LUẬN VĂN TỐT NGHIỆPCam kết về dịch vụ tài chính trong
Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ
và các giải pháp nhằm thực hiện
có hiệu quả của Việt Nam
Cam kết dịch vụ tài chính trong Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ và các giải pháp nhằm thực hiện có
hiệu quả của Việt Nam
Trang 1
LỜI MỞ ĐẦU
Một nhà sử học người Anh đã từng nói “Lịch sử là một chuỗi những thách thức
và đáp lại thách thức”. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, một
trong những thách thức lớn mà Việt Nam phải đối mặt, chấp nhận và giải quyết
một cách tốt nhất để tồn tại đó là mở cửa ngành dịch vụ tài chính, một ngành cơ sở
hạ t
ầng thiết yếu của nền kinh tế quốc dân.
Trong những năm gần đây, mặc dù bối cảnh tài chính- kinh tế thế giới nói
chung và khu vực châu Á nói riêng có nhiều biến động không thuận lợi, ngành dịch
vụ tài chính nước ta vẫn có những bước phát triển khá mạnh mẽ, khai thác và luân
chuyển có hiệu quả hơn các nguồn lực tài chính phục vụ phát triển nền kinh tế - xã
trong Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ
Chương II – Thực trạng thị trường dị
ch vụ tài chính Việt Nam và một số
vấn đề trong việc thực hiện các kết về dịch vụ tài chính theo hiệp định thương
mại Việt – Mỹ của Việt Nam
Chương III – Định hướng và một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả
các cam kết của Việt Nam về dịch vụ tài chính trong hiệp định thương mại
Việt – Mỹ
Do những hạn chế v
ề thời gian, tài liệu và khả năng của người viết, nội dung
khóa luận khó tránh khỏi những sai sót và khiếm khuyết, em rất mong nhận được
sự chỉ dẫn tận tình của các thầy cô giáo trong trường và góp ý của đông đảo độc
giả. Em xin chân thành cảm ơn.
Cam kết dịch vụ tài chính trong Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ và các giải pháp nhằm thực hiện có
hiệu quả của Việt Nam
Trang 3
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VÀ DỊCH VỤ TÀI
CHÍNH TRONG HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT – MỸ
1. Tổng quan về dịch vụ tài chính và tầm quan trọng của nó đối với nền kinh
tế quốc dân
1.1. Khái niệm dịch vụ tài chính và các loại hình dịch vụ tài chính
a) Khái niệm
Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO) “Dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ
(A) nhân thọ
(B) phi nhân thọ
(ii) Tái bảo hiểm và tái nhượng bảo hiểm ;
(iii) Bảo hiểm cho trung gian, như là môi gi
ới và đại lý ;
(iv) Dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, như là tư vấn, dịch vụ đánh giá xác xuất và rủi ro
và dịch vụ giải quyết khiếu nại.
Ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm):
(v) Chấp nhận tiền gửi hoặc đặt cọc và các khoản quỹ có thể thanh toán khác
của công chúng ;
(vi) Mọi loại hình cho vay, kể cả tín dụng ng
ười tiêu dùng, tín dụng cầm đồ, cầm
cố, dịch vụ về hóa đơn và tài trợ các giao dịch thương mại ;
(vii) Thuê mua tài chính ;
(viii) Mọi dịch vụ thanh toán và chuyển tiền, kể cả thẻ tín dụng, thẻ thanh toán và
tương tự, séc du lịch và hối phiếu ngân hàng ;
(ix) Bảo lãnh và cam kết ;
(x) Thương vụ tiến hành tự chịu chi phí hoặc nhân danh khách hàng, dù tại sở
giao dịch và trên thị trường không chính thức, ho
ặc các giao dịch khác về :
(A) công cụ thị trường tiền tệ (kể cả séc, hoá đơn, giấy chứng nhận tiền
gửi) ;
Cam kết dịch vụ tài chính trong Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ và các giải pháp nhằm thực hiện có
hiệu quả của Việt Nam
Trang 5
(B) ngoại hối ;
Trang 6
Kể từ khi GATS ra đời tới nay, hầu hết các cam kết song phương và đa phương
của các quốc gia trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đều sử dụng khái niệm và cách
phân loại như trên.
