ĐẠI HỌC QUÓC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐÈ TÀI NGHIÊN c ứ u KHOA HỌC
MỘT SÓ CÔNG ƯỚC QUỐC TÉ c o BẢN
VỀ BẢO H ộ QUYÈN TÁC GIẢ VÀ VÁN ĐÈ THựC THI
TẠI VIỆT NAM
(MÃ SÓ: QL.08.02)
Some basic international conventions on the protection
of copyrights and their performance in Vietnam.
CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI: TS.GVC Nguyễn Lan Nguyen
ĐAI HOC QUỐC GIA HA NỘI_
TRUNG TẦM THỐNG TIN ĨHƯ VIỆN
OOOGCCCOCff
Hà nội 2010
MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIÉT TẮT TRONG NGHIÊN c ử u
4
PHÀN MỞ ĐÀU 5
1. TÍNH CÁP THIÉT CỦA ĐÈ TÀI 5
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN c ử u 5
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN c ử u CỦA ĐÈ TÀI 6
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 6
5. NHỮNG ĐỎNG GÓP CỦA ĐÈ TÀI 7
6. KÉT CÁU CỦA ĐÈ T À I 7
Chuong thứ nhất
LÝ LUẬN CHUNG VÉ QUYÈN TÁC GIẢ.VÀ MỘT SÓ CÔNG ƯỚC
QUÓC TỂ CO BẢN VÈ BẢO HỘ QUYÈN TAC GIA
8
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VÈ QUYÈN TÁC G IẢ 10
2.1.4. Hàn Quốc 59
2.1.5. Trung Q uốc 60
2.2. PHÁP LƯẠT VIỆT NAM VÈ BAO HỌ QUYÊN TÁC GIẢ 62
2.2.1. Hệ thống các văn bán pháp luật của Việt Nam nhằm thực thi quyền tác giá 63
2.2.2. Hệ thống các cơ quan đảm bảo thực thi QTG
75
2.3. KÉT LUẠN CHƯƠNG 2 XI
Chuông thứ ba
GIẢI PHÁP NHẢM ĐẤY MẠNH HIỆU QUA THỤC THI CÁC CÔNG
ƯỚC QUỐC TẾ VÈ BAO HỘ QUYÈN TÁC GIẢ Ở VIỆT NAM
82
3.1. TÌNH HÌNH THỤC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÈ BAO HỌ QUYỀN
TÁC GIẢ Ở VIỆT NAM TỪ SAU THỜI ĐIÉM VIỆT NAM GIA NHẬP CổN G ƯỚC
BERNE ĐÉN N A Y ’
84
3.1.1. Nhận định chung 84
3.1.2. Nguyên nhân cua các vi phạm quyền tác giá ở Việt Nam c)4
3.2. MỌT SO GIAI PHÁP KI ÉN NGHỊ
3.2.1. Tăng cường tuyên truyền một số Công ưóc quốc tế CO’ bản về bảo hộ QTG
mà Việt Nam đã ký kết 95
3.2.2. Đẩy mạnh hoat động của tổ chức quản lý tập thể QTG, tham kháo các tô
chức quản lý tập thể quốc tế trong việc lập cơ sỏ dữ’ liệu và lưu trử các tác phâm .99
3.2.3. Phối họp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước có thấm quyền trong hoạt
động thực thi QGT; nghiên cứu thành lập một CO’ quan Nhà nưó'c thống nhất quán
ly SHTT
.
vấn đề đòi hỏi phải có sự điều chỉnh kịp thời của pháp luật - công cụ hữu hiệu
của Nhà nước. Việc Việt Nam phải tiến hành sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp
luật quốc gia trong đó có pháp luật SHTT để có sự tương thích với các quy
định của pháp luật quốc tế là hết sức cần thiết.
Trên cơ sở ký kết, gia nhập một số công ước quốc tế cơ bản về bảo hộ
QTG, pháp iuật Việt Nam thời gian qua đã góp phần thúc đẩy hợp tác quốc tế
trong việc sáng tạo, phổ biến, sử dụng và bảo vệ những sản phẩm trí tuệ của con
người nhàm khuyến khích làm giàu và phổ biến di sản văn hoá dân tộc. Việc
thực thi các công ước quốc tế có hiệu quả không chỉ thể hiện thái độ tôn trọng
các cam kết quốc tế mà còn là đòn bẩy, là công cụ giúp Việt Nam khác phục
tình trạng vi phạm bản quyền đáng lo ngại hiện nay, từng bước xây dựng vững
chắc nền tảng pháp luật bảo hộ QTG.
