1
MỞ ĐẦU
1. Lý do thực hiện đề tài:
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng tại Việt
Nam ngày càng trở nên quan trọng trong việc thúc đẩy sự sáng tạo, phát triển
nền kinh tế, văn hóa và trở thành điều kiện tiên quyết trong hội nhập quốc tế của
nước ta. Việc Việt tham gia công ước Berne hay Hiệp định TRIPS cùng với pháp
luật về sở hữu trí tuệ tại Việt Nam giúp Việt Nam cơ bản đã đáp ứng yêu cầu của
WTO nhưng việc bảo hộ trên thực tế vẫn còn nhiều bất cập. Sự vi phạm diễn ra
phổ biến, xếp chúng ta vào nước có tình trạng vi phạm quyền tác giả cao nhất
thế giới. Khắp các nơi đều bán và sử dụng các sản phẩm vi phạm quyền tác giả
đến nỗi không ai nghĩ đó là một hành vi phạm pháp và cần phải ngăn chặn. Thực
trạng này thật đáng báo động bởi theo hiến pháp nhà nước ta khuyến khích mọi
người nghiên cứu sáng tạo nhưng trên thực tế quyền lợi của họ lại không được
đảm bảo. Và càng ngày các tranh chấp trong lĩnh vực này càng nhiều nhưng
chúng ta lại chưa có kinh nghiệm để giải quyết. Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “
Một số vấn đề về bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam” để nghiên cứu những quy
định pháp luật tại Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả, từ đó tìm ra những giải
pháp đối với việc bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
Vấn đề quyền tác giả và bảo hộ quyền tác giả không phải đến bây giờ, tức
là khi Việt Nam gia nhập Công ước Berne, rồi trở thành thành viên chính thức
của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) mới là vấn đề nóng hổi. Cục bản
quyền tác giả văn học nghệ thuật Việt Nam đã có nhiều cố gắng nghiên cứu, tổ
chức nhiều cuộc hội thảo về vấn đề bảo hộ quyền tác giả, về hội nhập, về thực thi
Công ước Berne, về các Luật mới như Luật xuất bản, Luật sở hữu trí tuệ… Các
nhà xuất bản cũng rất quan tâm đến các vấn đề như mua bản quyền như thế nào,
ở đâu, bao nhiêu tiền, thời hạn bao lâu, quyền và nghĩa vụ ra sao.
thực tiễn bảo hộ quyền tác giả hiện nay tại Việt Nam. Từ đó tìm ra phương hướng
bảo hộ các tác phẩm trong thời gian tới, giảm tình trạng xâm phạm bản quyền tại
Việt Nam.
7. Kết cấu đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 2 chương:
Chương 1: Tổng quan về quyền sở hữu trí tuệ và quyền tác giả
Chương 2 : Thực trạng và những giải pháp đối với bảo hộ quyền tác giả của
Việt Nam
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ
QUYỀN TÁC GIẢ
1.1. Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ và quyền tác giả:
1.1.1. Khái niệm về quyền sở hữu trí tuệ
Sở hữu trí tuệ đang ngày càng trở thành một lĩnh vực được quan tâm. Trong
cuộc sống chúng ta rất nhiều vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ. Bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ ngày càng trở nên quan trọng trong việc thúc đẩy sự sáng tạo, phát triển
nền kinh tế, văn hóa và trở thành điều kiện tiên quyết trong hội nhập quốc tế của
mỗi quốc gia. Đối với nền kinh tế trong nước, làm tốt việc bảo hộ quyền sở hữu trí
tuệ là tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự sáng tạo, bảo đảm động lực thúc đẩy
sản xuất, kinh doanh và thương mại; khuyến khích nghiên cứu, phát triển công
nghệ, nâng cao chất lượng hàng hoá và tạo uy tín cho sản phẩm. Hệ thống sở hữu trí
tuệ mạnh sẽ có tác dụng tốt trong việc phát triển công nghệ và kinh doanh lành
mạnh, có vai trò tích cực đối với công cuộc phát triển kinh tế.
Điều 2 (8) của Công ước thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO)
Theo khoản 1, điều 4, Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009
(LSHTT) “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí
tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu
công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng”.