1.2. Tầm quan trọng của dịch vụ tài chính trong nền kinh tế quốc dân
Nhìn từ góc độ kinh tế, hoạt động thương mại dịch vụ tài chính cũng giống như
các hoạt động trao đổi mua bán các hàng hóa và dịch vụ
khác, có thể có những tác
động tích cực đến thu nhập và sự tăng trưởng của tất cả các đối tác tham gia. Tuy
nhiên, điểm khác biệt là ở chỗ thương mại dịch vụ tài chính là một ngành hạ tầng
cơ sở cho nền kinh tế đồng thời là một công cụ thực hiện chính sách xã hội của nhà
nước. Không thể có nền kinh tế phát triển cao và ổn định lại thiếu các dịch vụ tài
chính ch
ất lượng cao.
Trong cuốn ″Tài chính cho tăng trưởng″ do Ngân hàng thế giới (World Bank)
biên soạn, hệ thống dịch vụ tài chính thường thực hiện bốn chức năng kinh tế cơ
bản sau:
Huy động tiền tiết kiệm
Phân bổ vốn đầu tư, nhất là để tài trợ cho những dự án đầu tư hiệu quả
Giám sát hoạt động quản lý, sao cho kinh phí đã phân bổ
được chi tiêu
đúng kế hoạch
Chuyển dịch và phân bổ rủi ro thông qua sự tích tụ và cho phép những
người sẵn sàng chấp nhận rủi ro hơn được gánh chịu.
Với bốn chức năng kinh tế cơ bản như trên, ngành dịch vụ tài chính đóng một
vai trò hết sức quan trọng đối với các hoạt động trong nền kinh tế.
Trước hết, hiệu quả của ngành dịch vụ
tài chính góp phần không nhỏ trong việc
xác lập vị thế cạnh tranh về giá cả của các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ trong nền
Trong thời đại ngày nay, dịch vụ tài chính ngày càng thể hiện là một ngành
quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Tầm quan trọng của ngành dịch vụ tài chính
được phản ánh bằng tỷ lệ tạo việc làm và tỷ lệ đóng góp vào GDP.
Từ Bảng 1 dưới đây ta có thể thấy rằng trong những giai đoạn 1970-2000, tỷ lệ
lao
động trong ngành dịch vụ tài chính trong tổng lao động tăng khoảng 25% ở
nhiều nước. Cho đến năm 2000, lao động trong ngành dịch vụ tài chính chiếm từ
Cam kết dịch vụ tài chính trong Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ và các giải pháp nhằm thực hiện có
hiệu quả của Việt Nam
Trang 8
khoảng 3% tổng lực lượng lao động tại Pháp, Canađa và Nhật Bản tới 5% như tại
Singapore, Thụy Sỹ và Hoa Kỳ. Bảng 1 cũng cho thấy một quốc gia càng phát
triển thì quy mô lực lượng lao động trong ngành dịch vụ tài chính càng lớn.
Bảng 1:
Tỷ trọng lực lượng lao động làm việc trong lĩnh vực dịch vụ tài chính
(Đơn vị: % trên tổng lao động)
Quốc gia 1970 1980 1985 1990 1995 2000
Canada 2.4 2.7 2.9 3.0 3.2 3.5
Pháp 1.8 2.6 2.9 2.8 2.7 3.1
Đức 2.2 2.8 3.0 3.1 3.2 3.4
Nhật Bản 2.4 3.0 3.2 3.3 3.1 3.4
Singapore … 2.7 … … 5.0 5.8
Thụy Sĩ … … 4.6 4.8 4.7 5.1
Anh … 3.0 3.5 4.6 4.3 4.9
Mỹ 3.8 4.4 4.7 4.8 4.7 5.2
Đức 3.2 4.5 5.5 4.8 5.8 6.2
Nhật Bản 4.3 4.5 5.5 4.8 5.8 6.0
Thụy Sĩ … … 10.4 10.3 13.3 15.2
Singapore … 5.0 … … 12.0 14.0
Hồng Kông … 6.9 6.1 6.6 9.4 10.0
Mỹ 4.0 4.8 5.5 6.1 7.3 8.1
Các quốc gia đang phát triển:
Columbia … … … 2.9 2.9 3.1
Ghana 5.5 … 8.7 9.2 … 9.3
Mauritus … … … 4.4 5.2 5.5
Sri Lanka … … … 4.6 6.8 6.9
Thái Lan … … … 4.0 7.8 8.2
Nguồn: WTO (2001a); OECD (20001a)
Tầm quan trọng của ngành dịch vụ tài chính đối với nền kinh tế quốc dân cũng
có thể được phản ánh thông qua hai chỉ số khác: tổng tài sản ngân hàng và tỷ lệ
tổng phí bảo hiểm trên GDP.
