Bình luận các nguyên tắc bảo hộ của công ước Berne 1986 về bảo hộ quyền tác giả - Pdf 33

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU…………………………………………………………………………………………..1
I-Khái quát chung…………………………………………………………………………...........1
1.1.Sơ lược sự ra đời của Công ước Berne……………………………………………………....1
1.2. Một số khái niệm…………………………………………………………………………..…1
1.2.1. Quyền tác giả…………………………………………………………….…………….….1
1.2.2. Bảo hộ quyền tác giả……………………………………………………….………….….2
II- Nguyên tắc bảo hộ của Công ước Berne 1886 về bảo hộ quyền tác giả……………….……2
2.1. Nguyên tắc đối xử quốc gia(National treatment)……………………….…………..…….2
2.2. Nguyên tắc bảo hộ độc lập (Independence of Proctection).............................................3
2.3. Nguyên tắc bảo hộ tự động (Automatic Protection).........................................................4
2.4. Nguyên tắc “bảo hộ tối thiểu”……………………………………………………….………..5
III- Vấn đề thực thi công ước Berne 1886 về bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam thực trạng và
phương hướng hoàn thiện…………………………………………………………………………5
3.1. Thực trạng……………………………………………………………………….………….5
3.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi công ước tại Việt Nam…………..….6

KẾT LUẬN…………………………………………………………………………………………7

1


MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại, sở hữu trí tuệ ngày càng đóng vai
trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế quốc tế cũng như kinh tế mỗi quốc gia. Trong
đó, công ước Berne năm 1886 về bảo hộ quyền tác giả là một điều ước quốc tế đa phương quan
trọng mang tính chất toàn cầu về quyền tác giả.Và với việc tham gia vào Công ước Berne đã mở ra
một trang mới với nhiều triển vọng cho nước ta trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Nhận thức tầm quan
trọng của Công ước Berne 1886 về bảo hộ quyền tác giả, nhóm chúng em đã chọn đề bài số 10
“Bình luận các nguyên tắc bảo hộ của công ước Berne 1986 về bảo hộ quyền tác giả ” làm đề tài

1.2.2. Bảo hộ quyền tác giả.
Bảo hộ quyền tác giả có thể hiểu là những cách thức, biện pháp được các chủ thể có thẩm
quyền sử dụng với mục đích tạo ra hành lang pháp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của tác giả, chủ
sở hữu quyền tác giả chống lại các hành vi vi phạm. Bảo hộ quyền tác giả không chỉ bảo vệ lợi
ích chính đáng của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm mà còn tạo ra sự cân bằng quyền lợi giữa các chủ
thể đó.
IINguyên tắc bảo hộ của Công ước Berne 1886 về bảo hộ quyền tác giả.
2.1. Nguyên tắc đối xử quốc gia(National treatment).
Nguyên tắc đối xử quốc gia là một trong những nguyên tắc cơ bản và quan trọng trong số các
nguyên tắc bảo hộ của công ước Berne 1986 về bảo hộ quyền tác giả. Nguyên tắc này được ghi
nhận tại khoản 1 Điều 5 Công ước Berne “ Đối với các tác phẩm được Công ước này bảo hộ, các
tác giả được hưởng quyền tác giả ở các nước Liên hiệp ngoại trừ quốc gia gốc của tác phẩm,
những quyền lợi do Luật quốc gia liên hệ dành cho công dân nước đó trong hiện tại và trong
tương lai cũng như những quyền lợi mà công ước này đặc biệt quy định.”. Nguyên tắc này đặt ra
cho mỗi quốc gia thành viên dành sự bảo hộ cho các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học có
nguồn gốc từ các quốc gia thành viên khác tương tự như sự bảo hộ tác phẩm của công dân nước
mình và sự bảo hộ đó không kém thuận lợi, không thấp hơn sự bảo hộ đối với công dân thuộc quốc
gia mình. Ngoài ra, nguyên tắc này còn mở rộng phạm vi bảo hộ đối với các tác gỉa tuy không
mang quốc tịch của nước Liên hiệp nhưng có nơi cư trú thường xuyên tại một trong những nước
thành viên Liên hiệp theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 của Công ước “ Các tác giả không phải là
công dân của một nước thành viên của Liên hiệp nhưng lại cư trú thường xuyên ở trong một
những nước trên, theo mục đích của công ước cũng được coi như là tác giả công dân nước thành
viên đó”. Khoản 3 Điều 5 công ước cũng ghi nhận: “ Việc bảo hộ trong quốc gia gốc do pháp luật
cuả quốc gia đó quy định. Tuy nhiên, khi tác giả không phải là công dân của quốc gia gốc của tác
phẩm được Công ước bảo hộ thì tác giả đó vẫn được hưởng trong quốc gia này những quyền như
tác giả công dân nước đó”. Thuật ngữ “quốc gia gốc” của tác phẩm được quy định tại khoản 4
Điều 5 Công ước Berne :