Ý tưởng về bảo hộ sở hữu trí tuệ mà trước tiên là quyền tác giả đã được ghi
nhận ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 (Điều 10, 12, 13). Nhà nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa đã thừa nhận quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản của
công dân, quyền nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học, nghệ thuật và bảo đảm
quyền tư hữu tài sản cùng quyền lợi của trí thức. Năm 1986 đánh dấu một mốc mới
trong hoạt động bảo hộ sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng: Chính
phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Nghị định 142/CP –
văn bản riêng biệt đầu tiên để điều chỉnh các quan hệ xã hội về quyền tác giả. Từ đó
đến nay còn có nhiều văn bản, sửa đổi thể hiện một bước tiến đáng kể trong hoạt
động lập pháp về lĩnh vực bảo hộ sở hữu trí tuệ.
Luật Sở hữu trí tuệ đã được Quốc hội Việt Nam thông qua năm 2005 và có
hiệu lực từ ngày 1-7-2006. Đặc biệt, khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức
Thương mại thế giới thì thực tiễn đặt ra những vấn đề bức bách đòi hỏi phải giải
quyết trước áp lực trong và ngoài nước về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, nhằm tạo
dựng hành lang pháp lý khuyến khích hoạt động sáng tạo có giá trị của công dân.
Trải qua một thời gian được áp dụng. Năm 2009, Luật sở hữu trí tuệ 2005 đã được
sửa đổi, bổ sung một số điều, để nhằm hoàn thiện hơn pháp luật về bảo hộ sở hữu trí
tuệ tại Việt Nam.
1.1.2. Khái niệm về quyền tác giả:
Theo nghĩa khách quan: Quyền tác giả là tổng hợp các quy phạm pháp luật
về quyền tác giả nhằm xác nhận và bảo vệ quyền tác giả, của chủ sở hữu quyền tác
5
giả, xác định nghĩa vụ của các chủ thể trong việc sử dụng các tác phẩm văn học,
Quyền tác giả là một bộ phận của quyền sở hữu trí tuệ, do vậy, quyền tác giả
có đầy đủ các đặc trưng của quyền sở hữu trí tuệ. Quyền sở hữu trí tuệ là một lĩnh
1 TS Lê Đình Nghị -TS.Vũ Thị Hải Yến, Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ, Nxb giáo dục Việt Nam, trang 23.
2 Khoản 2, điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005.
6
vực sở hữu đặc thù có đối tượng là các tài sản vô hình, tài sản phi vật thể hình thành
từ hoạt động sáng tạo của con người.
Với quyền tác giả, không thể dùng phương pháp khoanh vùng, cách ly như đối
với tài sản vật thể. Chúng ta có thể thấy rằng vấn đề quan trọng nhất đặt ra trong
quyền sở hữu trí tuệ không phải là vấn đề chiếm hữu, mà chính là vấn đề xác định ai
là người có quyền khai thác, sử dụng đối tượng sở hữu.Với quyền tác giả, ranh giới
giữa người tiêu dùng và "tên kẻ cắp" tương đối mong manh và còn phải có nhiều
tranh cãi. Việc khai thác khía cạnh thương mại của quyền tác giả nếu được sự cho
phép của tác giả thì là hợp pháp, nhưng không được cho phép là "ăn cắp".
Thứ nhất, Quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức sáng tạo, không bảo hộ
nội dung sáng tạo.
