Về chế định bảo hộ quyền tác giả theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi bổ sung 2009) - Pdf 42

BÀI TẬP TIỂU LUẬN MÔN LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ
CHỦ ĐỀ 5: ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ THEO
QUY ĐỊNH CỦA LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2005 (SỬA
ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2009) – NHỮNG BẤT CẬP VÀ ĐỊNH
HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thời đại hiện nay, quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả
nói riêng đang được coi là những biện pháp hữu hiệu nhất giúp bảo vệ quyền lợi
chính đáng cho các tác giả, chủ sở hữu tác phẩm khỏi các hành vi xâm phạm của
kẻ xấu; tác động mạnh mẽ để phát huy sự sáng tạo của mỗi cá nhân, tổ chức,
doanh nghiệp cho ra đời nhiều tác phẩm trí tuệ mới; góp phần không nhỏ trong
công cuộc phát triển kinh tế và phát huy các giá trị văn hóa, tinh thần của đất
nước. Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở nước ta, cùng với công
cuộc hội nhập không ngừng với các nước trên thế giới, ngày càng xuất hiện
nhiều các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, quyền tác giả với thủ đoạn hết
sức tinh vi và xảo quyệt. Chính vì vậy, hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ,
bảo vệ quyền tác giả luôn được đánh giá cao và quan tâm thực hiện. Điều đó làm
động lực thúc đẩy em đi vào tìm hiểu đề tài: “Điều kiện bảo hộ quyền tác giả
theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009) –
những bất cập và định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật”

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lý luận về quyền tác giả
1. Khái niệm và đặc điểm của quyền tác giả
1.1 Khái niệm quyền tác giả


Ở Việt Nam, quyền tác giả là phạm vi những quyền mà pháp luật thừa
nhận và bảo hộ đối với tác giả có tác phẩm. Theo điều 18, Luật SHTT 2005 (sửa
đổi, bổ sung 2009) quy định quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền
tài sản đối với tác phẩm. Từ đây, có thể hiểu quyền tác giả theo hai hướng:

phẩm của người khác. Tác phẩm sẽ được nhiều người biết đến, sử dụng nếu có
nội dung phong phú, hình thức thể hiện sáng tạo được kết hợp bởi giá trị nghệ
thuật, khoa học và kinh nghiệm nghề nghiệp của tác giả.
Thứ hai, quyền tác giả thiên về việc bảo hộ hình thức thể hiện tác phẩm
Pháp luật về quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức chứa đựng tác phẩm khi
nó được tạo ra và thể hiện dưới hình thức nhất định mà không bảo hộ nội dung
sáng tạo tác phẩm. Quyền tác giả chỉ được giới hạn trong phạm vi thể hiện cụ
thể của tác phẩm. Những ý tưởng chỉ có trong suy nghĩ của tác giả mà chưa
được thể hiện ra bên ngoài thì sẽ không được công nhận và bảo hộ.
Thứ ba, hình thức xác lập quyền theo cơ chế bảo hộ tự động.
Quyền tác giả được xác lập dựa vào chính hành vi tạo ra tác phẩm của tác
giả, không phụ thuộc vào thể thức, thủ tục nào.Từ thời điểm tạo ra tác phẩm, tác
giả được bảo hộ về mặt pháp lý và có các quyền của người sáng tạo mà không
phụ thuộc thủ tục đăng ký. Quyền tác giả được phát sinh mặc nhiên và nó thể
hiện dưới hình thức khách quan mà người khác có thể nhận biết được. Như vậy,
việc đăng ký quyền tác giả không phải căn cứ phát sinh quyền tác giả mà chỉ là
chứng cứ chứng minh khi có tranh chấp.
Thứ tư, quyền tác giả không được bảo hộ một cách tuyệt đối
Đối với tác phẩm đã được công bố, phổ biến và tác phẩm không bị cấm
sao chụp thì cá nhân, tổ chức được phép sử dụng tác phẩm của người khác nếu
việc sử dụng đó không nhằm mục đích kinh doanh, ảnh hưởng đến việc sử dụng,


