính nớc ta vẫn có những bớc phát triển khá mạnh mẽ, khai thác và luân chuyển có
hiệu quả hơn các nguồn lực tài chính phục vụ phát triển nền kinh tế - xã hội. Và nh là
một bớc phát triển tất yếu, chúng ta đã chủ động tham gia hội nhập và mở cửa thị tr-
ờng trờng dịch vụ tài chính quốc gia, trớc tiên là thực hiện các cam kết về dịch vụ tài
chính trong Hiệp định Thơng mại Việt Mỹ.
Hiệp định Thơng mại Việt Mỹ mở ra nhiều cơ hội mới cho ngành dịch vụ tài
chính Việt Nam, nhng đồng thời cũng đặt ngành dịch vụ tài chính Việt Nam trớc
những thách thức mới, và bản thân việc có thể thực hiện hiệu quả các cam kết về dịch
vụ tài chính trong Hiệp định hay không cũng là một thách thức đối với Việt Nam.
Xuất phát từ mong muốn tìm kiếm các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả các
cam kết của Việt Nam về dịch vụ tài chính trong Hiệp định Thơng mại Việt Mỹ
trên cơ sở lý giải, phân tích những thuận lợi và khó khăn cũng nh nguyên nhân phát
sinh các khó khăn đó, em đã lựa chọn đề tài Cam kết về dịch vụ tài chính trong
Hiệp định Thơng mại Việt Mỹ và các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả của
Việt Nam cho bài luận văn tốt nghiệp của mình. Do dịch vụ tài chính là một lĩnh
vực hết sức rộng nên trọng tâm phân tích và giải pháp đa ra trong đề tài sẽ là hai loại
hình dịch vụ tài chính chủ yếu và quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay
đó là dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ ngân hàng.
Trang 1
Cam kết dịch vụ tài chính trong Hiệp định Thơng mại Việt - Mỹ và các giải pháp nhằm thực hiện
có hiệu quả của Việt Nam

(i) chính phủ, ngân hàng trung ơng hoặc một tổ chức tài chính của một Thành
viên, hoặc một thực thể do một Thành viên sở hữu hoặc kiểm soát, chủ yếu
tiến hành chức năng chính phủ hoặc các hoạt động vì mục đích của chính
phủ, không bao gồm pháp nhân chủ yếu cung cấp những dịch vụ tài chính
trên cơ sở những điều kiện thơng mại; hoặc
(ii) một pháp nhân t nhân, thực hiện các chức năng mà thông thờng vẫn do một
Ngân hàng trung ơng hoặc tổ chức tiền tệ, khi thực hiện các chức năng này.
b) Các loại hình dịch vụ tài chính
Trang 3
Cam kết dịch vụ tài chính trong Hiệp định Thơng mại Việt - Mỹ và các giải pháp nhằm thực hiện
có hiệu quả của Việt Nam
Trong vòng đàm phán Uruguay (có hiệu lực từ 1-1-1995), các bên tham gia đã
nhất trí coi các hoạt động sau là dịch vụ tài chính trong GATS (Phụ lục GATS về
Dịch vụ tài chính):
Bảo hiểm và các dịch vụ liên quan tới bảo hiểm:
(i) Bảo hiểm trực tiếp (kể cả đồng bảo hiểm) :
(A) nhân thọ
(B) phi nhân thọ
(ii) Tái bảo hiểm và tái nhợng bảo hiểm ;
(iii) Bảo hiểm cho trung gian, nh là môi giới và đại lý ;
(iv) Dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, nh là t vấn, dịch vụ đánh giá xác xuất và rủi ro và
dịch vụ giải quyết khiếu nại.
Ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm):
(v) Chấp nhận tiền gửi hoặc đặt cọc và các khoản quỹ có thể thanh toán khác của
công chúng ;
(vi) Mọi loại hình cho vay, kể cả tín dụng ngời tiêu dùng, tín dụng cầm đồ, cầm
cố, dịch vụ về hóa đơn và tài trợ các giao dịch thơng mại ;
(vii) Thuê mua tài chính ;
(viii) Mọi dịch vụ thanh toán và chuyển tiền, kể cả thẻ tín dụng, thẻ thanh toán và t-
ơng tự, séc du lịch và hối phiếu ngân hàng ;

Kể từ khi GATS ra đời tới nay, hầu hết các cam kết song phơng và đa phơng của
các quốc gia trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đều sử dụng khái niệm và cách phân
loại nh trên.