Quyền tác giả chỉ tập trung bảo vệ hình thức thể hiện tác phẩm, không
bảo vệ nội dung tác phẩm. Vì thế, quyền tác giả được phát sinh kể từ khi tác phẩm
được thể hiện dưới một hình thức nhất định. Pháp luật không bảo hộ quyền tác giả
tác phẩm khi nó mới chỉ là ý tưởng sáng tạo. Để được bảo hộ, ý tưởng sáng tạo đó
phải được thể hiện ra ngoài bằng một hình thức cụ thể, bằng âm thanh, lời nói, chữ
viết, hình khối, đường nét, màu sắc, ký hiệu... hoặc bất kỳ một phương tiện nào
khác. Mặt khác nếu hình thức thể hiện của một ý tưởng trùng với nội dung ý tưởng
đó, thì hình thức cũng không được bảo hộ. Quyền tác giả bảo hộ tác phẩm, còn tác
phẩm là sự hình thành một ý tưởng dưới một hình thức nhất định. Thí dụ cùng
một ý tưởng về tình yêu có các bài hát "Tình ca" của Hoàng Việt, "Hành khúc
Trên thực tế, cũng khó có được ranh giới rõ rệt giữa bảo hộ quyền tác giả và
bảo hộ các quyền khác thuộc lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Bảo hộ quyền tác giả có thể
phát sinh đối với cùng một sản phẩm hoặc công nghệ, đồng thời với những hình
thức khác của sở hữu trí tuệ; ví dụ, một sáng chế liên quan đến phần mềm máy tính
có thể được bảo hộ theo bằng độc quyền sáng chế, đồng thời mã phần mềm có thể
được bảo hộ theo quyền tác giả. Tương tự như vậy, quyền tác giả có thể bảo hộ một
tác phẩm nghệ thuật trong khi tác phẩm nghệ thuật đó cũng được bảo hộ dưới danh
nghĩa một kiểu dáng công nghiệp, cũng như quyền tác giả có thể bảo hộ một văn
bản trong khi văn bản đó còn là một bí mật thương mại.
1.1.4.
Phân biệt quyền tác giả với quyền sở hữu công nghiệp
Việc phân biệt quyền tác giả với quyền sở hữu công nghiệp không chỉ có ý
nghĩa lý luận mà còn có giá trị thực tiễn. Giá trị thực tiễn ít nhất của sự phân biệt
này là mọi người có thể nhận thấy, đối với một sản phẩm trí tuệ, con người sẽ được
hưởng cơ chế bảo hộ nào: bảo hộ quyền tác giả hay quyền sở hữu công nghiệp.
1.1.4.1. Sự khác biệt giữa hai lĩnh vực này thể hiện ở một số khía
cạnh:
- Thứ nhất, Bảo hộ tác phẩm hướng tới sự bảo hộ hình thức sáng tạo chứa
đựng nội dung tác phẩm thông qua các phương thức biểu hiện ngôn ngữ, màu sắc,
hình ảnh.. Do đó nội dung bảo hộ là việc cấm người khác nhân bản tác phẩm, không
được thay đổi nội dung tác phẩm nếu không được phép của tác giả. Còn bảo hộ các
đối tượng sở hữu công nghiệp hướng tới bảo hộ nội dung đối tượng, bảo hộ ý tưởng
bằng quy định cấm người khác sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu
hàng hóa… để sản xuất, kinh doanh thương mại.
- Thứ hai, Bảo hộ quyền tác giả phát sinh tự động, không đòi hỏi tác giả phải
thực hiện một thủ tục nào. Đăng ký bản quyền tại cơ quan nhà nước chỉ là chế độ
củng cố quyền lợi của tác gi. Nếu mà có tranh chấp thì không phải chứng minh bằng
chứng về quyền sở hữu đối với tác phẩm nữa. Quyền tác giả tự động phát sinh khi
trình áp dụng này phải đầu tư nhiều công sức, chi phí vật chất rất lớn từ phía nhà sản
xuất, từ phía chủ sở hữu. Các sản phẩm sáng tạo của con người phải trải qua rất nhiều
công đoạn, nhà sản xuất không biết chắc chắn liệu việc áp dụng này có đem lại thành
công cho họ hay không và rồi những sáng tạo có khi sẽ không được sử dụng.
- Trong việc xâm phạm quyền tác giả, gây thiệt hại về tinh thần quan trọng hơn
rất nhiều so với việc xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, bởi vì xâm phạm quyền
tác giả còn là sự xâm phạm đến uy tín sáng tạo nghệ thuật của tác giả. Như vậy xâm
phạm quyền tác giả thì người thực hiện hành vi xâm phạm phải bồi thường cả về vật
chất và tinh thần. Thiệt hại về tinh thần: thì không thể đưa ra được các phương pháp
10
toán học để đánh giá mức độ thiệt hại về uy tín sáng tạo nghệ thuật. Ngược lại,
trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp có thể tính toán được mức độ thiệt hại: bằng
cách xem xét lợi nhuận mà người thực hiện hành vi xâm phạm thu được do sử dụng
trái phép các đối tượng sở hữu công nghiệp của chủ sở hữu được nhà nước bảo hộ.
