MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 : CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU……………………… 7
1.1. Biến đổi khí hậu……………………………………………………………………………7
1.1.1. Khái niệm chung về biến đổi khí hậu……………………………………………… 7
1.1.2. Nguyên nhân của biến đổi khí hậu………… 9
1.1.3. Hậu quả của biến đổi khí hậu……………………………………………………… 13
1.2. Pháp luật quốc tế về chống biến đổi khí hậu…………………………………………28
1.2.1. Sự cần thiết phải điều chỉnh vấn đề biến đổi khí hậu trong luật pháp quốc tế… 28
1.2.2. Sự phát triển của luật pháp quốc tế về biến đổi khí hậu………………………………29
1.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1……………………………………………………………… 32
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ CƠ BẢN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM……………………………………………33
2.1. Các điều ước quốc tế về biến đổi khí hậu………………………………………… 33
2.1.1Công ước Viên về bảo vệ tầng Ôzôn năm 1985…………………………………………33
2.1.2. Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng Ôzôn năm 1987……… 36
2.1.3. Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu năm 1992…………… 39
2.1.4. Nghị định thư Kyoto về giảm phát thải khí nhà kính năm 1997………………….42
2.1.5. Thỏa thuận của Hội nghị thượng đỉnh Liên hiệp quốc
về biến đổi khí hậu tại Copenhanghen, Đan Mạch……………………………………….49
2.2. Vấn đề thực thi các điều ước quốc tế về chống biến đổi khí hậu……………51
2.2.1. Trên bình diện quốc tế………………………………………………………………….51
2.2.2. Vấn đề thực thi taị Việt Nam……………………………………………………… 60
2.3. Nỗ lực của thế giới nhằm xây dựng các điều ước quốc tế mới
về biến đổi khí hậu………………………………………………………………69
2.3.1. Nỗ lực chung của thế giới…………………………………………………………69
2.3.2. Đóng góp của Việt Nam………………………………………………………… 76
2.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2…………………………………………………… 79
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN LUẬT PHÁP QUỐC TẾ
VỀ CHỐNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU………………………………………………….80
3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện luật pháp quốc tế về chống biến đổi khí hậu….80 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, thế giới đã phải hứng chịu những
thảm họa thiên nhiên khủng khiếp gây thiệt hại nặng nề về người và của như
những cơn bão lớn, những đợt hạn hán kéo dài, sự thay đổi bất thường của
thời tiết…Nhiều nguyên nhân đã được nêu ra nhưng tựu chung lại, các nhà
khoa học đều khẳng định nguyên nhân chính gây ra những hiện tượng này là
biến đổi khí hậu.
Biến đổi khí hậu đã và đang gây ra những ảnh hưởng xấu tới cả giới
tự nhiên và con người. Biến đổi khí hậu đang là vấn đề nóng nhất của cộng
đồng thế giới trong thế kỷ XXI và chống biến đổi khí hậu cũng như hạn chế
các tác động xấu của nó không phải là trách nhiệm của riêng quốc gia hay
nhóm nước nào mà là trách nhiệm chung của toàn thế giới. Việc giải quyết
tình trạng biến đổi khí hậu đã được nêu ra trong rất nhiều các cuộc hội nghị,
hội thảo của các quốc gia hay tổ chức quốc tế không đạt được hiệu quả như
mong muốn. Biến đổi khí hậu đòi hỏi sự tham gia giải quyết của tất cả các
quốc gia trên thế giới. Trong bối cảnh và sự nhận thức đó, tháng 6/1992, tại
Braxin, 162 quốc gia trong đó có Việt Nam đã ký công ước Khung của Liên
hợp quốc về biến đổi khí hậu (United Nations Framework Convantion on
Climate Change - UNFCCC) [6]. Năm 1997, Nghị định thư Kyoto về giảm
phát thải khí nhà kính cũng được đệ trình và đã có hiệu lực vào năm 2005.