Trang 5
Cam kết dịch vụ tài chính trong Hiệp định Thơng mại Việt - Mỹ và các giải pháp nhằm thực hiện
có hiệu quả của Việt Nam
1.2. Tầm quan trọng của dịch vụ tài chính trong nền kinh tế quốc dân
Nhìn từ góc độ kinh tế, hoạt động thơng mại dịch vụ tài chính cũng giống nh các
hoạt động trao đổi mua bán các hàng hóa và dịch vụ khác, có thể có những tác động
tích cực đến thu nhập và sự tăng trởng của tất cả các đối tác tham gia. Tuy nhiên,
điểm khác biệt là ở chỗ thơng mại dịch vụ tài chính là một ngành hạ tầng cơ sở cho
nền kinh tế đồng thời là một công cụ thực hiện chính sách xã hội của nhà nớc. Không
thể có nền kinh tế phát triển cao và ổn định lại thiếu các dịch vụ tài chính chất lợng
cao.
Trong cuốn Tài chính cho tăng trởng do Ngân hàng thế giới (World Bank) biên
soạn, hệ thống dịch vụ tài chính thờng thực hiện bốn chức năng kinh tế cơ bản sau:
Huy động tiền tiết kiệm
Phân bổ vốn đầu t, nhất là để tài trợ cho những dự án đầu t hiệu quả
Giám sát hoạt động quản lý, sao cho kinh phí đã phân bổ đợc chi tiêu đúng
kế hoạch
Chuyển dịch và phân bổ rủi ro thông qua sự tích tụ và cho phép những ngời
sẵn sàng chấp nhận rủi ro hơn đợc gánh chịu.
Với bốn chức năng kinh tế cơ bản nh trên, ngành dịch vụ tài chính đóng một vai
trò hết sức quan trọng đối với các hoạt động trong nền kinh tế.
Trớc hết, hiệu quả của ngành dịch vụ tài chính góp phần không nhỏ trong việc xác
lập vị thế cạnh tranh về giá cả của các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ trong nền kinh
tế. Theo ớc tính, tỷ lệ giá trị dịch vụ tài chính trong các giá thành các sản phẩm thuộc
ngành sản xuất chiếm khoảng 3 - 7%. Nh vậy nếu nh ngành dịch vụ tài chính có hiệu
quả thì các chi phí mà một công ty sản xuất phải bỏ ra cho các dịch vụ tài chính sẽ
giảm đi tơng đối (tơng đối theo nghĩa tỷ lệ ích lợi thu so với chi phí bỏ ra sẽ tăng

có hiệu quả của Việt Nam
Bảng 1: Tỷ trọng lực lợng lao động làm việc trong lĩnh vực dịch vụ tài chính
(Đơn vị: % trên tổng lao động)
Quốc gia 1970 1980 1985 1990 1995 2000
Canada 2.4 2.7 2.9 3.0 3.2 3.5
Pháp 1.8 2.6 2.9 2.8 2.7 3.1
Đức 2.2 2.8 3.0 3.1 3.2 3.4
Nhật Bản 2.4 3.0 3.2 3.3 3.1 3.4
Singapore 2.7 5.0 5.8
Thụy Sĩ 4.6 4.8 4.7 5.1
Anh 3.0 3.5 4.6 4.3 4.9
Mỹ 3.8 4.4 4.7 4.8 4.7 5.2
Nguồn: WTO (2001a); OECD (2001a)
Tỷ lệ lợng giá trị gia tăng do khu vực dịch vụ tài chính trên tổng GDP tại các quốc
gia đợc thể hiện trên Bảng 2 dới đây cũng tăng lên đáng kể trong giai đoạn
1970-2000. Trong năm 1970, tỷ lệ lợng giá trị gia tăng của khu vực dịch vụ tài chính
trên GDP của các quốc gia phát triển nêu trong Bảng 2 vào khoảng từ 2-4%, nhng
đến năm 2000 thì tỷ lệ này vào khoảng từ 3 - 15%. Tại các quốc gia đang phát triển,
cho đến năm 2000, lợng giá trị gia tăng của khu vực dịch vụ tài chính cũng chiếm từ
3 10% GDP của từng quốc gia. Trong các quốc gia trong Bảng 2, Hồng Kông và
Singapore là hai quốc gia mà ở đó dịch vụ tài chính có vai trò quan trọng nhất. Nh
vậy, cũng có thể đa ra nhận định rằng một quốc gia có nền kinh tế phát triển hiện đại
sẽ có ngành dịch vụ tài chính đóng góp nhiều giá trị gia tăng cho GDP của quốc gia
đó.