1.2. Các điều ước quốc tế trong việc bảo hộ quyền tác giả:
1.2.1. Các điều ước quốc tế:
Sự phát triển như vũ bão của kinh tế và khoa học kỹ thuật đã làm cho việc
bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ngày càng có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh
tế: vai trò và ảnh hưởng của các sản phẩm - tài sản trí tuệ ngày càng trở nên quan
trọng.
Trong giai đoạn hiện nay, khi mà các sản phẩm trí tuệ đã đóng vai trò quan
trọng đến như thế trong toàn bộ đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của nhân loại thì
việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nói chung, quyền tác giả nói riêng trên phạm vi
quốc tế càng trở nên cần thiết.
Nhận thức được vấn đề này, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) cùng
các quốc gia thành viên cũng quan tâm đến việc xây dựng hàng loạt các điều ước
quốc tế quan trọng trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ như: Công ước Berne về Bảo hộ
thương mại.
Trong một trăm năm đầu tiên kể từ khi Công ước Berne ra đời, sự phát triển
trong bảo hộ quyền tác giả đã lên phạm vi quốc tế. Trong một trăm năm đầu tiên
cũng diễn ra sự thiết lập và phát triển của quan hệ hợp tác giữa các quốc gia trong
lĩnh vực bảo hộ quyền tác giả. Trong suốt thế kỷ vừa qua, việc bảo hộ quyền tác giả
nói riêng và quyền sở hữu trí tuệ nói chung đã đạt được kết quả trên thực tế là nhiều
quốc gia thừa nhận vai trò của sở hữu trí tuệ trong thúc đẩy, kích thích đổi mới và
thành tựu về công nghệ, nghệ thuật.
1.2.2. Nội dung cơ bản của TRIPs, công ước BERNE
1.2.2.1. Hiệp định về những vấn đề liên quan đến thương mại của
Quyền sở hữu trí tuệ ( TRIPs).
Hiệp định được áp dụng với các nước thành viên của WTO nên đương nhiên
Việt Nam cũng phải tuân theo những quy định này. Hiệp định TRIPs không quy
định mức bảo hộ cụ thể mà đưa ra các tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu. Các nước vi
phạm sẽ bị đưa ra hội đồng giải quyết tranh chấp và sẽ bị áp dụng biện pháp trừng
phạt. Năm 1996, thoả thuận về hợp tác giám sát thực thi quyền sở hữu trí tuệ giữa
WIPO và WTO có hiệu lực, bao gồm việc hợp tác trong việc trợ giúp các thành
viên xây dựng luật về sở hữu trí tuệ…sao cho các thành viên có thể thoả mãn các
yêu cầu của TRIPs vào 1/1/2000.
TRIPs được hoạt động trên các nguyên tắc như:
Nguyên tắc Đãi ngộ quốc gia: Mỗi thành viên chấp nhận cho công dân của
các thành viên khác sự đối xử không kém thuận lợi hơn so với sự đối xử mà thành
viên đó dành cho công dân của mình trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Tuy
12
nhiên, nguyên tắc này cũng có những ngoại lệ, theo đó các thành viên có thể dựa
vào để miễn trừ nghĩa vụ tuân thủ hiệp định TRIPs. Trường hợp ngoại lệ quy định
cụ thể trong công ước BERNE.
13
Công ước BERNE cho phép tác giả được hưởng tác quyền suốt đời cộng thêm
tối thiểu 50 năm sau đó. Tuy nhiên các quốc gia được phép nâng thời hạn lên dài
hơn. Việc bảo hộ được xây dựng dựa trên các nguyên tắc:
Đối xử quốc gia: Nghĩa là cam kết dành cho các công dân của nhau sự đối xử
không kém thuận lợi hơn so với công dân nước mình.