Trong đó các quốc gia công nghiệp đã cam kết giảm khí thải nhà kính trong
khoảng thời gian đến năm 2012. Các nước đang phát triển và các nước công
nghiệp mới có nền kinh tế phát triển nhanh chưa phải đưa ra cam kết tại
Kyoto. Ngoài UNFCCC và Nghị đinh Kyoto, công ước Viên về bảo vệ tầng
vai trò ngày càng tăng của các quy định pháp luật về chống biến đổi khí hậu
3
kể từ khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường là biểu hiện rõ rệt về
sự cấp bách của vấn đề khí hậu và dẫn đến một hệ quả tất yếu là phải có
những nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống về pháp luật bảo vệ khí hậu.
Đáng chú ý, với chính sách đối ngoại rộng mở trong thời gian qua của
Nhà nước ta đã tích cực ký kết và tham gia vào nhiều điều ước quốc tế về cắt
giảm khí thải, bảo vệ khí hậu quan trọng. Để thực hiện cam kết quốc tế của
mình, Nhà nước đã ban hành một hệ thống pháp luật về chống biến đổi khí
hậu tương đương đối hoàn chỉnh, được dư luận trong nước và quốc tế đánh
giá cao. Tuy nhiên, trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, vấn đề biến đổi khi
hậu toàn cầu cần tiếp tục được quan tâm hơn nữa.
Bởi những nguyên nhân nói trên, tôi cho rằng việc nghiên cứu đề tài:
"Pháp luật quốc tế về chống biến đổi khí hậu và vấn đề thực thi tai Việt
Nam" có ý nghĩa lý luận và thực tiễn khá lớn. Việc nghiên cứu đề tài này có
thể góp phần hoản thiện và nhìn nhận sâu sắc hơn nữa về vấn đề khí hậu,
qua đó đóng góp cho phong phú hơn lý luận của khoa học Luật quốc tế về
bảo vệ khí hậu toàn cầu.
2. Tình hình nghiên cứu
Thực tế cho thấy, việc nghiên cứu pháp luật quốc tế về chống biến đổi
khí hậu và việc thực thi pháp luật đó luôn là một nội dung thu hút sự quan
tâm của các nhà nghiên cứu và quản lý ở hầu hết các quốc gia, dù đó là quốc
gia phát triển hay quốc gia đang phát triển.
Đặc biệt, ở Việt Nam trong thời gian gần đây đã có nhiều tác giả và tập
thể tác giả trong nghiên cứu về tác động tới khí hậu và các vấn đề pháp lý về
biến đổi khí hậu. Một số công trình có giá trị nghiên cứu về khung pháp luật
về chống biến đổi khí hậu cũng đã được công bố rộng rãi, chẳng hạn, đề tài:
Việc thực thi các cam kết của Việt Nam về biến đổi khí hậu – Lưu Ngọc Tố
Tâm, “Nghiên cứu phân tích các kịch bản biến đổi khí hậu toàn cầu, khu vực
xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật trong nước về chống biến đổi
5
khí hậu, dựa trên các văn bản điều ước đa phương mà Chính phủ Việt Nam
đã ký kết trong thời gian vừa qua.
4. Đối tƣợng, phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Trước hết, luận văn sẽ làm sáng tỏ cơ sở lý
luận và thực tiễn của pháp luật về chống biến đổi khí hậu toàn cầu nói chung
và khí hậu Việt Nam nói riêng, đồng thời đưa ra một số kiến nghị cho việc
hoàn thiện pháp luật thực định cũng như thúc đẩy thực thi những quy định
này trong công tác bảo vệ khí hậu hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề
mang tính cơ bản nhất của lý luận Luật quốc tế về chống biển đối khí hậu.
Việc nghiên cứu được giới hạn ở một số điều ước quốc tế cơ bản về bảo vệ
khí hậu mà Việt Nam đã ký kết tham gia trong thời gian qua. Thông qua đó
khẳng định việc tham gia các điều ước quốc tế chống biến đối khí hậu và
hoàn thiện pháp luật trong nước trong lĩnh vực này là một tất yếu khách
quan và là một vấn đề hết sức cấp bách không chỉ nhằm đáp ứng các yêu cầu
của cộng đồng quốc tế mà nhằm mong lại lợi ích thiết thực cho từng cá nhân
trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay.