Bảng 2: Giá trị gia tăng tạo ra từ khu vực dịch vụ tài chính
(Đơn vị: % trên GDP)
Quốc gia 1970 1980 1985 1990 1995 2000
Trang 8
Cam kết dịch vụ tài chính trong Hiệp định Thơng mại Việt - Mỹ và các giải pháp nhằm thực hiện
có hiệu quả của Việt Nam

có hiệu quả của Việt Nam
tài sản của khu vực ngân hàng vào khoảng từ 100 cho đến 1000 tỷ đôla Mỹ. Nh vậy
có thể thấy rằng xu hớng chung là quy mô tài sản của khu vực ngân hàng tỷ lệ thuận
với mức độ phát triển của nền kinh tế.
Biểu đồ 2 dới đây cho thấy quy mô của ngành bảo hiểm tại các nền kinh tế phát
triển. Trong giai đoạn 1994 2000, tại các quốc gia OECD, tổng mức phí bảo hiểm
bình quân chiếm khoảng 10% GDP. Tại Anh, cứ 9 bảng Anh thì có 1 bảng đợc chi
tiêu vào dịch vụ bảo hiểm nhân thọ hoặc phi nhân thọ. Con số này tại các quốc gia
nh Mỹ, Ireland, Nhật Bản hay Thụy Sĩ chỉ thấp hơn đôi chút.
Trang 10
Biểu đồ 1: Tổng tài sản ngân hàng, năm 2002
(Đơn vị: tỷ đôla Mỹ)
Nguồn: IMF (2003)
Biểu đồ 2: Tỷ lệ phí bảo hiểm trên GDP, bình quân giai đoạn 1994 2000
(Đơn vị: % trên GDP)
Nguồn: OECD (2001)
Cam kết dịch vụ tài chính trong Hiệp định Thơng mại Việt - Mỹ và các giải pháp nhằm thực hiện
có hiệu quả của Việt Nam
Nh vậy có thể thấy thơng mại dịch vụ tài chính trong những năm gần đây đã đạt
đợc mức tăng trởng nhanh chóng cùng với sự chuyên sâu của các hoạt động trong
ngành tài chính quốc tế. Sự tăng trởng này là do những nhân tố sau: Thứ nhất, tiến bộ
về mặt công nghệ đã làm tăng phạm vi hoạt động của dịch vụ tài chính, với sự xuất
hiện của công nghệ xử lý và chuyển giao số liệu điện tử, công nghệ máy tính đợc
nâng cao, các máy rút tiền tự động và nghiệp vụ ngân hàng từ xa. Thêm vào đó, một
kỷ nguyên dịch vụ internet đã bắt đầu, các công nghệ này đã tạo ra một sức bật mới
cho hoạt động của ngành tài chính. Chúng tạo ra cơ hội mới để nâng cao hiệu quả và
đạt ra những thách thức mới về mặt chính sách và quy định. Những lợi ích tiềm tàng
đi cùng với các công nghệ mới này có thể đợc khai thác trong một cơ chế dịch vụ tài
chính thông thoáng. Thứ hai, sự mở cửa của các nền kinh tế đang chuyển đổi cùng
với sự phát triển của thơng mại thế giới đã mở rộng thị trờng và làm tăng nhu cầu về

Trang 12
Cam kết dịch vụ tài chính trong Hiệp định Thơng mại Việt - Mỹ và các giải pháp nhằm thực hiện
có hiệu quả của Việt Nam
+ Đối tợng cho lĩnh vực thơng mại dịch vụ;
+ Những nguyên tắc cơ bản của hoạt động thơng mại dịch vụ;
+ Các quy định về hội nhập kinh tế;
+ Các quy định về Pháp luật quốc gia;
+ Các quy định về độc quyền trong thơng mại dịch vụ;
+ Lộ trình cam kết cụ thể cho thơng mại dịch vụ (đợc quy định tại hai phụ lục F
và G).