khai thác bình thường của tác phẩm, không xâm hại đến các quyền, lợi ích hợp
pháp khác của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả.
1.3. Ý nghĩa quyền tác giả
Thứ nhất, bảo hộ quyền lợi của người sáng tạo tri thức, ngăn cấm người
khác thương mại hóa tri thức của mình, chống lại sự lạm dụng, khai thác và sưu
tầm làm tổn hại đến giá trị đích thực của tác phẩm.
Thứ hai, ngoài việc công nhận về nguồn gốc sáng tạo ra tác phẩm, đây

không được lấy bất kì lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như
nhau về các quyền nhân thân và tài sản” (khoản 1, điều 3). Nguyên tắc này là
kim chỉ nam định hướng cho tất cả các ngành luật quy định về quyền tác giả nói
chung và quyền của người sáng tác văn học, nghệ thuật nói riêng không phân
biệt độ tuổi, trình độ văn hóa, giới tính... Tác giả hoàn toàn có quyền định đoạt
các quyền của mình có được từ tác phẩm. Pháp luật về quyền tác giả luôn bảo
đảm cho các chủ thể sử dụng, khai thác tác phẩm một cách hiệu quả nhất. Bất kể
hành vi nào xâm phạm đến quyền tác giả đều sẽ bị đưa ra trước pháp luật xử lý
một cách nghiêm minh, nhằm bảo vệ lợi ích cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác
giả cũng như đảm bảo chất lượng sản phẩm đến tay người tiêu dùng.
2.3. Nguyên tắc bảo đảm không trùng lặp tác phẩm
Do đặc tính vô hình của các đối tượng sở hữu trí tuệ nên quyền chiếm hữu
đối tượng này là không có ý nghĩa và nó luôn bị đe dọa đặt trong tình trạng có
thể bị đánh cắp, sao chép bất cứ lúc nào. Khi tác phẩm hay công trình khoa học
đã hoàn thành và được công chúng biết đến thì việc sao chép sử dụng thành quả
lao động một cách bất hợp pháp lại rất dễ dàng. Do vậy, nguy cơ bị xâm phạm
rất lớn kéo theo việc xác định thiệt hại rất khó khăn, phức tạp. Điều này làm ảnh
hưởng đến quyền lợi của người sáng tạo, thậm chí kìm hãm sự phát triển. Nội
dung của nguyên tắc thể hiện qua các ý sau:


Thứ nhất, tác phẩm được bảo hộ phải có tính sáng tạo, không phải là cách
sắp xếp diễn đạt đơn thuần, bắt trước cách diễn đạt thể hiện ngôn từ, màu sắc
khuôn mẫu của tác phẩm khác.
Thứ hai, tác phẩm được bảo hộ phải là bản gốc (bản đầu tiên của tác phẩm
do tác giả sáng tạo ra).
Thứ ba, bảo đảm tính toàn vẹn của tác phẩm. Trong các quyền nhân thân
của tác giả có quyền bảo vệ tính toàn vẹn của tác phẩm. Xâm phạm đến sự toàn
vẹn của tác phẩm là xâm phạm đến quyền nhân thân của tác giả. Không ai có
quyền thay đổi tác phẩm với bất cứ lý do hay mục đích nào mà không có sự

Chủ thể của quyền tác giả được hiểu là các cá nhân, tổ chức có các quyền
nhất định đối với một tác phẩm, bao gồm tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả.
4.1. Tác giả của tác phẩm
Chỉ có thể là con người, bằng lao động trí tuệ sáng tạo của mình trực tiếp
tạo ra tác phẩm văn học, nghệ thuật, các công trình khoa học mới có thể được
coi là tác giả. Trước đây, trong Bộ luật dân sự 2005, tại điều 736 có đề cập đến
khái niệm tác giả bao gồm:
“1. Người sáng tạo tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học (sau đây gọi
chung là tác phẩm) là tác giả của tác phẩm đó. Trong trường hợp có hai người
hoặc nhiều người cùng sáng tạo ra tác phẩm thì những người đó là các đồng
tác giả.
2. Người sáng tạo ra tác phẩm phái sinh từ tác phẩm của người khác, bao
gồm tác phẩm được dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng
tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn là tác giả của tác
phẩm phái sinh đó.”
Cho đến thời điểm hiện tại, khi Bộ luật dân sự 2005 đã hết hiệu lực, Bộ
luật dân sự 2015 hiện hành đã rút gọn, không còn đi sâu vào các luật chuyên