Bảo hộ bản QTG trong thời kỷ hội nhập là vấn đề thiết yếu không chỉ
thúc đẩy tính sáng tạo, đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của tác giả, chủ sở
hữu QTG; tạo môi trường cạnh tranh công bằng, lành mạnh mà còn góp phần
lớn trong tiến trình hội nhập kinh tế tri thức.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN c ử u
Những năm gần đây ở Việt Nam đã có một số công trình, tạp chí, bài báo
liên quan tới vấn đề SHTT và bảo hộ QTG, một số khía cạnh của lĩnh vực này,
5
chẳng hạn như: Sáng tạo văn học nghệ thuật, bản ghi, các tác phâm nghe nhìn,
kiến trúc, QTG về âm nhạc, băng đĩa v.v
Tuy nhiên, nhìn chung các công trình chủ yếu nghiên cứu về pháp luật
Việt Nam về bảo hộ quyền SHTT, pháp luật nước ngoài nói chung có liên quan
tới lĩnh vực này. Vì vậy, tác giả hy vọng nội dung mà đề tài này đề cập đến,
công trình chuyên khảo về: Một số công ước quốc tế cơ bản về bảo hộ QTG và
vấn đề thực thi tại Việt Nam, sẽ là một tư liệu có giá trị tham khảo không chỉ về
lý thuyết mà còn về thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN c ứ u CỦA ĐÈ TÀI
Làm sáng tỏ lý luận chung về QTG và bảo hộ QTG ở Việt Nam, trong sự
mục tài liệu tham khảo.
Chương 1 - Lý luận chung về quyền tác giả và một số Công ước quốc tế
cơ bản về bảo hộ QTG.
Chương 2 - Bảo hộ quyền tác giả theo pháp luật một số quốc gia và theo
pháp luật Việt Nam.
Chương 3 - Giải pháp nhằm đẩy mạnh hiệu quả thực thi một số Công ước
quốc tế cơ bản về bảo hộ quyền tác giả ở Việt Nam.
7
Chương thử nhắt:
LÝ LUẬN CHƯNG VẺ QƯYÈN TÁC GIẢ
VÀ MỘT SỐ CÔNG ƯỚC QUỐC TÉ c ơ BẢN
VÈ BẢO H ộ QUYỀN TÁC GIẢ
Chương thử nhắt: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QƯYÈN TÁC GLẢ VÀ MỘT
SÓ CÔNG ƯỚC QUÓC TÉ c ơ BẢN VỀ BẢO H ộ QƯYÈN TÁC GIẢ
1.1. LÝ LUẬN CHƯNG VỀ ỌƯYÈN TÁC GIẢ
1.2. MỘT SÓ CÔNG ƯỚC QƯÓC TẾ c ơ BẢN VÈ BẢO Hộ QƯYÈN TÁC
GIẢ
1.3. KÉT LUẬN CHƯƠNG 1
9
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VÈ QƯYÈN TÁC GIẢ
1.1.1. Lịch sử phát triển của pháp luật về QTG
Theo các luật gia La Mã, trước kia đối tượng của quyền sở hữu phải là
những đồ vật trong tay hay có thể nắm bắt được. Nhưng điều này không thể
thực hiện được nếu đồ vật là nhà cửa, đất đai về sau, quan niệm trên đã thay
đổi và khái niệm về đồ vật được mở rộng hơn tức là vật có thể chiếm giữ được
bàng "Olulis et affeetu" - "bằng mắt và bằng ý đồ" [25], điều này có nghĩa rằng
tài sản đối tượng của quyền sở hữu là những vật có thật và hiện hữu. về sau, khi
kinh tế, xã hội phát triển cùng với nhu cầu giao lưu thương mại, văn hoá, dần
dần con người nhận thấy có những đối tượng cho dù không hiện hữu hoặc
không tồn tại thực sự ở trạng thái tự nhiên nhưng vẫn có giá trị rất lớn và thuộc
cũng được đưa ra vào năm 1837. Trong Liên minh Bấc Đức, việc bảo vệ ỌTG
được đưa ra vào năm 1857 và được Đe chế Đức thu nhập và tiếp tục mở rộng
sau đó [48].