- Phương pháp nghiêm cứu: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích
và tổng hợp, thống kê; phương pháp kế thừa có chọn lọc, phương pháp khảo
sát thực tế, đồng thời so sánh đối chiếu các quy phạm thực định về chống
biến đổi khí hậu Việt Nam với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham
gia ký kết nói riêng và pháp luật quốc tế về bảo vệ khí hậu nói chung.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận
văn có 3 chương sau đây:
Chương 1: Những vấn đề chung về Biến đổi khí hậu
Chương 2: Một số Điều ước quốc tế cơ bản về biến đổi khí hậu và thực
7
CHƢƠNG 1
CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Trong mấy thập kỷ qua, nhân loại đã và đang trải qua các biến động
bất thường của khí hậu toàn cầu. Trên bề mặt Trái đất, khí quyền và thủy
quyển không ngừng nóng lên làm xáo động môi trường sinh thái, đã và
đang gây ra nhiều hệ lụy với đời sống loài người. Vậy biến đổi khí hậu là gì?
Nguyên nhân, biểu hiện và hậu quả của nó ra sao? Pháp luật quốc tế đề cập
tới vấn đề này như thế nào? Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu các vấn đề trên.
1.1. Biến đổi khí hậu
1.1.1. Khái niệm chung về biến đổi khí hậu
a. Khí hậu
Khí hậu thường được định nghĩa là trung bình của thời tiết trong một
khoảng thời gian và không gian nhất định (tức là ở mức độ trung bình của
các yếu tố của thời tiết, thường là 30 năm). Có những năm yếu tố chủ yếu để
hình thành một chế độ khí hậu đó là: bức xạ mặt trời, nhiệt, độ ẩm, hòan lưu
(gió) và vị trí địa lý, địa hình, mặt đệm. Những yếu tố này không tách rời
nhau. Khi khí hậu có sự thay đổi thì năm yếu tố trên cũng thay đổi theo.
Thời tiết là trạng thái khí quyển tại một địa điểm nhất định được xác
định bằng tổ hợp các yếu tố: nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mưa…
Khí quyển là bầu không khí bao quanh trái đất. Nó chứa nhiều loại
chất khí và các phân tử của nhiều chất khác. Trong các loại chất khí, niơ
chiếm 78%, oxy 21%, đioxít cácbon 0,03% và agon 0,9%. Bầu khí quyển
cung có các phân tử hơi nước, Mêtan, monoxít, hydro, ôzôn, hêli, nêon,
kripton và xênon. Ngoài ra, còn có các phân tử cát, khói, phân tử muối, phân
tử tro núi lửa, bụi thiên thạch và phấn hoa khí quyển phủ dầy đặc ở gần bệ
mặt trái đất và nồng độ loãng dần ở phía ngoài [4].
con người làm thay đổi thành hần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng
đất.
Xét dưới góc độ khoa học môi trường, biến đổi khí hậu có nghĩa rộng
được hiểu là tất cả các sự khác nhau giữa những số liệu thống kê dài hạn các
yếu tố khí tượng ở những thời kỳ khác nhau của một khu vực, không bị phụ
thuộc vào phép thống kê và nguyên nhân đã gây ra sự khác biệt đó. Còn biến
đổi khí hậu theo nghĩa hẹp dùng để mô tả những thay đổi rõ nét về giá trị
trung bình của các yếu tố khí tượng, chủ yếu là nhiệt độ và lượng mưa, trong
9
khoảng thời gian xác định như một tháng, một mùa hay vài năm, so với giá
trị trung bình thời gian dài (từ vài chục năm trở lên) của một khu vực.
Những biến đổi đó có thể gây ra những hậu quả về kinh tế, xã hội hoặc môi
trường sinh thái của khu vực. Dưới góc độ pháp lý quốc tế, biến đổi khí hậu
nghĩa là biến đổi của khí hậu được quy trực tiếp hoặc gián tiếp cho hoạt
động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và sự
thay đổi này được cộng thêm vào khả năng biến động tự nhiên của khí hậu
quan sát được trong những thời kỳ có thể so sánh dược (Khoản 2 - Điều 1
Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu năm 1992). Như
vậy, dưới góc độ pháp luật quốc tế, biến đổi khí hậu được hiểu là những thay
đổi của khí hậu mà nguyên nhân chủ yếu là do các hoạt động con người.