Biểu đồ 1 dưới đây cho thấy quy mô tài sản của khu vực ngân hàng tại một số
nền kinh tế phát triển, đang phát triển và chuyển đổi. Tổng tài sản trong ngành
Cam kết dịch vụ tài chính trong Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ và các giải pháp nhằm thực hiện có
hiệu quả của Việt Nam
Trang 10
ngân hàng tại Nhật Bản, Liên minh Châu Âu và Hoa Kỳ trong năm 2002 lên tới 10
nghìn tỷ đôla Mỹ cho mỗi khu vực. Nếu tính gộp cả ba khu vực này lại thì tổng tài
sản của ngành ngân hàng chiếm tới ba phần tư tổng tài sản trong ngành ngân hàng
của toàn cầu. Thêm vào đó, tại một số quốc gia như Thụy Sĩ, tổng tài sản trong
Trang 11
hiểm bình quân chiếm khoảng 10% GDP. Tại Anh, cứ 9 bảng Anh thì có 1 bảng
được chi tiêu vào dịch vụ bảo hiểm nhân thọ hoặc phi nhân thọ. Con số này tại các
quốc gia như Mỹ, Ireland, Nhật Bản hay Thụy Sĩ chỉ thấp hơn đôi chút.
Như vậy có thể thấy thương mại dịch vụ tài chính trong những năm gần đây đã
đạt được mức tă
ng trưởng nhanh chóng cùng với sự chuyên sâu của các hoạt động
trong ngành tài chính quốc tế. Sự tăng trưởng này là do những nhân tố sau: Thứ
nhất, tiến bộ về mặt công nghệ đã làm tăng phạm vi hoạt động của dịch vụ tài
chính, với sự xuất hiện của công nghệ xử lý và chuyển giao số liệu điện tử, công
nghệ máy tính được nâng cao, các máy rút tiền tự động và nghiệp v
ụ ngân hàng từ
xa. Thêm vào đó, một kỷ nguyên dịch vụ internet đã bắt đầu, các công nghệ này đã
tạo ra một sức bật mới cho hoạt động của ngành tài chính. Chúng tạo ra cơ hội mới
để nâng cao hiệu quả và đạt ra những thách thức mới về mặt chính sách và quy
như Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ.
Trong Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ, Hoa Kỳ dành cho các công dân và
công ty của Việt Nam sự tiếp cận như Hoa Kỳ dành cho các thành viên của Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO) như
được thể hiện trong lộ trình của Hiệp định
GATS. Việt Nam lần đầu tiên đồng ý tự do hóa một loạt các ngành dịch vụ trong
đó bao gồm, cùng với các ngành dịch vụ khác, các dịch vụ viễn thông, kế toán,
ngân hàng và phân phối. Những cam kết này thể hiện việc Việt Nam cam kết hội
nhập vào nền kinh tế quốc tế và đích cuối cùng là WTO.
Cam kết dịch vụ tài chính trong Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ và các giải pháp nhằm thực hiện có
hiệu quả của Việt Nam
Trang 13
Chương Thương mại Dịch vụ trong Hiệp định (Chương III) được thiết kế theo
mô hình của Hiệp định về thương mại và dịch vụ của WTO (GATS), bao gồm 11
điều cùng với Phụ lục F, Phụ lục G Việt Nam và Phụ lục G Hoa Kỳ, trong đó quy
định về cơ bản các vấn đề thương mại dịch vụ giữa hai nước. Các quy định đó tập
trung quy định m
ột số vấn đề chính sau:
+ Định nghĩa về thương mại dịch vụ;
+ Biện pháp của các bên;
+ Đối tượng cho lĩnh vực thương mại dịch vụ;
+ Những nguyên tắc cơ bản của hoạt động thương mại dịch vụ;
+ Các quy định về hội nhập kinh tế;
+ Các quy định về Pháp luật quốc gia;
+ Các quy định về độc quyền trong thương mại d
ịch vụ;
trong bất kỳ lĩnh vực nào, trừ các dịch vụ được cung cấp khi thi hành thẩm quyền
của Chính phủ (a service supplied in the exercise of governmental authority). Một
dịch vụ được xem là “dịch vụ cung cấp khi thi hành thẩm quyền của chính phủ” là
những dịch vụ được cung cấp không dựa trên m
ột cơ sở Thương mại, cũng không
có cạnh tranh với một hay nhiều nhà cung cấp dịch vụ khác.