Bước phát triển đáng ghi nhớ tiếp theo trong lịch sử phát triển chế định
QTG là vào cuối thế kỷ 18, nhà triết học vĩ đại người Đức Kantr đã đưa ra quan
niệm rằng QTG không chỉ bao gồm những quyền lợi về mặt kinh tế mà còn cả
những quyền về mặt tinh thần. Những quyền còn được gọi là quyền nhân thân
này luôn gắn chặt với cá nhân tác giả. Mặt khác, ông cũng chỉ ra rằng pháp luật
phải đưa ra sự bảo hộ đối với các quyền nhân thân này, như quyền bảo toàn sự
nguyên vẹn của tác phẩm về tên gọi, nội dung, quyền đề tên hoặc bút danh trên
tác phẩm. Quan niệm của Kant đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới pháp luật về bản
quyền của các nước Châu Àu lục địa và trở thành nền móng cho hái niệm về
quyền nhân thân của tác giả.
Đầu thế kỷ XIX, cùng với sự phát triển của giao lươ thương mại, nhu cầu
về giao lun văn hoá, trao đổi kiến thức cũng tăng lên. vấn đề bảo hộ QTG trước
11
đây mang tính chất lãnh thổ mạnh mẽ, lúc này đã vượt ra khỏi phạm vi một
quốc gia. Cộng thêm sự thay đổi về xã hội trong thời gian này đã làm nảy sinh
nhu cầu bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật không chỉ bó hẹp trong phạm
vi quốc gia. Chính những nguyên nhân này đã thúc đẩy các quốc gia, ngoài việc
ký kết với nhau các hiệp định song phương về bảo hộ QTG, còn phải chung sức
xây dựng nên một hệ thống bảo hộ đồng bộ giữa các quốc gia trên thế giới với
nhau.
Kết quả là, ngày 9/9/1886, Công ước Beme về bảo hộ các tác phẩm văn
học và nghệ thuật, thoả thuận quốc tế đầu tiên về bảo hộ QTG, đã ra đời. Công
ước thành lập Liên hiệp Beme để đảm bảo thực hiện việc bảo hộ QTG tại tất cả
các nước thành viên. Tuy Công ước đã được sửa đổi qua 8 lần: Tại Paris 1896,
Berlin 1908, Beme 1914, Rome 1928, Brussels 1948, Stockholm 1967, Paris
1971 và 1979 [26, tr. 157] nhưng cho đến nay Công ước vẫn được coi là nền
tảng cơ bản về bảo hộ quốc tế QTG, mang tính ràng buộc chung đối với tất cả
chống lại việc nhân bản không được sự cho phép của tác giả các chương trình
thu thanh" ký kết tại Geneve năm 1971, được biết đến như Công ước Chương
trình thu thanh; và "Công ước liên quan đến phân bổ chương trình tải các tín
hiệu chuyển bằng vệ tinh" được biết đến như Công ước Vệ tinh ký kết tại
Brussels năm 1974.
Công ước Geneve 1971 về chương trình thu thanh được ký kết nhàm
dành sự bảo hộ cho các nhà sản xuất chương trình thu thanh có quốc tịch của
một quốc gia thành viên chống lại việc nhân bản không được sự đồng ý và việc
phân phối, nhập khẩu để phân phối những nhân bản này.
Cồng ước Brussels năm 1974 về Vệ tinh quy định cho các quốc gia thành
viên phải áp dụng những biện pháp ngăn chặn việc phân phối không có thẩm
quyền tín hiệu các chương trình truyền qua vệ tinh.
13
Cũng cần nhắc tới tổ chức SHTT thế giới WIPO. WIPO là một tổ chức
quốc tế có mục đích giúp đỡ nhằm đảm bảo rằng quyền của người phát minh và
chủ sở hữu tài sản trí tuệ được bảo hộ trên toàn thế giới, và rằng các nhà phát
minh, tác giả được công nhận và hưởng thành quả từ tài năng của họ.
Nguồn gốc hình thành của WIPO bắt đầu từ năm 1883, năm ra đời của
Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp. Công ước Paris đã thành lập một
Văn phòng Quốc tế nhằm quản ỉý việc thực hiện nhiệm vụ. Nam 1886, QTG băt
đầu được quốc tế biết đến với Công ước Beme về bảo hộ các tác phẩm văn học
nghệ thuật. Giống như Công ước Paris, Công ước Beme thành lập một Văn
phòng Quốc tế để thực hiện nhiệm vụ.