Các biểu hiện của sự biến đổi khí hậu trái đất gồm:
Sự nóng lên của khí quyển và trái đất nói chung
Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi
trường sống của con người và các sinh vật trên trát đất
Sự dâng cao mực nước biển do tan băng dẫn tới sự ngập úng của
các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển.
Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các
vùng khác nhau của trái đất dẫn tói nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh
vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người.
lửa chiếm khối lượng từ 25 đến 150 tấn/năm trên toàn thế giới. Các sol khí
còn được tạo ra từ bụi rừng, bụi biển, từ đất, từ hoc thực vật, từ các sinh vậy
và từ các sản phẩm của chính thời tiết. Chỉ tính riêng nguồn gốc từ thiên
nhiên, các loại sol khí chiếm một khối lượng khổng lồ, từ khoảng 773 đến
2200 tấn sol khí/năm. [20,tr10]
Như vậy, chính bản thân thiên nhiên cũng đã và đang góp phần vào
quá trình tạo ra sự biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, cần
11
phải nhấn mạnh rằng, sự tác động của thiên nhiên tạo ra sự biến đổi từ từ,
chậm chạp. Tự thiên nhiên có thể lấy lại được thế cân bằng nếu không có sự
tác động mạnh mẽ của con người. Điều mà pháp luật quốc tế đề cập tới khi
muốn hạn chế tác hại của biến đổi khí hậu chính là những tác động tiêu cực
của con người góp phần nghiêm trọng vào quá trình thay đổi này.
b. Tác động của con người
Con người nhằm phục vụ sự phát triển sản xuất cũng như các nhu cầu
ngày càng cao của mình đã và đang góp phần chủ yếu vào quá trình biến đổi
khí hậu. Quá trình công nghiệp hóa, sự tăng nhanh của số lượng các phương
tiện giao thông vận tải, sự phát triển của ngành công nghiệp khai thác, việc
sử dụng các nguyên liệu hóa thạch để tạo ra năng lượng, sự thiêu đốt các
chất thải sinh hoạt, sự tích lũy ngày càng nhiều các chất thải công nghiệp…
là các tác nhân gây ra sự biến đổi khí hậu ngày nay.
Bằng các hoạt động sản xuất của mình, con người đã thải ra một
lượng lớn các khí thải độc hại gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới bầu khí
quyển (như CO
2
, CH
4
, N
2
hay
hợp chất của chì … đều là các chất gây ô nhiễm khí quyển, sinh quyển,
thạch quyển làm khí hậu thay đổi.
Đồng thời việc dân số tăng liên tục cũng là một nhân tô gây biến đổi
khí hậu thế giới, vì càng nhiều người sinh sống trên trái đất sẽ càng thải ra
nhiều lượng khí CO
2
gây hiệu ứng nhà kính. Ngay trước Hội nghị thượng
đình khí hậu thế giới ở Côpenhagen (tháng 12/2009), Quỹ Dân số Liên Hợp
Quốc (UNFPA) đã cảnh báo dân số thế giới tăng sẽ gây hậu quả nghiêm
trọng đối với biến đổi khí hậu. Báo cáo của UNFPA công bố tại Berlin ngày
18/11/2009 khẳng định, việc dân số tăng trong quá khứ phải chịu trách
nhiệm đối với khoảng 50% lượng phát thải CO
2
trên thế giới. Hiện trên trái
đất có gần 7 tỷ người sinh sống; dự đoán tới năm 2050 sẽ tăng lên hơn 9 tỷ
người. Tuy nhiên, nếu có hạn chế được dân số ở mức 8 tỷ người thì sẽ giảm
bớt được 2 tỷ tấn khí thải CO
2
[37].
Ngoài ra, các hoạt động khác của con người như khai thác mỏ, việc
chuyển đổi sử dụng đầt, khai thác rừng quá mức … cũng là nguyên nhân gây
ra biến đổi khí hậu.