Trong lộ trình cam kết cụ thể của mình (Phụ lục G – Hiệp định Thương mại
Việt – Mỹ), hai bên đã cam kết mở cửa thị trường cũng như thực hiện nguyên tắc
Đối xử quốc gia cho từng lĩnh vực, ngành dịch vụ, với các điều kiện, h
ạn chế nếu
có. Cam kết của Hoa Kỳ chính là Lộ trình cam kết cụ thể của Hoa Kỳ trong Hiệp
định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) của WTO, được coi là cam kết thông
thoáng nhất trong các nước WTO. Như vậy Hoa Kỳ cam kết mở cửa thị 103 phân
ngành dịch vụ, không kèm theo điều kiện, hạn chế gì. Như vậy, các nhà cung cấp
dịch vụ thuộc hầu hết các lĩnh vực củ
a Việt Nam đều có thể cung cấp dịch vụ cho
phía Hoa Kỳ, ngay từ khi Hiệp định có hiệu lực, theo cả 4 phương thức mà không
bị hạn chế hay bị phân biệt đối xử so với dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ tương tự
ở Hoa Kỳ.
Về phía Việt Nam, theo phụ lục G, Việt Nam cam kết mở cửa cho Hoa Kỳ tham
gia từng bước vào kinh doanh 53 phân ngành dịch vụ trong số 155 phân ngành
Cam kết dịch vụ tài chính trong Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ và các giải pháp nhằm thực hiện có
hiệu quả của Việt Nam
Trang 15
dịch vụ theo phân loại của WTO. Ngoài các cam kết chung áp dụng cho tất cả các
ngành, lĩnh vực dịch vụ trong Lộ trình, ta còn cam kết về mở cửa thị trường và
Trang 16
Các dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động bảo hiểm (bao gồm các dịch vụ môi giới
và đại lý)
- Các dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác, bao gồm:
Nhận tiền gửi và các khoản tiền từ công chúng
Cho vay dưới các hình thức, bao gồm tín dụng tiêu dùng, tín dụng thế chấp,
bao tiêu và các giao dịch thương mại khác
Thuê mua tài chính
Mọi giao dịch thanh toán và chuyển tiền, bao gồm các thẻ tín dụ
ng, ghi nợ,
báo nợ, séc du lịch và hối phiếu ngân hàng
Bảo lãnh và cam kết
Môi giới tiền tệ
Quản lý tài sản như quản lý tiền mặt, quản lý danh mục đầu tư, mọi hình
thức quản lý đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, các dịch vụ trong coi bảo
quản, lưu giữ và uỷ thác
Các dịch vụ thanh toán và quyết toán các tài sản tài chính
Cung c
ấp và chuyển thông tin tài chính và xử lý dữ liệu tài chính và các
phần mềm của các nhà cung cấp các dịch vụ khác
Tư vấn, trung gian môi giới và các dịch vụ tài chính khác liên quan đến các
hoạt động nêu trên
Buôn bán cho tài khoản của mình hay tài khoản của khách hàng tại sở giao
dịch chứng khoán, trên thị trường chứng khoán không chính thức OTC hay
trên các thị trường khác những tài sản sau:
(i) Các sản phẩm thị trường tiền tệ
(ii) Ngoại hố
i
các ngành đó. Cùng với các hạn chế khác, các hạn chế này bao gồm các hạn
chế về số lượng nhà cung cấp dịch vụ, các hạn chế về hình thức pháp nhân
hoặc liên doanh mà thông qua đó một dịch vụ có thể được cung cấp.
Đối xử quốc gia: Hiệp định yêu cầu Việt Nam và Hoa Kỳ, phù hợ
p với các
cam kết tại mỗi ngành dịch vụ được xác định trong Lộ trình của mình, phải
Cam kết dịch vụ tài chính trong Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ và các giải pháp nhằm thực hiện có
hiệu quả của Việt Nam
Trang 18
dành đối xử quốc gia cho các nhà cung cấp dịch vụ của Bên kia. Điều này
có nghĩa là các Bên đồng ý đối xử với các dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ
của Bên kia một cách tương tự hoặc tốt hơn sự đối xử họ dành cho các dịch
vụ cung cấp bởi công dân của họ hoặc nhà cung cấp dịch vụ do công dân
của họ điều hành.