Năm 1883, hai Văn phòng nhỏ này hợp nhất thành một tổ chức Quốc tế
được gọi là Văn phòng Ọuốc tế Thống nhất về Bảo hộ SHTT (được biết đến
nhiều, với tên viết tắt tiếng Pháp - BIRPI), có trụ sở tại Beme, Thuỵ Sỹ, với 7
nhân viên. Tổ chức này là tiền thân của WIPO ngày nay - Một tổ chức năng
động với hơn 170 nước thành viên và 650 nhân viên trên toàn thế giới [50]
Khi tầm quan trọng của SHTT tăng lên, cơ cấu và hình thức tổ chức cũng
thay đổi. Năm 1960, BIRPI chuyển từ Beme đến Gemeva để gần hơn với Liên
còn được ghi nhận các quyền tinh thần mà trước đây Công ước Rome chưa đề
cập tới. Thời hạn bảo hộ cho các đối tượng này cũng được mở rộng hơn so với
Công ước Rome.
Theo PGS.TS Hoàng Phước Hiệp, Vụ trưởne Vụ Pháp luật Quốc tế Bộ tư
pháp, trong bài nghiên cứu: “Mối quan hệ giữa Công ước Beme và các điều ước
của WIPO về QTG”, việc bảo hộ quyền SHTT được xác định theo hướng bảo
đảm áp dụng các tiêu chuẩn tiêu biểu về bảo hộ quyền sở hữu đang áp dụng ở
các nước và điều chỉnh pháp luật các nước liên quan cho phù hợp với các điều
ước quốc tế của WIPO, trên cơ sở Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công
nghiệp và Công ước Beme về bảo hộ tác phẩm văn học nghệ thuật. Tuy vậy,
trong thực tế một số lĩnh vực thuộc SHTT đã không được các điều ước quốc tế
15
của WIPO điều chỉnh. Trong một số trường hợp khác, các tiêu chuẩn bảo hộ
được mô tả trong các điều ước quốc tế đó không còn phù hợp với điều kiện
thương mại quốc tế ngày nay.
Trong bối cảnh hệ thống thương mại toàn cầu đang phát triển mạnh và
trước thực tế là lượng hàng hoá và dịch vụ do các quyền SHTT bảo hộ, trong đó
QTG và quyền kế cận trong quan hệ thương mại quốc tế đem lại rất lớn. Nhàm
chia sẻ hợp lý những lợi ích thương mại này, đồng thời tăng cường sự bảo hộ
đối với các quyền SHTT nói chung và để các quyền này không trở thành rào
cản trong thương mại quốc tế, tại vòng đàm phán Ưrruguay của Hiệp định tổng
quát về thương mại và thuế quan (GATT) năm 1994 đã đưa ra Thoả thuận về
những khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền SHTT, gọi là Hiệp định
TRIPs.
Hiệp định TRIPs đã bồ sung một số lượng đáng kể các tiêu chuẩn bảo hộ
mới hoặc tiêu chuẩn bảo hộ cao hơn các điều ước quốc tế của WIPO.
Hiệp định TRIPs đã đưa ra một cơ chế chung đảm bảo thực thi các quyền
SHTT nói chung và QTG, quyền kế cận nói riêng đối với các thành viên của
WTO.
Việc ràng buộc một công ước về QTG với một thoả thuận về thương mại
bao gồm các quyền kinh tế và các quyền tinh thần (còn gọi là quyền nhân thân).
Quyền nhân thân hay còn gọi là quyền tinh thần (moral rights) gồm
những quyền: quyền đứng tên thật hay bút danh trên tác phẩm, quyền đặt tên,
quyền nêu tên thật hay bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng, quyền
cho phép hay không cho phép người khác công bố, sử dụne tác phẩm, quyền
bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm Các quyền tinh thần nàv của tác giả được
bảo hộ vô thời hạn và không thể chuyên giao.
Quyền kinh tế (economic rights) bao gôm: quyền sao chép, quyền dịch
tác phẩm ra một ngôn ngữ khác, truyền đạt tác phâm tới công chúne, phân phối,
17
DAI HỌC GUỐC GIA HA NÒI
TRUNG TÁM ĨHÓ NG Tín ỉh ư v iẻ n
nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm, về nguyên tác các quyền này có thời
hạn bảo hộ suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả qua đời.
Bên cạnh bản quyền tác phẩm, WIPO cũng có những quy định về quyền
liên quan (related rights) hay còn gọi ỉà quyền kề cận (neighbouring rights).