Bảo hộ đương nhiên: Việc bảo hộ không lệ thuộc vào các thủ tục hình thức
như đăng ký, nộp lưu chiểu hoặc thủ tục tương tự.
Bảo hộ độc lập: Việc hưởng và thực thi quyền theo công tác là hoàn toàn độc
lập với những gì được hưởng tại nước xuất xứ của tác phẩm.
Bảo hộ tối thiểu: luật quốc gia thành viên quy định bảo hộ không thấp hơn
mức tối thiểu do công ước quy định 6.
1.3. Quyền tác giả tại Việt Nam
1.3.1. Quá trình hình thành pháp luật về quyền tác giả tại Việt Nam.
1.3.1.1. Pháp luật bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam trước khi gia
nhập WTO.
Trước khi Luật sở hữu trí tuệ 2005 ra đời việc thực thi quyền tác giả đã được
đặt ra và điều chỉnh bằng con đường luật pháp từ những năm 1990 rồi được quy
định trong Bộ luật dân sự 1995 và các văn bản liên quan khác.
Có thể nói rằng pháp luật về quyền tác giả ở thời kỳ này hầu như không đi
vào cuộc sống, tình trạng vi phạm bản quyền xảy ra thường xuyên và phổ biến.
Nguyên nhân không chỉ do pháp luật không đầy đủ mà chủ yếu do ý thức của mọi
người trong việc bảo hộ quyền tác giả chưa cao. Việc vi phạm diễn ở tất cả các đối
tượng bao gồm cả tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, phổ biến như phần
mềm máy tính, lĩnh vực âm nhạc và sách.
Trong giai đoạn này, lĩnh vực bảo hộ quyền tác giả còn khá mới mẻ ở Việt
Nam và hầu như chưa được chú trọng. Chỉ có rất ít văn bản pháp luật ban hành
trong giai đoạn này và việc thực thi nó không hiệu quả. Bước ngoặt đánh dấu việc
chủ sở hữu tác phẩm khi bị người khác xâm phạm quyền tác giả, quyền của chủ sở
hữu tác phẩm có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm hoặc cơ quan nhà nước
có thẩm quyền buộc người đó phải chấm dứt, xin lỗi, cải chính công khai bồi
thường thiệt hại”. Tuy nhiên có trường hợp sử dụng không bị coi là vi phạm, có thể
đó là hành vi sử dụng hạn chế (Điều 760, Điều 761)
Ngoài ra còn có quy định sơ lược về việc chuyển giao quyền, đăng ký bảo
hộ , thừa kế quyền tác giả .
Nhìn chung, pháp luật giai đoạn này còn những thiếu sót cần phải sửa đổi, bổ
sung. Trước hết là các biện pháp áp dụng đối với hành vi vi phạm chưa đủ mạnh.
Cụ thể, có một thiếu sót nghiêm trọng là đã không đưa ra được các hành vi nào bị
coi là đã không đưa ra được các hành vi vi phạm làm căn cứ cho việc xử lý. Vì thế
rất khó cho chủ sở hữu và cơ quan có thẩm quyền xem xét vụ việc. Không những
thế, Bộ luật dân sự 1995 chỉ có một điều khoản chung quy định cho chủ sở hữu có
15
quyền buộc người vi phạm chấm dứt hoặc nhờ đến sự can thiệp của nhà nước.
Không đưa ra các biện pháp cụ thể để có thể tiến hành bảo vệ quyền lợi của mình
khi bị vi phạm.
Khi đã có hành vi vi phạm, cũng không có một quy định riêng biệt nào về
biện pháp xử phạt và cơ quan tiến hành dẫn đến sự chồng chéo về thẩm quyền giữa
các cơ quan. Việc xử phạt đó sẽ không biết do cơ quan nào tiến hành và áp dụng
biện pháp hành chính, hình sự hay dân sự. Do đó sẽ rất khó khăn cho các chủ sở
hữu, tác giả khi muốn yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình. Cơ quan nhà nước cũng
không đủ căn cứ, dẫn đến đùn đẩy trách nhiệm. Một vụ vi phạm có thể có nhiều cơ
quan cùng giải quyết, chẳng hạn như: quản lý thị trường, cảnh sát kinh tế, thanh tra
khoa học công nghệ hoặc là UBND các cấp cả toà án.