Theo các nghiên cứu khoa học, thời kỳ tiền công nghiệp làm lượng
khí CO
2
đạy khoảng 280 ppm (phần triệu). Từ khoảng năm 1800, hàm lượng
khí CO
2
bắt đầu tăng lên, vượt con số 300ppm và 379ppm vào năm 2005,
nhiều hậu quả nghiêm trọng như băng tan, nước biển dâng cao, bão tố và các
trận lụt, lốc xoáy sẽ xẩy ra thường xuyên hơn… Cùng với đó, hiện tượng El
Ninô (hiện tượng vùng biển ở khu vực nhiệt đới Thái Bình Dương ấm lên
một cách bất thường gây nên những ảnh hưởng đến thời tiết trên quy mô
toàn cầu) và La Lina (ngược với El Ninô) sẽ diễn biến phức tạp và gây ta
nhiều hậu quả nghiêm trọng. Nhiệt độ trái đất tăng nhanh cũng làm thúc đẩy
nhanh quá trình chuyển hoa sinh học và hóa học, gây nên sự mất cân bằng
về lượng và chất trong cơ thể sống.
14
Băng tan và nước biển dâng là một trong những biểu hiện rõ nét và rất
nguy hiển của biến đổi khí hậu ngày nay. Trên trái đất, băng giá chiễm 10%
bề mặt một cách thường xuyên, chủ yếu là các lục địa Nam cực hay
Greenland. Băng cũng bao phủ tren 7% diện tích biển. Vào mùa đông, tuyết
phủ đến 49% bề mặt Bắc Bán cầu. Đặc điểm của băng tuyết là có hệ số phản
xạ rất cao,bức xạ từ mặt trời bị phản chiếu lại tới 90%. Do dó, băng tuyết có
một tác động hồi tiếp rất cao trong biến đối khí hậu. Việc diện tích băng bị
giảm đi do trái đất ấm lên sẽ làm giảm khả năng phản chiếu bức xạ mặt trời
của trái đất, làm nhiệt độ trái đất tăng thêm. Bên cạnh đó, sự tan băng dưới
tác động của nhiệt độ cũng sẽ làm cho mực nước biển dâng lên cao. Các
quan sát vệ tinh trong giai đoạn 1966-2005 cho thấy bề mặt phủ tuyết ở Bắn
Bán cầu giảm đi mỗi tháng. Tính trung bình các năm thì từ cuối thập kỷ
1980, bề mặt này giảm đi 5%. Trong thế kỉ 20, các chòm sao băng ở hai cực
và các sông băng cũng tan đi ít nhiều gây hiện tượng dâng cao của mực
nước biển. Sự tan băng của các chòm băng và sông băng (trừ Greedland và
Nam cực) trong khoảng thời gian 1962-2003 tương đương với mực nước
biển dâng cao khoảng 0,5mm hàng năm, còn trong khoảng thời gian 1991-
2003 thì tương đương với mức nước biển dâng cao hằng năm khoảng 0,77
mm. Ngòai ra, sự giãn nở của nước do nhiệt độ tăng cũng là nguyên nhân
của việc nước biển dâng cao [35].
thư da và các bệnh về mắt cao nhất trên thế giới. Lỗ thủng tầng Ôzôn xuất
hiện cũng đồng nghĩa với bệnh tật ở người, thực vật phát triển chậm, mưa
axit tăng lên, cây trồng vật nuôi bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Ngoài hiệu ứng nhà kính, suy giảm tầng Ôzôn, thì các hiện tượng cực
đoan về thời tiết như bão, lũ, hạn hán cũng gây những hậu quả rất nghiêm
trọng cho con người và thiên nhiên. Theo các báo cáo gần đây, số lượng và
cường độ các trận bão nhiệt đới ra tăng đáng kể do trái đất bị nóng lên. Theo
các nhà khoa học, mỗi khi nhiệt độ nước biển tăng lên 1
0
C thì số các cơn
bão mạnh (cấp 4 – 5 theo thang đo của Mỹ) tăng lên 31%
Tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu tới tự nhiên
Nhiều nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rắng biến đổi khí hậu sẽ làm
thay đổi cấu trúc, chức năng của các hệ sinh thái và làm suy giảm đa dạng
sinh học. Qua nghiên cứu các lớp địa tầng, người ta thấy rằng các hệ sinh
thái đã có những thích nghi nhất định với những biến đổi khí hậu đã qua.