3


Khoản 3 Điều 5 Công ước Berne quy định: “ Sự bảo hộ trong quốc gia gốc do pháp luật
quốc gia đó quy định. Tuy nhiên, khi tác giả không phải là công dân của quốc gia gốc của tác
phẩm được Công ước này bảo hộ, thì tác giả đó được hưởng trong quốc gia gốc này những quyền
như tác giả công dân nước đó ”. Theo đó, nguyên tắc bảo hộ độc lập được hiểu là một tác phẩm
được bảo hộ không phụ thuộc vào việc tác phẩm đó có được bảo hộ hay không tại quốc gia gốc
4


của nó. Nói cách khác, một tác phẩm dù có hay không được bảo hộ ở quốc gia gốc nhưng nó vẫn
có thể được bảo hộ ở các quốc gia khác là thành viên của Liên hiệp với quy chế pháp lí theo về
bảo hộ quyền tác giả ở quốc gia này.
Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng có ngoại lệ về vấn đề thời hạn bảo hộ. Khoản 8 Điều 7
Công ước quy định: “Trong bất kỳ trường hợp nào thời hạn bảo hộ sẽ do quy định của luật pháp
của nước nơi sự bảo hộ được áp dụng. Tuy nhiên, trừ trường hợp Luật pháp của nước đó quy định
khác đi, còn không thì thời hạn bảo hộ sẽ không quá thời hạn được quy định ở quốc gia gốc của
tác phẩm”. Về nguyên tắc thời hạn bảo hộ của quốc gia sở tại đối với tác phẩm không chịu ảnh
hưởng bởi thời hạn bảo hộ của quốc gia gốc, nhưng trên thực tế nếu thời hạn bảo hộ tại quốc gia
gốc đã hết thì quốc gia thành viên có quyền từ chối bảo hộ tác phẩm khác mặc dù theo pháp luật
nước này thời hạn bảo hộ đối với tác phẩm đó vẫn còn. Ngoài ra, Công ước Berne cho phép các
quốc gia có thể dành cho tác giả là công dân nước mình những quyền lợi lớn hơn so với những
quyền lợi được quy định trong Công ước và không trái Công ước bằng cách quy định trong pháp
luật quốc gia hoặc ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế có liên quan.
Nguyên tắc đem lại cho các tác giả sự bảo hộ hiệu quả hơn, giúp họ lựa chọn các quy định có
lợi nhất cho mình nhằm đảm bảo lợi ích chính đáng cho pháp nhân và công dân có tác phẩm được
bảo hộ và đây cũng chính là sự bình đẳng về quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các nước thành viên
công ước.
2.3. Nguyên tắc bảo hộ tự động (Automatic Protection).
Nguyên tắc này được ghi nhận tại Khoản 2 điều 5 Công ước Berne “Sự thụ hưởng và thực
hiện các quyền này không lệ thuộc vào một thể thức, thủ tục nào; sự thụ hưởng và thực hiện này
hoàn toàn độc lập không phụ thuộc vào việc tác phẩm có được bảo hộ hay không ở Quốc gia gốc

toàn có quyền lựa chọn.Tuy nhiên, việc lựa chọn áp dụng các quyền này không đồng nghĩa với việc
tước bỏ việc hưởng các quyền kia. Theo Điều 19 và Điều 20 của công ước thì luật quốc gia của các
nước thành viên không được phép có quy định phân biệt đối xử đối với người nước ngoài thuộc diện
bảo hộ của công ước, bất luận thời điểm ban hành đạo luật. Công ước Berne còn cấm việc kí kết các
điều ước song phương về quyền tác giả giữa các nước thành viên hoặc giữa nước thành viên với
nước khác có thể làm ảnh hưởng đến “quyền bảo hộ tối thiểu” của tác giả nước ngoài mà Công ước
quy định. Đây là một trong những quy định nhằm đem lại cho các tác giả sự bảo hộ hiệu quả hơn,
giúp họ lựa chọn các quy định có lợi cho mình nhất.Bảo hộ tối thiểu là chuẩn mực chung, áp dụng
tại mọi quốc gia thành viên, được thể hiện tại các quy định của Công ước, đặc biệt là quy định về
các quyền của tác giả và thời hạn bảo hộ.
III-

Vấn đề thực thi công ước Berne 1886 về bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam thực trạng
và phương hướng hoàn thiện.
3.1. Thực trạng.