Một vấn đề nữa là pháp luật trong giai đoạn này còn có những quy định chưa
phù hợp với luật pháp quốc tế. Cho đến thời điểm này đã có rất nhiều thay đổi, việc
không chỉ dựa vào một mình Bộ luật Dân sự mà tất yếu phải có được một Luật
chuyên môn riêng về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Sau bao ngày cố gắng thì cuối
cùng, Luật sở hữu trí tuệ (Luật số 50/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005) cũng
ra đời, và sau đó gần một năm, có thêm các Nghị định hướng dẫn thi hành cũng ra
đời, đó là:
- Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu
trí tuệ và quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ.
- Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền tác giả
và quyền liên quan.
- Năm 2009, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm
2009 (có hiệu lực từ 01/01/2010) được ban hành, nhằm khắc phục những hạn chế
trong Luật sở hữu trí tuệ 2005.
- Nghị định số 85/2011/NĐ-CP ngày 20/09/2011 về việc sửa đổi bổ sung một
số điều của nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2006 quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền tác
giả và quyền liên quan.
1.3.2.2. Các điều ước quốc tế về quyền tác giả Việt Nam đã tham gia
Để bảo hộ quyền tác giả có yếu tố nước ngoài và phù hợp hơn với pháp luật
quốc tế, đảm bảo quyền lợi của các chủ thể khi bảo hộ tác phẩm, đảm bảo quyền lợi
của các chủ thể khi bảo hộ tác phẩm của mình ở nước khác, Việt Nam đã ký kết
những điều ước sau:
-
Công ước Berne bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật.
Công ước Rome bảo hộ người biểu diễn nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức
phát sóng.
giả được quy định trong bộ luật dân sự 2005 ( từ điều 736 đến điều 743) và LSHTT
và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Đối tượng của quyền tác giả là các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa
học. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong
lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình
thức nào ( khoản 7, điều 4, LSHTT). Như vậy, sản phẩm lao động trí tuệ của con
người trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học được công nhận là tác phẩm khi
18
thỏa mãn hai điều kiện: (a) mang tính sáng tạo; (b) được thể hiện dưới hình thức vật
chất nhất định.
Theo quy định của pháp luật nước ta, những tác phẩm văn học, nghệ thuật,
khoa học được bảo hộ quyền tác giả ở nước ta được liệt kê tại Điều 14 LSHTT:
Điều 14. Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả
1. Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:
a) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm
khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;
b) Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;
c) Tác phẩm báo chí;
d) Tác phẩm âm nhạc;
đ) Tác phẩm sân khấu;
e) Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự
(sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh);
g) Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng;
h) Tác phẩm nhiếp ảnh;
i) Tác phẩm kiến trúc;
k) Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc,
công trình khoa học;
thanh, được thể hiện trên một chất liệu nhất định và có thể phân phối, truyền đạt tới
công chúng bằng các thiết bị kỹ thuật, công nghệ, bao gồm loại hình phim truyện,
phim tài liệu, phim khoa học, phim hoạt hình và các loại hình tương tự khác. 11
Tác phẩm tạo hình là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình
khối, bố cục như: hội hoạ, đồ hoạ, điêu khắc, nghệ thuật sắp đặt và các hình thức thể
hiện tương tự, tồn tại dưới dạng độc bản. Riêng đối với loại hình đồ hoạ, có thể được
thể hiện tới phiên bản thứ 50, được đánh số thứ tự có chữ ký của tác giả
Tác phẩm mỹ thuật là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình
khối, bố cục với tính năng hữu ích có thể gắn liền với một đồ vật hữu ích, được sản
7 Điều 10, NĐ 100/2006/NĐ-CP.
8 Điều 11, NĐ 100/2006/NĐ-CP.
9 Điều 12, NĐ 100/2006/NĐ-CP.
10 Điều 13, NĐ 100/2006/NĐ-CP.
11 Điều 41, NĐ 100/2006/NĐ-CP.
20
xuất hàng loạt bằng tay hoặc bằng máy như: biểu trưng; hàng thủ công mỹ nghệ;
hình thức thể hiện trên sản phẩm, bao bì sản phẩm.12.