16
Tuy nhiên, sự thích nghi ấy đã bị ảnh hưởng bởi một lượng dân số ngày
càng cao, những đòi hỏi và áp lực lên hệ sinh thái ngày càng lớn.
Mất đa dạng sinh học ngày nay đang diễn ra một cách nhanh chóng
chưa từng có, kể từ thời kỳ các loài khủng long bị tiêu diệt cách đây khoảng
65 triệu năm và tốc độ biến mất của các loài hiện nay ước tính gấp khoảng
100 lần so với tốc độ mất các loài trong lịch sử Trái đất, và trong những thập
kỷ sắp tới mức độ biến mất của các loài sẽ gấp 1.000 -10.000 lần (MA 2005)
. Có khoảng 10% các loài đã biết được trên thế giới đang cần phải có những
biện pháp bảo vệ, trong đó có khoảng 16.000 loài được xem là đang có nguy
cơ bị tiêu diệt. Trong số các loài thuộc các nhóm động vật có xương sống
chính đã được nghiên cứu khá kỹ, có hơn 30% các loài ếch nhái, 23% các
loài thú và 12% các loài chim (IUCN 2005), nhưng thực tế số loài đang
vài vùng của Châu Âu vào năm 2080, có đến 60% loài động, thực vật sẽ
biến mất. Các tác động của khí hậu lên hệ sinh thái ở Nam và Bắc cực sẽ rất
lớn nếu các rừng nhiệt đới ở Nam Mỹ bị phá huỷ và các côn trùng dịch
bệnh, các vụ cháy rừng ở Bắc Mỹ tăng lên. Hệ sinh thái của các bãi san hô ở
Châu Úc vào năm 2020 sẽ bị đảo lôn nghiêm trọng do hiện tượng nước biển
ấm lên và có độ axit cao hơn trước. Cũng do việc tăng nhiệt độ của nước mà
các hệ sinh thái biển bị đảo lộn, ảnh hưởng đến sự sinh sản của các loại tảo,
sinh vật phù du, các loại cá và nhất là các đường di cư của cá. [6,tr.107]
Cùng với đó, sự dâng cao mực nước biển do tác động của biến đổi khí
hậu cũng có ảnh hưởng lớn tới các loại động thực vật sinh sống ở ven biển
hay ở các vùng biển gần bờ, thí dụ như các bãi đá ngầm, các bãi cỏ ven biển,
các rừng tràm, rừng đước, các vùng đất ngập nước, ngập mặn…
Biến đổi khí hậu có thể làm tăng sức ép về nước tại các vùng khô cằn
cũng như bán khô và một số khu vực sẽ bị tác động do các trận lũ lụt tăng
thêm. Biến đổi khí hậu có liên quan mật thiết với các dự báo thay đổi về
lượng mưa có thể làm tăng tần suất và mức độ hạn tại một số nơi, đặc biệt là
các vùng Trung Á, Bắc và Nam Phi, Trung Đông và Úc.
Tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu tới con người
Hiện nay, biến đổi khí hậu đã gây nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với
con người và trong tương lai, những ảnh hưởng xấu của biến đổi khí hậu sẽ
còn nghiêm trọng hơn.
18
Kết quả nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu đối với con người
do Tổ chức Global Humanitarian Forum của cựu tổng Thư ký Liên Hợp
Quốc Kofi Annan vừa công bố cho biết, hiện nay, biến đổi khí hậu đã cướp
đi mạng sống của 300.000 người mỗi năm và ảnh hưởng đến cuộc sống của
300 triệu người trên trái đất do tác động từ những đợt năng nóng, lũ lụt và
cháy rừng gây ra [32].
- Hàng triệu người sống trong các khu nhà ổ chuột trở thành nạn nhân
sự tồn vong của chính con người.”