Giống nh Hiệp định GATS, Hiệp định này định nghĩa thơng mại dịch vụ theo bốn
hình thức cung cấp (modes of supply) mà dịch vụ đợc cung cấp nh sau:
- Cung cấp dịch vụ qua biên giới (Cross-border supply) diễn ra khi một nhà cung
cấp dịch vụ ở một nớc cung cấp dịch vụ cho một khách hàng ở một nớc khác, ví
dụ nh một luật s ở thủ đô Washington D.C gửi ý kiến bằng th điện tử cho một
khách hàng ở Hà Nội.
- Tiêu thụ dịch vụ ở nớc ngoài (Consumption abroad) diễn ra khi một công dân
của một nớc đi đến một nớc khác nơi mà ở đó anh a đợc cung cấp một dịch vụ, ví
dụ nh một sinh viên Việt Nam đến học tại Hoa Kỳ.
- Hiện diện thơng mại (Commercial presence) là phơng thức cho phép các công
ty của một quốc gia thành viên thành lập một chi nhánh hoặc công ty con hay
văn phòng ở một nớc khác để cung cấp một dịch vụ ở đó, ví dụ nh một ngân hàng
Hoa Kỳ mở một chi nhánh tại Hà Nội.
- Hiện diện thể nhân (Presence of a natural person) là phơng thức cho phép công
dân của một quốc gia thành viên đợc vào lãnh thổ của một quốc gia khác để thực
hiện cung cấp dịch vụ, ví dụ nh các luật s nớc ngoài đến Hà Nội để thực hiện
cung cấp dịch vụ tài chính.
Trang 13
Cam kết dịch vụ tài chính trong Hiệp định Thơng mại Việt - Mỹ và các giải pháp nhằm thực hiện
có hiệu quả của Việt Nam

là theo phơng thức 1 hoặc 2). Ngoài ra, theo một phơng thức nào đó của một ngành
dịch vụ nào đó ta vẫn mở cửa hay vẫn thực hiện đối xử quốc gia nhng kèm theo
những điều kiện nhất định hay sau một thời gian nhất định (thờng là phơng thức 3 và
4).
Nh vậy các khái niệm và nội dung cam kết về thơng mại dịch vụ tài chính trong
Hiệp định thơng mại Việt Nam Hoa Kỳ nhìn chung cơ bản là dựa vào và gắn với
các khái niệm và nội dung về thơng mại dịch vụ tài chính mà Tổ chức Thơng mại
Thế giới WTO đa ra.
2.2. Dịch vụ tài chính trong Hiệp định Thơng mại Việt Mỹ
Trong Hiệp định, lĩnh vực dịch vụ tài chính đợc liệt kê bao gồm các lĩnh vực dịch
vụ sau:
- Các dịch vụ bảo hiểm, bao gồm:
Bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm tai nạn
Bảo hiểm phi nhân thọ
Tái và nhợng tái bảo hiểm
Các dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động bảo hiểm (bao gồm các dịch vụ môi giới và
đại lý)
- Các dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác, bao gồm:
Nhận tiền gửi và các khoản tiền từ công chúng
Cho vay dới các hình thức, bao gồm tín dụng tiêu dùng, tín dụng thế chấp,
bao tiêu và các giao dịch thơng mại khác
Thuê mua tài chính
Mọi giao dịch thanh toán và chuyển tiền, bao gồm các thẻ tín dụng, ghi nợ,
báo nợ, séc du lịch và hối phiếu ngân hàng
Trang 15
Cam kết dịch vụ tài chính trong Hiệp định Thơng mại Việt - Mỹ và các giải pháp nhằm thực hiện
có hiệu quả của Việt Nam
Bảo lãnh và cam kết
Môi giới tiền tệ
Quản lý tài sản nh quản lý tiền mặt, quản lý danh mục đầu t, mọi hình thức

cung cấp trừ những trờng hợp mà một Bên coi là ngoại lệ. Những ngoại lệ này
đợc liệt kê trong những Bảng cam kết riêng của hai Bên.
Tiếp cận thị trờng: Trong mỗi ngành dịch vụ đợc xác định trong Lộ trình,
một Bên phải bảo đảm chung cấp cho bên kia sự tiếp cận thị trờng đối với các
thị trờng mà một Bên không đợc duy trì hoặc thông qua trong các ngành đó.
Cùng với các hạn chế khác, các hạn chế này bao gồm các hạn chế về số lợng
nhà cung cấp dịch vụ, các hạn chế về hình thức pháp nhân hoặc liên doanh mà
thông qua đó một dịch vụ có thể đợc cung cấp.