ngành cho nên khái niệm này không còn được sử dụng ở Bộ luật dân sự 2015
nữa. Tuy vậy, một văn bản khác đang có hiệu lực là Nghị định 100/2006/ NĐCP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật
Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan ở khoản 1 điều 8 vẫn có quy
định về khái niệm tác giả. Theo đó: Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một
phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học bao gồm:
a) Cá nhân Việt Nam có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả;
b) Cá nhân nước ngoài có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật
chất nhất định tại Việt Nam;
c) Cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam;
d) Cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo Điều ước
quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên.

Nhà nước.

II. Điều kiện bảo hộ quyền tác giả theo quy định của Luật Sở hữu
trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009)
1. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có tác phẩm được bảo hộ quyền
tác giả
Theo quy định tại điều 13, Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009) thì
điều kiện về tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có tác phẩm được bảo hộ là:
“1. Tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm người
trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả quy định tại các điều
từ Điều 37 đến Điều 42 của Luật này.
2. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả quy định tại khoản 1 Điều này gồm
tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công


bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở bất kỳ nước nào hoặc
được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày
tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ở nước khác; tổ chức, cá nhân nước
ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế về quyền tác
giả mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.”
Như vậy, theo Luật SHTT, để tác phẩm của mình được bảo hộ, tác giả,
chủ sở hữu quyền tác giả phải có những điều kiện:
Thứ nhất, là người trực tiếp lao động sáng tạo ra tác phẩm và các chủ sở
hữu quyền tác giả đã nêu trên.
Thứ hai, phải là tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc tổ chức, cá nhân nước
ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam hoặc được công bố
đồng thời ở Việt Nam trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được
công bố lần đầu ở nước khác hoặc tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm
được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Tác phẩm âm nhạc là tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong
bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác có hoặc không có lời, không phụ thuộc
vào việc trình diễn hay không trình diễn.
Tác phẩm sân khấu là tác phẩm thuộc các loại hình nghệ thuật biểu diễn,
bao gồm kịch (kịch nói, nhạc vũ kịch, ca kịch, kịch câm), xiếc, múa, múa rối và
các loại hình tác phẩm sân khấu khác.
Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự
là những tác phẩm được hợp thành bằng hàng loạt hình ảnh liên tiếp tạo nên
hiệu ứng chuyển động kèm theo hoặc không kèm theo âm thanh, được thể hiện
trên một chất liệu nhất định và có thể phân phối, truyền đạt tới công chúng bằng
các thiết bị kỹ thuật, công nghệ, bao gồm loại hình phim truyện, phim tài liệu,
phim khoa học, phim hoạt hình và các loại hình tương tự khác.


Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng. Tác phẩm tạo hình là tác phẩm
được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục như: hội hoạ, đồ hoạ,
điêu khắc, nghệ thuật sắp đặt và các hình thức thể hiện tương tự, tồn tại dưới
dạng độc bản. Riêng đối với loại hình đồ hoạ, có thể được thể hiện tới phiên bản
thứ 50, được đánh số thứ tự có chữ ký của tác giả. Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng
là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục với tính
năng hữu ích có thể gắn liền với một đồ vật hữu ích, được sản xuất hàng loạt
bằng tay hoặc bằng máy như: biểu trưng; hàng thủ công mỹ nghệ; hình thức thể
hiện trên sản phẩm, bao bì sản phẩm.
Tác phẩm nhiếp ảnh là tác phẩm thể hiện hình ảnh của thế giới khách
quan trên vật liệu bắt sáng hoặc trên phương tiện mà hình ảnh được tạo ra hay có
thể được tạo ra bằng bất cứ phương pháp kỹ thuật nào (hoá học, điện tử hoặc
phương pháp khác). Hình ảnh tĩnh được lấy ra từ một tác phẩm điện ảnh hay
tương tự như điện ảnh không được coi là tác phẩm nhiếp ảnh mà là một phần
của tác phẩm điện ảnh đó.
Tác phẩm kiến trúc là các bản vẽ thiết kế dưới bất kỳ hình thức nào thể