Pháp luật quốc gia: M
ỗi Bên sẽ điều hành các luật và quy định ảnh hưởng
đến thương mại trong các ngành dịch vụ xác định tại Phụ lục một cách hợp
lý, khách quan và vô tư.
Đơn xin cấp phép để cung cấp dịch vụ cụ thể phải được xem xét trong một
khoảng thời gian hợp lý. Những quyết định liên quan đến những đơn đó có
thể được xem xét lại bởi các cơ quan tài phán trong nước. Những yêu cầu v
ề
cấp phép hoặc tiêu chuẩn nghề nghiệp và tiêu chuẩn kỹ thuật cần đáp ứng để
được cung cấp một dịch vụ phải dựa trên tiêu chí khách quan, không phiền
hà hơn mức cần thiết, và bản thân những yêu cầu này không tạo ra sự hạn
chế đối với việc cung cấp dịch vụ.
triển hoặc kém phát triển vẫn cam kết mở cửa thị trường rộng rãi hơn. Quyết sách
để đưa ra mức độ mở cửa thị trường dường như phụ thuộc nhiều hơn vào nhữ
ng lợi
ích tiềm năng có thể mang lại và khả năng cạnh tranh của hệ thống dịch vụ tài
chính nội địa. Hay nói đúng hơn là nó phụ thuộc vào tính hiệu quả và những thành
tựu đã đạt được của công cnộc cải cách hệ thống tài chính ngân hàng của một nước
thành viên theo hướng hội nhập. Điều đó có nghĩa là sẽ không có một công thức
chung chuẩn xác nào áp dụng cho tất cả
các nước khi tiến hành mở cửa kinh tế.
Tuy nhiên, ở một chừng mực nhất định, việc tham khảo kinh nghiệm và những bài
học thực tế về việc mở cửa thị trường ở một số nước là cần thiết cho những nước đi
sau.
3.1. Trung Quốc
Trung Quốc bắt đầu chính sách mở cửa kinh tế vào năm 1979. Tuy nhiên, trong
5 năm đầu tiên của thời kỳ mở c
ửa, công cuộc cải cách dường như chưa chạm đến
hệ thống tài chính ngân hàng. Dấu hiệu cải cách trong hệ thống tài chính thực sự
Cam kết dịch vụ tài chính trong Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ và các giải pháp nhằm thực hiện có
hiệu quả của Việt Nam
Trang 20
mới xuất hiện vào năm 1984 khi hệ thống ngân hàng tách thành hai cấp: Ngân
hàng Nhà nước (Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc) và Ngân hàng Thương mại. Kể
từ đó mới xuất hiện dấu hiệu cạnh tranh giữa các ngân hàng và ở một mức độ thận
trọng, các ngân hàng nước ngoài bắt đầu được phép thành lập và hoạt động ở
Trung Quốc.
Nhìn chung cho đến trước khi chính thức gia nhập WTO, hệ thống dịch vụ tài
hay các loại bảo hiểm phi nhân thọ khác, các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài
được phép nắm giữ tới 51% cổ phần trong liên doanh ngay sau khi Trung Quốc gia
nhập, và sau đó hai năm thì có thể thành lập công ty 100% vốn nước ngoài. Đối với
các nghiệp vụ bảo hiểm thương mại có giá trị lớn, bảo hiểm hàng hải, hàng không,
vận tải và tái bảo hiểm, các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép thành lập
liên doanh với tối đa 50% c
ổ phần nắm giữ ngay sau khi gia nhập, 51% sau đó 3
năm và 100% sau đó 5 năm.Trung Quốc cũng cam kết cho phép các nhà cung cấp
dịch vụ nước ngoài bán các dịch vụ bảo hiểm sức khoẻ và hưu trí 5 năm sau khi gia
nhập.
Để thực hiện các cam kết của mình, Trung Quốc đã có những cải tổ mà theo
như đánh giá của Phòng Thương mại Hoa Kỳ là hết sức đáng khích lệ. Ngay sau
khi chính thức gia nhập WTO, Ủy ban Qu
ản lý Bảo hiểm Trung Quốc (CIRC –
China Insurance Regulatory Commission) đã đưa ra một vài quy định về kinh
doanh bảo hiểm mới nhằm thực hiện các cam kết của Trung Quốc. Ngay đầu năm
2002, Trung Quốc đã bãi bỏ những hạn chế địa lý đối với các nhà cung cấp dịch vụ
bảo hiểm nước ngoài tại các thành phố như Bắc Kinh, Quảng Đông, Thiên
Tân.Trung Quốc mới đây trong Bản sửa đổi Luật Kinh doanh B
ảo hiểm, đã cho
phép các công ty bảo hiểm phi nhân thọ của nước ngoài được phép cung cấp dịch
vụ bảo hiểm tai nạn và bảo hiểm y tế. Như vậy là trong nhiều lĩnh vực Trung Quốc
đã thực hiện sớm hơn các cam kết của mình.