Đối xử quốc gia: Hiệp định yêu cầu Việt Nam và Hoa Kỳ, phù hợp với các
cam kết tại mỗi ngành dịch vụ đợc xác định trong Lộ trình của mình, phải
dành đối xử quốc gia cho các nhà cung cấp dịch vụ của Bên kia. Điều này có
nghĩa là các Bên đồng ý đối xử với các dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của
Bên kia một cách tơng tự hoặc tốt hơn sự đối xử họ dành cho các dịch vụ cung
cấp bởi công dân của họ hoặc nhà cung cấp dịch vụ do công dân của họ điều
hành.
Pháp luật quốc gia: Mỗi Bên sẽ điều hành các luật và quy định ảnh hởng đến
thơng mại trong các ngành dịch vụ xác định tại Phụ lục một cách hợp lý,
khách quan và vô t.
Đơn xin cấp phép để cung cấp dịch vụ cụ thể phải đợc xem xét trong một
khoảng thời gian hợp lý. Những quyết định liên quan đến những đơn đó có thể
Trang 17
Cam kết dịch vụ tài chính trong Hiệp định Thơng mại Việt - Mỹ và các giải pháp nhằm thực hiện
có hiệu quả của Việt Nam
đợc xem xét lại bởi các cơ quan tài phán trong nớc. Những yêu cầu về cấp
phép hoặc tiêu chuẩn nghề nghiệp và tiêu chuẩn kỹ thuật cần đáp ứng để đợc
cung cấp một dịch vụ phải dựa trên tiêu chí khách quan, không phiền hà hơn
mức cần thiết, và bản thân những yêu cầu này không tạo ra sự hạn chế đối với
việc cung cấp dịch vụ.
Độc quyền và nhà cung cấp dịch vụ độc quyền: Mỗi Bên bảo đảm rằng các
nhà cung cấp dịch vụ độc quyền khi cạnh tranh ở những ngành kinh doanh

năm đầu tiên của thời kỳ mở cửa, công cuộc cải cách dờng nh cha chạm đến hệ thống
tài chính ngân hàng. Dấu hiệu cải cách trong hệ thống tài chính thực sự mới xuất
hiện vào năm 1984 khi hệ thống ngân hàng tách thành hai cấp: Ngân hàng Nhà nớc
(Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc) và Ngân hàng Thơng mại. Kể từ đó mới xuất
hiện dấu hiệu cạnh tranh giữa các ngân hàng và ở một mức độ thận trọng, các ngân
hàng nớc ngoài bắt đầu đợc phép thành lập và hoạt động ở Trung Quốc.
Nhìn chung cho đến trớc khi chính thức gia nhập WTO, hệ thống dịch vụ tài
chính ở Trung Quốc vẫn bị chính phủ khống chế và kiểm soát chặt chẽ. Mức độ mở
cửa cho các ngân hàng nớc ngoài hoạt động còn rất hạn chế. Gia nhập WTO, Trung
Quốc phải thực hiện hàng loạt các cam kết về dỡ bỏ thị trờng dịch vụ tài chính.
a) Dịch vụ bảo hiểm
Cho đến trớc khi chính thức gia nhập WTO, thị trờng bảo hiểm còn nhỏ bé và
thống trị bởi các công ty bảo hiểm nhà nớc. Nhà nớc quyết định tỷ lệ hoa hồng bảo
hiểm. Đa số tiền bảo hiểm thu đợc đợc gửi tại tài khoản có tính lãi. Công ty bảo
hiểm nớc ngoài muốn đợc cấp phép hoạt động đầy đủ phải chờ đợi trong khoảng thời
Trang 19
Cam kết dịch vụ tài chính trong Hiệp định Thơng mại Việt - Mỹ và các giải pháp nhằm thực hiện
có hiệu quả của Việt Nam
gian 3 năm thẩm định. Sở hữu vốn nớc ngoài trong các công ty liên doanh chỉ giới
hạn đến 49%. Việc hồi hơng vốn bị hạn chế nghiêm ngặt. Các hãng bảo hiểm nớc
ngoài bị hạn chế trong việc cạnh tranh với các công ty bảo hiểm thơng mại của Nhà
nớc.