Tác phẩm nhiếp ảnh là tác phẩm thể hiện hình ảnh của thế giới khách quan
trên vật liệu bắt sáng hoặc trên phương tiện mà hình ảnh được tạo ra hay có thể
được tạo ra bằng bất cứ phương pháp kỹ thuật nào (hoá học, điện tử hoặc phương
pháp khác)13.
Hình ảnh tĩnh được lấy ra từ một tác phẩm điện ảnh hay tương tự như điện ảnh
không được coi là tác phẩm nhiếp ảnh mà là một phần của tác phẩm điện ảnh đó.
Tác phẩm kiến trúc là các bản vẽ thiết kế dưới bất kỳ hình thức nào thể hiện ý
tưởng sáng tạo về ngôi nhà, công trình xây dựng, quy hoạch không gian (quy hoạch
xây dựng) đã hoặc chưa xây dựng. Tác phẩm kiến trúc bao gồm các bản vẽ thiết kế
các tư liệu dưới dạng điện tử hoặc dạng khác.
Việc bảo hộ quyền tác giả đối với sưu tập dữ liệu không bao hàm chính các tư
liệu đó, không gây phương hại đến quyền tác giả của chính tư liệu đó17.
Danh sách các tác phẩm được nêu trong Điều 14 LSHTT không cố định, và
số loại hình tác phẩm sẽ ngày một tăng với sự ra đời của các phương tiện lưu trữ và
truyền tải thông tin hiện đại, thí dụ như cơ sở dữ liệu, truyền thông đa phương
diện, hay xa lộ thông tin. Các loại hình này được tập trung thành ba nhóm: các
tác phẩm văn học, khoa học và nghệ thuật. Tuy vậy cũng có những trường hợp
một tác phẩm vừa là một tác phẩm khoa học, vừa là một tác phẩm nghệ thuật,
thí dụ một bộ phim tài liệu khoa học. Sự sáng tạo của một tác giả không nhất thiết
phải độc lập với sự sáng tạo của tác giả khác. Các tác phẩm dẫn xuất từ những tác
phẩm khác cũng được bảo hộ dưới dạng quyền tác giả, thí dụ tác phẩm dịch,
phóng tác, cải biên, chuyển thể, tuyển chọn, sưu tầm 18.
Việc liệt kê các loại hình sáng tạo theo hướng kế thừa một tác phẩm đã có
này không tự loại trừ lẫn nhau, có nghĩa là một tác giả có thể vừa chuyển thể,
vừa cải biên một tác phẩm đã có. Vở cải lương "Nghêu Sò Ốc Hến" do soạn giả
Trần Hữu Trang cải biên và chuyển thể từ một vở tuồng cổ đã có trong dân
gian.
Tuy rằng quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức sáng tạo, không bảo hộ nội
dung sáng tạo, song không phải với bất kỳ nội dung nào thì tác phẩm cũng sẽ
được bảo hộ. Luật ở nước nào cũng quy định một tiêu chuẩn tối thiểu về mặt
nội dung để được bảo hộ. Một hình vẽ vô ý thức trên tường, một bài báo xuyên tạc
sự thật không thể được bảo hộ.
Điều 15. Các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả
1. Tin tức thời sự thuần tuý đưa tin.
2. Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực
tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó.
17 Điều 22, Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009.
18 Vụ pháp luật quốc tế, Bình luận về quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam, NXB Tư pháp 2005, trang 37
dân gian ở địa phương nói trên bị mai một. Chính vì vậy, tại Điều 23 LSHTT có
qui định người sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian phải dẫn chiếu
xuất xứ của loại hình tác phẩm đó và bảo đảm giữ gìn giá trị đích thực của tác
phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. Điều luật này tuy vậy vẫn còn một số điểm
chưa rõ như “thế nào là giá trị đích thực”, nhạc sỹ Trần Tiến sử dụng các làn điệu
19 Lê Nết, tài liệu bài giảng Quyền sở hữu trí tuệ, NXB. Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh 2006,
trang 58.