Trước hết, biến đổi khí hậu ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ con
người. Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, các đợt nóng, lạnh sẽ diễn biến
phức tạp hơn cả về tần số và cường độ. Các đợt nóng và lạnh tác động trực
tiếp lên sức khoẻ của người dân. Số dân chết trong những giai đoạn nhiệt độ
lên quá cao hay quá thấp thất thường có xu hướng tăng lên.
Đợt năng nóng vào tháng 8 năm 2003 được coi là đợt nắng nóng kỷ lục
ở Bắc bán cầu, số người chết vì năng nóng cũng được ghi nhận là kỷ lục,
riêng ở Pháp đã có 14.402 người chết vì đợt nắng nóng này, số người chết ở
Đức là 7.000 người, ở Tây Ban Nha và Italia khoảng 4.200 người. Theo báo
cáo của tổ chức Y tế thế giới, số người chết hàng năm do nắng nóng sẽ tăng
gấp đôi trong 20 năm tới. [26]
Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu cũng tác động tới tình hình dịch bệnh
trên thế giới (nhất là dịch bệnh do côn trùng mang như bệnh sốt Dengue và
sốt rét) do biến đổi khí hậu ảnh hưởng tới sự phát triển của loài côn trùng.
Điều này đã xảy ra với một loại bọ chét ở Đức, trong những năm qua chúng
đã phát triển dữ dội và gia tăng truyền bệnh Boreliose nguy hiểm, điều mà
theo nhiều nhà khoa học là do biến đổi khí hậu gây ra. Theo nghiên cứu của
tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2002 thì hàng năm có khoảng 150.000
người chết vì khí hậu nóng, phần lớn họ chết vì tim mạch, tiêu chảy, sốt rét
và những bệnh truyền nhiễm khác hoặc do thiếu ăn [35].
20
Sự gia tăng các hiện tượng thời tiết bất thường do ảnh hưởng của biến
đổi khí hậu cũng gây ta nhiều tổn thất cho thế giới. Theo các quan chức Liên
hợp quốc, thiệt hại do hạn hán và bão lụt gây ra trong năm 2005 lên tới 210
tỷ USD và có thể lên tới hàng nhàn tỷ USD vào năm 2040. Trong năm 2006,
thiệt hại do cơn báo Katrina tại Hoa Kỳ đã lên tới 120 tỷ USD. Tại Châu
Phi, riêng nạn hạn hán và lụt lội diễn ra ở Êtôpia và Xooomali đã làm cho
280.000 người mất nhà ở, gây ảnh hưởng tới cuộc sống của hơn 3 triệu
bình năm ở Việt Nam đã tăng lên 0,7
0
C.
- Lượng mưa: Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa
trung bình năm trong 9 thập kỷ vừa qua (1911-2000) không rõ rệt theo các
thời kỳ và trên các vùng khác nhau: có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn
giảm xuống.
- Mực nước biển: Theo số liệu quan trắc trong khoảng 50 năm qua ở
các trạm Cửa Ông và Hòn Dấu, mực nước biển trung bình đã tăng lên
khoảng 20 cm, phù hợp với xu thế chung của tòan cầu.
- Bão: Vào những năm gần đây, số cơn bão có cường độ mạnh nhiều
hơn, quỹ đạo bão dịch chuyển dần về các vĩ độ phía nam và mùa bão kết
thúc muộn hơn, nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển dị thường hơn.
Xu thế biến đổi khí hậu ở Việt Nam
- Nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng lên 3
0
C vào năm 2100.
- Lượng mưa có xu thế biến đổi không đồng đều giữa các vùng có thể
tăng ( từ 0% đến 105) vào mùa mưa và giảm (từ 0% đến 5%) vào mùa khô.
Tính biến động của mưa tăng lên.
- Mực nước biển trung bình trên toàn dải bờ biển Việt Nam có thể
dâng lên 1 m vào năm 2100.
Tác động của biến đổi khí hậu tới Việt Nam
22
Những tác động nghiêm trọng nhất của biến đổi khí hậu đối với Việt
Nam có thể được tóm tắt như sau:
- Tác động của nước biển dâng:
Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km, hơn một triệu km
2