Quyền liên quan có mối quan hệ khăng khít với QTG, thể hiện ở chỗ thông qua
các trung gian (người biểu diễn, tổ chức sản xuất bản ghiâm, tổ chức phát
sóng ) bàng cách thức, phương tiện khác nhau sẽ giúp tác phẩm đến được với
công chúng. Nó được coi là quyền phái sinh từ QTG và là kết quả của sự phát
triển cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ.
Như vậy, quyền liên quan là quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất,
xuất bản ghi âm và các tổ chức phát sóng trong mối quan hệ với chương trình
biểu diễn, chương trình phát sóng có sử dụng tác phẩm của người khác.
Trong thực tể tồn tại hai cách gọi khác nhau trong lĩnh vực bảo hộ bàng
pháp luật các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, đó là QTG (Author's
right) và bản quyền (copyright).Điều này thể hiện hai cách tiếp cận khác nhau
của hai hệ thống pháp luật trên thế giới là hệ thốns pháp luật Anh, Mĩ -
Common Lau và hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa - Linh Lan.
Nếu như bản quyền nhấn mạnh quyền sao chép, nhân bản tác phẩm (bảo
ràng. Mặt khác, nếu như Công ước Beme khẳng định sự bảo hộ của Công ước
đối với các quyền cụ thể của tác giả và từ đó họ có thể được sự bảo hộ của Công
ước đối với những quyền một cách trực tiếp thì Công ước Geneva 1952 lại chủ
yếu dựa trên cam kết của các nước thành viên sẽ đảm bảo dành một sự bảo hộ
có hiệu quả trên cơ sở không trái với tinh thần của Công ước. Hơn nữa, việc
thời hạn bảo hộ tối thiểu của Công ước thấp hơn so với Cône ước Beme cũng
tạo khả năng tham gia rộng hơn cho các quốc gia.
Nguyên tắc của việc bảo hộ theo Công ước Beme gồm:
19
Thứ nhất là nguyên tắc "đối xử quốc gia", theo đó một quốc gia thành
viên phải dành cho tác phẩm được bảo hộ ở một nước thành viên khác sự bảo
hộ như đối với các tác phẩm của công dân nước họ.
Thứ hai là về quyền tối thiểu, nghĩa là Công ước không hạn chế việc mở
rộng mức độ bảo hộ so với Công ước của các quốc gia thành viên mà họ phải
quy định trong hệ thống pháp luật nước mình mức bảo hộ ít nhất phải như Công
ước đã thiết lập.
Cả hai Công ước đều dành những ưu đãi riêng đối với các nước đang phát
triển trong việc đưa ra một cơ chế đơn giản hơn cho phép các nhà xuất bản bản
ở các nước này có thể có được giấy phép xuất bản các tác phẩm nước ngoài.
Hai Công ước quốc tế cơ bản về bảo hộ QTG nói trên đã chừa lại một
khoảng trống mà trên thực tế, sự ra đời của Công ước Rome 1961 là nhằm bù
lấp khoảng trống đó. Cồng ước Rome 1961 bao quát lĩnh vực quyền kế cận gồm
quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất chương trình thu thanh và tổ chức phát
sóng. Công ước này có mối quan hệ khá mật thiết với hai Công ước về QTG nói
trên ở hai khía cạnh. Thứ nhất, việc bảo hộ theo Công ước này không được làm
ảnh hưởng theo bất kỳ cách nào đến QTG đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật
(điều 1). Thứ hai, để trở thành thành viên của Công ước, quốc gia phải tham gia
hoặc Công ước Beme, hoặc Công ước Toàn cầu về bản quyền (điều 24). Cũng
có nghĩa là, khi quốc gia không còn là thành viên của Công ước Beme lẫn Công
ước Toàn cầu về bản quyền thì quốc gia đồng thời chấm dứt tư cách thành viên
tiết và dường như có hiệu quả hơn.
Hiệp định TRIPs đã đặt ra nghĩa vụ đối với các quốc gia thành viên trong
việc quy định các thủ tục bình đẳng và công bằng đối với các chủ sờ hữu QTG
để họ có thể thực thi các quyền của mình và có được những quvết định của Toà
án, việc bồi thường thiệt hại hay những phương cách khác cũng như các biện
pháp tạm thời nhàm ngăn chặn sự vi phạm, bảo quản chíme cứ hoặc cho phép
các cơ quan hải quan được phạt giữ lại những hàng vi phạm theo yêu cầu của
21
chủ sở hữu QTG. Ngoài ra, các hình phạt hình sự ít nhất phải được áp dụng đối
với việc vi phạm bản quyền với quy mô thương mại lớn.