Quyền tác giả là quyền của cá nhân tổ chức đối với tác phẩm do mình
sáng tạo ra hoặc sở hữu. Tuy nhiên, không phải bất cứ tác phẩm nào cũng được
coi là đối tượng bảo hộ của quyền tác giả. Các đối tượng không được bảo hộ
quyền tác giả được quy định tại Điều 15 Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung
2009).
3.1.Tin tức thời sự thuần túy đưa tin.
Theo khoản 1 Điều 21 Nghị định 100/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, luật sở hữu trí tuệ về quyền
tác giả và quyền liên quan: “Tin tức thời sự thuần tuý đưa tin quy định tại khoản
1 Điều 15 của Luật Sở hữu trí tuệ là các thông tin báo chí ngắn hàng ngày, chỉ
mang tính chất đưa tin không có tính sáng tạo”. Tin tức thời sự đưa tin sẽ được


bảo hộ nếu có thêm sự đánh giá, nhận xét, bình luận thể hiện quan điểm của cá
nhân, sự sáng tạo của tác giả và được thể hiện dưới dạng vật chất nhất định thì
được pháp luật bảo hộ.
Có thể hiểu đó là những tin tức mang tính chất “thời sự”, cần được
chuyển đến công chúng nhanh nhất, chỉ là những bản tin, những số liệu, phản
ánh các thông tin sự thật khách quan như: dịch bệnh, tai nạn, sự kiện diễn ra
trong và ngoài nước… Những tin tức này được thu thập, tổng hợp và phản ánh
một cách chân thực những sự vật sự việc khách quan, mà không phải là sự thể
hiện sự sáng tạo, hay những nét riêng khác biệt nào đó của cá nhân, hay chủ thể
nào đó. Do vậy, chúng không phải là những đối tượng được bảo hộ quyền tác
giả.
Trong trường hợp đăng tải lại tin tức thời sự không cần phải xin phép
bằng văn bản. Tuy nhiên, cần có sự trích dẫn nguồn cụ thể, vừa đảm bảo tính
chính xác của thông tin, vừa thể hiện sự tôn trọng đối với tác giả. Song nếu việc
đăng tải lại thông tin gây thiệt hại cho tác giả thì phải bồi thường cho tác giả
theo quy định về dân sự.
Mặc dù vậy, những tin tức thời sự đưa tin này có thể được bảo hộ nếu như

những văn bản hành chính cũng chứa đựng những quy tắc xử sự chung, có tính
bắt buộc, nhưng với phạm vi nhỏ hơn, có thể là áp dụng trong các cơ quan nhà
nước, trong các tổ chức, hay đơn vị vũ trang… hoặc áp dụng cho một số đối
tượng như những người vi phạm hành chính…Bởi vậy, các văn bản hành chính,
các văn bản thuộc lĩnh vực tư pháp đều không thuộc đối tượng được bảo hộ
quyền tác giả.
Tương tự như vậy, bản dịch chính thức của các văn bản đó cũng không
được bảo hộ quyền tác giả, bởi nó chỉ là bản dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn
ngữ khác, mặc dù được thể hiện dưới hình thức nhất định nhưng nó không thể
hiện được tính sáng tạo của tác giả, đồng thời nếu được bảo hộ, thì nó sẽ làm
cho khả năng tiếp cận của mọi người đến với các văn bản này bị thu hẹp đi,
không đảm bảo được mục đích ban đầu của các văn bản này.