Trong cam kết gia nhập WTO, Trung Quốc đồng ý từng bớc loại bỏ các hạn chế
về địa lý đối với các nhà cung cấp dịch vụ nớc ngoài trong tất cả các lĩnh vực bảo
hiểm trong vòng 03 kể từ khi chính thức gia nhập. Về vấn đề hiện diện thơng mại,
các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm nớc ngoài đợc phép thành lập liên doanh với số
cổ phần tối đa 50% ngay sau khi Trung Quốc chính thức gia nhập WTO. Đối với các
dịch vụ bảo hiểm tài sản ngời nớc ngoài, bảo hiểm tổn thất hay các loại bảo hiểm phi
nhân thọ khác, các nhà cung cấp dịch vụ nớc ngoài đợc phép nắm giữ tới 51% cổ
phần trong liên doanh ngay sau khi Trung Quốc gia nhập, và sau đó hai năm thì có

ơng. Những ngân hàng này giữ một phần lớn các khoản tiền gửi nằm ngoài kênh gửi
tiền chính thức nhằm mục đích đầu cơ. Các ngân hàng thơng mại thực hiện hoạt động
cho vay ngầm nhiều hơn hoạt động cho vay chính thức. Tỷ lệ đọng vốn, không có
khả năng thanh toán tại các doanh nghiệp nhà nớc lớn. Các ngân hàng nớc ngoài chỉ
đợc phép hoạt động ở một số vùng kinh tế đặc biệt. Chính phủ Trung Quốc không
cho phép các ngân hàng đầu t nớc ngoài mở chi nhánh. Ngân hàng nớc ngoài có thể
hoạt động dới dạng liên doanh hoặc 100% vốn nớc ngoài nếu đợc cơ quan có thẩm
quyền cho phép và phải gửi 30% vốn tối thiểu vào Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc.
Hoạt động giao dịch của ngân hàng nớc ngoài chủ yếu hạn chế trong khuôn khổ các
ngoại tệ mạnh (gần đây có cấp phép cho một số ít ngân hàng nớc ngoài đợc thực hiện
giao dịch bằng đồng nhân dân tệ). Ngân hàng nớc ngoài chỉ đợc thực hiện các hoạt
động dịch vụ bán buôn (wholesale banking). Trớc khi mở chi nhánh, ngân hàng nớc
ngoài phải có ít nhất 3 năm hoạt động dới dạng văn phòng đại diện vì phải có số vốn
ít nhất 100 triệu nhân dân tệ (NDT). Cho đến năm 2000 Trung Quốc có vào khoảng
540 văn phòng đại diện, 130 chi nhánh, 6 liên doanh và 5 ngân hàng 100% vốn nớc
Trang 21
Cam kết dịch vụ tài chính trong Hiệp định Thơng mại Việt - Mỹ và các giải pháp nhằm thực hiện
có hiệu quả của Việt Nam
ngoài. Tuy nhiên, chỉ có 9 ngân hàng đợc phép kinh doanh bằng đồng Nhân dân tệ và
hoạt động kinh doanh dịch vụ cũng chỉ đợc phép thực hiện tại Thợng Hải và Quảng
Châu
1
.
Khi gia nhập WTO, Trung Quốc cam kết một lịch trình 05 năm cho việc mở cửa
thị trờng ngân hàng của mình cho các nhà cung cấp nớc ngoài. Ngay sau khi gia
nhập, Trung Quốc cho phép ngân hàng nớc ngoài đợc thực hiện các hoạt động kinh
doanh bằng ngoại tệ đối với doanh nghiệp và cá nhân trên cả nớc. Trong vòng 05
năm sau khi gia nhập, tại một số khu vực địa lý hạn chế, nhà cung cấp dịch vụ nớc
ngoài có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh bằng đồng nội tệ và sau thời gian 05
năm thì tất cả các hạn chế về địa lý sẽ bị dỡ bỏ. Ngân hàng nớc ngoài cũng đợc phép

Tuy mức độ mở cửa thị trờng ngày càng trở nên thông thoáng trong thời gian gần đây
(đặc biệt kể từ khi ký kết hiệp định chung về thơng mại dịch vụ GATS nói chung và
hiệp định về dịch vụ tài chính FSA Financial Services Agreement nói riêng),
song việc mở cửa thị trờng dịch vụ tài chính ở Canada cũng không có nghĩa là tự do
hóa hoàn toàn
2
.
a) Dịch vụ bảo hiểm
Mức độ mở cửa thị trờng bảo hiểm ở Canada tỏ ra thông thoáng nhất so với các
lĩnh vực khác trong hoạt động dịch vụ tài chính. Các hãng bảo hiểm nớc ngoài chiếm
thị phần đáng kể. Chẳng hạn, theo số liệu báo cáo của WTO, tổng số phí bảo hiểm y
tế và nhân thọ của các hãng nớc ngoài chiếm tới 27%. Tỷ lệ này trong hoạt động bảo
hiểm thơng tật và bảo hiểm tài sản là 65%. Trong tổng số 132 công ty bảo hiểm nhân
thọ và y tế, 55 công ty là chi nhánh của các công ty bảo hiểm nớc ngoài. Trong tổng
số 196 công ty bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thơng tật đợc thành lập theo luật liên
bang thì 122 công ty là chi nhánh của các hãng nớc ngoài.