23
dân ca như lý qua cầu, lý ngựa ô để sáng tác bài hát có ảnh hưởng đến “giá trị đích
thực” của các làn điệu dân ca đó không, v.v.
1.3.2.1.2. Tác phẩm do người nước ngoài sáng tạo
Hiện tại Việt Nam đã gia nhập Công ước Berne, nên các tác phẩm nước
ngoài (là thành viên của Công ước Berne) sẽ được bảo hộ tại Việt Nam. Ngoài
ra, Nhà nước CHXHCN Việt Nam còn bảo hộ các tác phẩm của người nước
ngoài lần đầu tiên được hình thành, công bố, phổ biến tại Việt Nam, với điều kiện
là chúng phải thoả mãn các điều kiện về nội dung (không phải là tác phẩm phản
động, văn hoá đồi trụy, v.v.). Đối với các tác phẩm được hình thành tại một nước
có Hiệp định tương trợ về bảo hộ bản quyền (như Mỹ), hay do công dân các nước
đó sáng tạo, thì các tác phẩm này cũng được bảo hộ tại Việt Nam như các tác
phẩm Việt Nam, thí dụ như Hiệp định với Hoa Kỳ (có hiệu lực từ ngày
23/11/1998) và với Thụy Sỹ.
Những vướng mắc:
Rất nhiều các tác phẩm lập thể (tác phẩm hình khối hay tác phẩm trên
không gian ba chiều) hiện nay đã được qui định bảo hộ, thí dụ như tác phẩm điêu
khắc, hay tác phẩm mỹ thuật ứng dụng. Tuy nhiên các qui định pháp luật vẫn
chưa nêu ra được tiêu chí rõ ràng xem các tác phẩm nào thì nên bảo hộ, tác phẩm
nào thì không được bảo hộ. Thí dụ, chiếc xe DREAM II có được bảo hộ quyền
là tác phẩm thể loại gì và có thể được bảo hộ dưới dạng quyền tác giả không.
Thiết nghĩ, qui định hiện tại của Bộ Văn hoá Thông tin (tác phẩm kiến trúc
chỉ là bản vẽ kiến trúc chứ không phải là toà nhà) là chưa đúng với qui định của
Công ước Berne. Sau khi gia nhập Công ước Berne, Hoa Kỳ đã phải sửa định
nghĩa về tác phẩm kiến trúc trong Luật về Quyền tác giả Tác phẩm Kiến trúc
1990. Điều 102(a) định nghĩa “tác phẩm kiến trúc bao gồm kiểu dáng toà nhà
được thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào, kể cả toà nhà, bản vẽ kiến trúc hay thiết
kế.” Tất nhiên, không phải mọi chi tiết trong toà nhà đều được bảo hộ dưới dạng
quyền tác giả, mà chỉ những chi tiết mang tính nguyên gốc có tính trang trí nhiều
hơn tính ứng dụng mới được bảo hộ mà thôi. Ngoài ra, việc bảo hộ quyền tác giả
đối với những phần có tính nguyên gốc của toà nhà không có nghĩa là khách du
lịch không có quyền chụp ảnh toà nhà đó, hay hoạ sỹ không có quyền vẽ và trưng
bày tranh vẽ toà nhà này (trừ những công trình bí mật hay bị cấm chụp ảnh). Các
hành vi trên không ảnh hưởng đến quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.
Ngoài ra, việc một toà nhà cổ do một kiến trúc sư nổi tiếng thiết kế không phải là
lý do để chủ nhà không được phép sửa đổi, đập phá hay nâng cấp toà nhà theo ý
muốn của mình. Đó là vì chủ nhà đương nhiên được coi như chủ sở hữu quyền tác
giả đối với tác phẩm kiến trúc là toà nhà. Câu hỏi thú vị được đặt ra là: nếu trong
hợp đồng thiết kế, chủ nhà do không hiểu luật, đã chấp nhận để công ty thiết kế
được làm chủ sở hữu tác phẩm kiến trúc thì chủ nhà sau này có quyền sửa chữa
25
nhà không?20. Vấn đề bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc hiện nay
vẫn còn nhiều điều cần phải nghiên cứu thêm.
1.3.2.2.
Chủ thể của quyền tác giả