Đây là những dạng văn bản được cơ quan nhà nước dùng để truyền tải
những thông tin, chính sách, quy định của nhà nước đến đông đảo quần chúng
nhân dân cũng như việc phổ biến rộng rãi để dân biết mà làm theo. Nếu được
bảo hộ, các văn bản pháp luật, văn bản hành chính không thể phổ biến một cách
dễ dàng. Hơn nữa, các văn bản này không thể hiện tính sáng tạo cũng như quan
điểm cá nhân.
3.3. Quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý,
số liệu.
Cũng giống như hai đối tượng trên, quy trình hệ thống, phương pháp hoạt
động, khái niệm, nguyên lý, số liệu không được bảo hộ dưới dạng quyền tác giả.
Bởi nó chỉ mang ý nghĩa cung cấp thông tin đúng sự thật và cần thiết phải có sự
phổ biến rộng rãi mà không phải gặp bất cứ cản trở nào.
Tóm lại, tác phẩm chỉ được bảo hộ khi đảm bảo đầy đủ hai yếu tố: tính
sáng tạo và được thể hiện dưới dạng vật chất nhất định. Thiếu một trong hai yếu
tố này, tác phẩm sẽ không được bảo hộ.


tác giả có thể là pháp nhân và tác phẩm đồng tác giả một cách chặt chẽ và cụ thể
hơn.
2. Về thuật ngữ “chủ sở hữu quyền tác giả”
Trong điều 36, Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009) đã định nghĩa:
“Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ
các quyền tài sản quy định tại Điều 20”.
Định nghĩa trên đây là chưa chính xác, bởi lẽ nội dung của quyền tác giả
được quy định tại Điều 18 bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản, như vậy
về mặt hình thức chủ sở hữu quyền tác giả phải nắm toàn bộ nội dung quyền tác
giả (bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản). Nhưng như Điều 36 đã định
nghĩa thì cho thấy chủ sở hữu quyền tác giả chỉ nắm quyền tài sản chứ không có
quyền nhân thân.


Vì vậy, em cho rằng các nhà làm luật cần hoàn thiện vấn đề này theo
hướng sửa đổi thuật ngữ “chủ sở hữu quyền tác giả” thành thuật ngữ “chủ sở
hữu tác phẩm” sẽ phù hợp hơn về mặt hình thức và ngữ nghĩa.
3. Về thuật ngữ “bản sao tác phẩm”
Khoản 4, Điều 4, Nghị định số 100/2006/NĐ-CP quy định chi tiết: “Bản
sao tác phẩm là bản sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp một phần hoặc toàn bộ tác
phẩm”. Tuy nhiên, không thể coi bản sao một phần tác phẩm là bản sao tác
phẩm được, chỉ có bản sao toàn bộ tác phẩm mới là bản sao tác phẩm. Bởi lẽ,
nếu quan niệm như vậy thì phần trích dẫn tác phẩm cũng bị coi là bản sao tác
phẩm. Pháp luật điều chỉnh phần trích dẫn tác phẩm và bản sao tác phẩm rất
khác nhau. Quyền trích dẫn tác phẩm không bị pháp luật ngăn cấm như đã quy
định tại Điều 25 của Luật SHTT.
Từ căn cứ trên, thiết nghĩ về vấn đề bản sao cần có quy định rõ hơn về
mức độ, giới hạn khi sao chép một tác phẩm đến bao nhiêu phần trăm? hoặc một
dấu hiệu pháp lý khác để chỉ ra bản sao một cách chính xác.


hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về
quyền tác giả và quyền liên quan, ngày 20 tháng 9 năm 2011.
7. http://moj.gov.vn/
8. http://www.chinhphu.vn/
9. http://vbpl.vn/
THUẬT NGỮ VIẾT TẮT TRONG BÀI
SHTT: Sở hữu trí tuệ





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status