Mặc dù việc mở cửa thị trờng bảo hiểm đã ở mức cao song vẫn có những hạn định
ràng buộc nhất định khi cam kết tham gia hiệp định FSA. Những ràng buộc này chủ
2
WTO Agreements on Financial Services. Financial Canada, 2000.
Trang 23
Cam kết dịch vụ tài chính trong Hiệp định Thơng mại Việt - Mỹ và các giải pháp nhằm thực hiện
có hiệu quả của Việt Nam
yếu là những quy định về hình thức cung ứng dịch vụ, quyền sở hữu vốn hoặc quyền
điều hành. Chẳng hạn, Canada đòi hỏi tất cả các dịch vụ bảo hiểm phải đợc thực hiện
thông qua hình thức hiện diện thơng mại (Commercial presence). Một số bang (nh
Quebec) quy định ngời không phải là c dân Canada không đợc phép sở hữu (gián tiếp
hay trực tiếp) quá 30% cổ phiếu có quyền bầu cử nếu không có sự chấp thuận của
cấp bộ trởng (Ministerial Approval). Một số bang khác không cấp giấy phép hoạt
động đại lý bảo hiểm cho những ngời không phải là c dân thuộc bang đó, hoặc một

phép mở chi nhánh trực tiếp tại Canada... Tuy nhiên một số hạn chế cần thiết vẫn đợc
giữ nguyên. Chẳng hạn: chi nhánh của ngân hàng nớc ngoài (ngân hàng cho vay hoặc
dịch vụ) không đợc phép thực hiện các hoạt động thuộc về chức năng chuyên biệt
của các công ty tài chính đợc quy định trong luật ngân hàng. Chi nhánh của ngân
hàng nớc ngoài thực hiện chức năng dịch vụ chỉ đợc phép nhận những khoản tiền gửi
dới 150.000 đôla Canada... Một số bang còn đòi hỏi đa số thành viên của hội đồng
quản trị phải là c dân Canada hoặc quy định ngời nớc ngoài có thể không đợc hởng
quyền bầu cử khi họ nắm giữ cổ phiếu của ngân hàng Canada trong một số trờng hợp
nhất định.
Tóm lại, việc cam kết và thực hiện các cam kết về mở cửa thị trờng dịch vụ tài
chính ở Canada đã có lịch sử lâu dài và đợc coi là một trong những yếu tố quan trọng
làm cho hệ thống dịch vụ tài chính của Canada có tính cạnh tranh cao. Canada không
có trở ngại gì đáng kể trong việc thực hiện những cam kết mở cửa thị trờng dịch vụ
tài chính trong khuôn khổ FSA của WTO. Ngợc lại, việc tham gia FSA là cơ hội lớn
cho các ngành dịch vụ tài chính của Canada có điều kiện mở rộng các hoạt động đó
ra nớc ngoài. Tuy vậy vẫn có thể thấy rằng việc thực hiện các cam kết mở cửa thị tr-
ờng dịch vụ tài chính của Canada vẫn còn tơng đối thận trọng (so với vị thế của một
nớc phát triển). Những hạn chế đợc quan tâm nhất đối với việc mở cửa thị trờng là
những hạn chế về tỷ lệ sở hữu vốn, hình thức cung cấp dịch vụ, và tính chất c trú của
những ngời nắm giữ quyền quyết định đối với các tổ chức tài chính đợc phép thành
Trang 25

Trích đoạn Thực trạng thị trờng dịch vụ tài chính Việt Nam Thời báo Tài chính Việt Nam, /200. Tạp chí ngân hàng, 5/2003. Các cam kết nền chung Một số vấn đề trong việc thực hiện các cam kết về dịch vụ tài chính theo Hiệp định Thơng mại Việt Mỹ của Việt Nam–
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status