Nghiên cứu những Công ước quan trọng về QTG nói trên, một mặt cho
chúng ta thấy một hệ thống bảo hộ quốc tế đồng bộ và hiệu quả, mặt khác cũng
thể hiện một tiến trình phát triển của pháp luật quốc tế về lĩnh vực này, từ buổi
ban đầu của thời đại công nghiệp cho đến nay, trước ngưỡng của thời đại thông
tin.
Điều này cũng cho thấy rằng, trên nền tảng cơ bản đã được xây dựng
trong nhiều năm qua, pháp luật quốc tế về bảo hộ QTG sẽ còn phát triển và vẫn
tiếp tục pháp triển nhanh hơn. Những phần dưới đây sẽ xem xét vấn đề bảo hộ
QTG chủ yếu qua các Công ước: Công ước Beme 1886, Công ước Rome 1961,
Hiệp định TRIPs 1995.
1.2.2. Nội dung chính một số Công ước quốc tế về bảo hộ quyền tác
giả
1.2.2.1. Bảo hộ quốc tế quyền tác giả theo Công ước Berne
Công ước Beme được ký kết vào năm 1886 với số thành viên lúc đầu là
50 quốc gia. Tại điều 2 Công ước Beme đã chỉ ra rằng những tác phẩm văn học
và nghệ thuật được bảo hộ bao gồm " tất cả các sản phẩm trong lĩnh vực văn
học, khoa học và nghệ thuật bất kỳ được biểu hiện theo phương thức hay dưới
hình thức nào ".
Đẻ dẫn chứng cho nội dung này, điều này của Công ước đồng thời đưa ra
một danh sách những loại hình sản phẩm được coi là tác phẩm văn học, nghệ
Công ước Beme không đưa ra một khái niệm nào về tác giả nhưng có thể
ngầm hiểu tác giả là người sáng tạo ra tác phẩm, còn tác phẩm là tất cả các tác
phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học đã được trình bày cụ thể ở trên.
23
Căn cứ vào Điều 3 của Công ước có thể rút ra một nhận xét là tác giả
theo Công ước Beme là các cá nhân chứ không gồm các tổ chức. Hầu hết các
quốc gia cùng quan niệm như vậy.
Khi một tác phẩm được sáng tạo nên bởi nhiều người thì QTG là quyền
chung của những người cộng tác đó (Điều 7 bis).
Thông thường thì tác giả là chủ sở hữu đầu tiên đối với tác phẩm. Tuy
nhiên, có những quyền của tác giả lại có thể chuyển nhượng nên dẫn tới khái
niệm chủ sở hữu QTG. Khoản 2 Điều 2 có nói ràng "Việc bảo hộ này được
dành cho tác giả và những người chủ sở hữu QTG".
Công ước Beme cũng không đưa ra khái niệm về chủ sở hữu QTG nhưne
có thể hiểu đây thông thường là những người được chuyển giao QTG và những
người mà tác giả sáng tác tác phẩm dựa trên yêu cầu của họ như pháp luật quốc
gia quy định. Việc xác định chủ sở hữu QTG có tầm quan trọng rất lớn vì nó
ảnh hưởng trực tiếp tới việc hưởng QTG.
Một vấn đề đặt ra khi xem xét các tác phẩm sáng tạo nên từ sự đóng góp
của nhiều người. Có hai trường hợp như sau:
+ Thứ nhất, sự đóng góp của các đồng tác giả là không thể phân chia. Nói
chung trong trường họp này, họ được hưởng những quyền ngang nhau.
+ Thứ hai là trường hợp mà tác phẩm được tạo nên từ những phần đóng
góp có thể xác định được. Ví dụ cho trường hợp này là tác phẩm điện ảnh trong
đó người ta có thể phân định được thành những phần khá rồ rệt như: Kịch bản,
âm nhạc, thiết kế mỹ thuật Điều 14 bis đặt ra vấn đề cho pháp luật quốc gia
trong việc quy định ai được hưởng QTG đối với tác phẩm điện ảnh.
Tóm lại, bên cạnh tiêu chí bảo vệ các quyền tinh thần không thể chuyển
giao của bản thân tác giả thì việc xác định người được hưởng quyền trên cơ sở
đó bảo hộ các quyền của họ là trọng tâm của pháp luật về bảo hộ quốc tế QTG.