Mặc dù nhanh chóng triển khai việc thực hiện các cam kết để mở cửa thị trường
dịch vụ tài chính, Trung Quốc vẫn tìm cách bảo hộ các doanh nghiệ
p bảo hiểm
trong nước nhằm nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp này trước khi mở
cửa thị trường hoàn toàn. Hiện nay, Trung Quốc vẫn áp đặt một tỷ lệ vốn đăng ký
cao đối với các liên doanh có yếu tố nước ngoài, điều này làm hạn chế khả năng
Cam kết dịch vụ tài chính trong Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ và các giải pháp nhằm thực hiện có
Tuy nhiên, chỉ có 9 ngân hàng được phép kinh doanh bằng đồng Nhân dân tệ và
hoạt động kinh doanh dịch vụ cũng chỉ được phép thực hi
ện tại Thượng Hải và
Quảng Châu
1
.
1
Financial Services in Industry in China. US Trade Policy Review 3/2002.
Cam kết dịch vụ tài chính trong Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ và các giải pháp nhằm thực hiện có
hiệu quả của Việt Nam
Trang 23
Khi gia nhập WTO, Trung Quốc cam kết một lịch trình 05 năm cho việc mở
cửa thị trường ngân hàng của mình cho các nhà cung cấp nước ngoài. Ngay sau khi
gia nhập, Trung Quốc cho phép ngân hàng nước ngoài được thực hiện các hoạt
động kinh doanh bằng ngoại tệ đối với doanh nghiệp và cá nhân trên cả nước.
Trong vòng 05 năm sau khi gia nhập, tại một số khu vực địa lý hạn chế, nhà cung
cấp dịch vụ nước ngoài có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh b
ằng đồng nội
tệ và sau thời gian 05 năm thì tất cả các hạn chế về địa lý sẽ bị dỡ bỏ. Ngân hàng
nước ngoài cũng được phép cung cấp dịch vụ cho thuê tài chính ngay khi các ngân
hàng Trung Quốc được phép.
Để thực hiện các cam kết của mình, ngay sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc
đã đưa ra một số văn bản mới quy định hoạt động của các tổ chức tài chính có vốn
nước ngoài hoạt động trên
đất nước Trung Quốc. Mặc dù Trung Quốc luôn thực
ngược lại, nhiều tổ chức, công ty của Canada thực hiện các hoạt động kinh doanh ở
nước ngoài. Hoa Kỳ là đối tác kinh doanh lớn nhất chiếm tới hơn 50% giá trị dịch
vụ kể cả nhập khẩ
u và xuất khẩu. Tuy mức độ mở cửa thị trường ngày càng trở nên
thông thoáng trong thời gian gần đây (đặc biệt kể từ khi ký kết hiệp định chung về
thương mại dịch vụ GATS nói chung và hiệp định về dịch vụ tài chính FSA –
Financial Services Agreement – nói riêng), song việc mở cửa thị trường dịch vụ tài
chính ở Canada cũng không có nghĩa là tự do hóa hoàn toàn
2
.
a) Dịch vụ bảo hiểm
Mức độ mở cửa thị trường bảo hiểm ở Canada tỏ ra thông thoáng nhất so với
các lĩnh vực khác trong hoạt động dịch vụ tài chính. Các hãng bảo hiểm nước
ngoài chiếm thị phần đáng kể. Chẳng hạn, theo số liệu báo cáo của WTO, tổng số
phí bảo hiểm y tế và nhân thọ của các hãng nước ngoài chiếm tới 27%. Tỷ lệ
này
trong hoạt động bảo hiểm thương tật và bảo hiểm tài sản là 65%. Trong tổng số
132 công ty bảo hiểm nhân thọ và y tế, 55 công ty là chi nhánh của các công ty bảo
hiểm nước ngoài. Trong tổng số 196 công ty bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thương
tật được thành lập theo luật liên bang thì 122 công ty là chi nhánh của các hãng
nước ngoài.
2
WTO Agreements on Financial Services. Financial Canada, 2000.