Trong những năm qua, chính sách bảo hộ quyền tác giả và các quyền liên quan đã phát huy
tác dụng tích cực. Nhiều hoạt động trong lĩnh vực văn hóa - thông tin, từ báo chí, xuất bản, điện
ảnh, nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật tạo hình đến phát thanh, truyền hình đã có ý thức tôn trọng
quyền tác giả và các quyền liên quan khi khai thác, sử dụng tác phẩm. Nhiều bộ, ngành, địa
phương đã có các chương trình triển khai thực thi cụ thể, hiệu quả hoạt động bảo hộ quyền tác giả
và các quyền liên quan. Nhiều chủ thể quyền đã áp dụng các biện pháp để tự bảo vệ quyền của
mình. Các tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan đã được hình thành và có các
hoạt động tích cực, hiệu quả. Trong năm 2003, mức độ vi phạm bản quyền phần mềm tại Việt
6


Nam lên tới 92%, đứng số một Thế giới trong bản xếp hạng các quốc gia có tỷ lệ sử dụng phần
mềm bị xâm phạm bản quyền nhiều nhất nhưng hiện nay đã giảm; 81% là con số máy tính tại Việt
Nam đang sử dụng “phần mềm lậu”. Con số này đã giảm 2% so với năm 2010 (83%), ước tính

Để nâng cao hiệu quả thực thi công ước Berne 1886 về bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam,
nhóm đưa ra một số kiến nghị sau:
7


+ Thứ nhất,hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền tác giả trong đó các dự thảo về sửa đổi
bộ luật dân sự năm 2005 và 1 số luật liên quan đến quyền tác giả cần đẩy nhanh tiến độ. Luật sở
hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung 2009 có hiệu lực từ ngày 1/1/2010 nhằm hoàn thiện pháp luật về
sở hữu trí tuệ nói chung và về quyền tác giả nói riêng. Tuy nhiên, luật sở hữu trí tuệ nước ta mới
chỉ quy định chung về thực thi quyền sở hữu trí tuệ nhưng các quy định này không trực tiếp chỉ ra
yêu cầu tổng quát được coi là tiêu chuẩn mà hệ thống thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở nước ta phải
đạt được yêu cầu trên cơ sở hài hòa các nguyên tắc chung của công ước Berne. Pháp luật dân sự
cần quy định về việc xác định hành vi vi phạm sở hữu trí tuệ, nâng cao vai trò của tòa án dân sự
trong việc giải quyết các tranh chấp về sở hữu trí tuệ, xác định rõ thẩm quyền vụ việc của tòa án
trong việc xét xử tranh chấp sở hữu trí tuệ. Trong luật hành chính, cần quy định theo hướng mở
rộng thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính trong bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho tòa án.
+Thứ hai, tăng cường tính hiệu quả của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thực thi
quyền tác giả. Để đạt hiệu quả trong việc thực thi quyền tác giả, cần đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên
môn về quyền tác giả cả trong phạm vi trong nước và nước ngoài, trước hết là đào tạo chuyên sâu về
pháp luật quyền tác giả cho đội ngũ cán bộ thông qua các lớp đào tạo chính quy, tại chức, lớp tập
huấn chuyên môn, thông qua các hội thỏa khoa học trong nước và quốc tế trong đó đặc biệt chú
trọng đến việc đào tạo ngoại ngữ. Bên cạnh đó, cần thành lập các cơ quan nhà nước thống nhất về sở
hữu trí tuệ và nước ta có thể học tập kinh nghiệm của các nước trên thế giới về vấn đề này.
+ Thứ ba, cần đấu tranh mạnh mẽ và kiên quyết với tình trạng vi phạm bản quyền. Để đảm
bảo hạn chế tới mức tối đa tình trạng vi phạm bản quyền tràn lan như hiện nay, pháp luật nước ta
cần phải quy định các chế tài trong lĩnh vực bảo hộ quyền tác giả mạnh hơn nữa và dư luận xã hội
cần phải tẩy chay không sử dụng các sản phẩm xuất bản mà không được sự đồng ý của tác giả,
không sử dụng các sản phẩm như băng, đĩa lậu,sách lậu...
+ Thứ tư, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo hộ quyền tác giả, giới
thiệu Công ước Berne tới công chúng để nâng cao ý thức cộng đồng về vai trò của sở hữu trí tuệ,

Nội, 2010.

9


3. Lê Thị thu, “ Bảo hộ quyền tác giả theo quy định của Công ước Berne và vấn đề thực thi

công ước tại Việt Nam”, Trường Đại học Luật Hà Nội - Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội, 2010.
4. Công ước Berne 1886 về bảo hộ quyền tác giả.
5.

/>
option=com_content&view=article&id=3621&catid=36:tin-s-hu-tri-tu&Itemid=54
6. Luật sở hữu trí tuệ năm 2005.

10




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status