xây dựng niềm tin đối với chủ nghĩa xã hội cho sinh viên trường cao đẳng tỉnh hưng yên - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

LUYỆN THỊ HOÀN

XÂY DỰNG NIỀM TIN ĐỐI VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
CHO SINH VIÊN
(QUA THỰC TIỄN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG Ở TỈNH HƯNG YÊN)

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2005


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

LUYỆN THỊ HOÀN

XÂY DỰNG NIỀM TIN ĐỐI VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
CHO SINH VIÊN
(QUA THỰC TIỄN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG Ở TỈNH HƯNG YÊN)

Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số:
5.01.02

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN ĐỨC BÁCH


năm tới ...................................................................................... 64
Kết luận ........................................................................................... 77
Danh mục tài liệu tham khảo ..........................................................79
Phụ lục .............................................................................................82


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hoạt động của con người là những hoạt động có ý thức, có mục đích và
vì những lợi ích nhất định. Một trong những hình thái ý thức của con người và
là niềm tin về một cái gì đó. Có nhiều loại niềm tin như: niềm tin tôn giáo,
niềm tin trong tình yêu, niềm tin khoa học, niềm tin lý tưởng v.v... Trong các
loại niềm tin đó đều hàm chứa một động lực tinh thần để từ đó thôi thúc con
người hành động với những mục đích khác nhau, với những căn cứ, biểu hiện
khác nhau, do đó với những tác dụng xã hội khác nhau và mức độ bền vững
khác nhau. Song, thực tế lịch sử cho thấy, những ai có niềm tin nào đủ cơ sở
khoa học và cơ sở thực tiễn thì niềm tin đó bền vững nhất. Niềm tin tôn giáo
của một bộ phận người đông đảo cũng tỏ ra bền vững, kế tiếp qua nhiều thế
hệ, qua hàng ngàn năm... Song, chắc chắn rằng, niềm tin tôn giáo không phải
là niềm tin khoa học, cho dù tôn giáo vẫn có thể tồn tại lâu dài như một nhu
cầu văn hoá tinh thần của một bộ phận nhân loại.
Nếu lòng tin của con người trên cơ sở khoa học và thực tiễn có sự bền
vững nhất thì lòng tin đối với chủ nghĩa xã hội với tư cách lòng tin vào một lý
tưởng cao đẹp của nhân loại cũng phải ngày càng đủ cơ sở khoa học và cơ sở
thực tiễn.
Thực tế lịch sử đã cho thấy, từ khi C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập chủ
nghĩa xã hội khoa học và nhất là nhờ đó mà V.I.Lênin và Đảng Cộng sản Nga
vận dụng, phát triển, lãnh đạo và tổ chức thành công cách mạng tháng Mười
Nga (1917), đặc biệt là khi hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới hình thành, phát
triển và có những thành tựu vĩ đại về mọi mặt trên thực tế thì niềm tin của

hiện đại hoá đất nước trong tình hình hiện nay đang đặt ra. Và, hơn thế nữa,
ngay bản thân việc nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên cả về tri thức khoa
học công nghệ, chuyên môn nghiệp vụ lẫn về phẩm chất đạo đức, lập trường

2


chính trị cộng sản chủ nghĩa... cũng chẳng những là vì yêu cầu của cách mạng
mà còn vì lợi ích của bản thân sinh viên và gia đình họ... trong sự phát triển
chung ngày càng cao của toàn dân tộc theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cộng
sản chủ nghĩa.
Ở đề tài này, những tư liệu thực tiễn mà chúng tôi khảo sát chỉ là thực
trạng của niềm tin đối với chủ nghĩa xã hội của sinh viên các trường cao đẳng
Hưng Yên và việc giáo dục niềm tin đó trong tình hình hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
- Trước hết là những công trình khoa học có liên quan trực tiếp nhất
với đề tài luận văn của chúng tôi về “Xây dựng niềm tin đối với chủ nghĩa xã
hội cho sinh viên...”, đó là các công trình của:
+ GS. Nguyễn Đức Bình: “Niềm tin của chúng ta” (Tạp chí Cộng sản
số 614, ngày 8/4/2001).
+ PGS.TS. Nguyễn Đức Bách: “Mấy vấn đề về định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam” (NXB Lao động - Hà Nội - 1998) và “Nhận thức đúng về
chủ nghĩa xã hội vẫn luôn là định hướng quan trọng nhất trong công cuộc đổi
mới ở Việt Nam” (Thông tin chủ nghĩa xã hội - lý luận và thực tiễn tháng
3/2004).
+ TS. Nguyễn Văn Dương: “Dạy và học các môn khoa học Mác-Lênin
trong các trường Đại học và Cao đẳng” (Báo Nhân dân ngày 4/7/1998).
+ TS. Nguyễn Quốc Anh: “Một số vấn đề về công tác tư tưởng và giáo
dục chính trị, đạo đức trong học sinh và sinh viên” (Tạp chí Cộng sản số
2/1997).

chúng tôi có tham khảo thêm, đều là những tư liệu rất cần thiết và bổ ích để

4


chúng tôi tham khảo và thực hiện đề tài luận văn này. Tuy vậy, đề tài luận văn
của chúng tôi không trùng lặp với các đề tài khoa học đã công bố, cả về nội
dung lẫn góc độ và phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu: Đó là đề tài
“Xây dựng niềm tin đối với chủ nghĩa xã hội cho sinh viên” (qua thực tiễn các
trường Cao đẳng ở Hưng Yên).
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1. Mục đích
Luận văn làm sáng tỏ những cơ sở lịch sử và lý luận căn bản nhất của
việc xây dựng niềm tin đối với chủ nghĩa xã hội cho sinh viên và dựa trên cơ
sở “khung lý thuyết khoa học” đó mà khảo sát thực tiễn vấn đề này trong sinh
viên và công tác giáo dục ở một số trường cao đẳng; từ đó có căn cứ mà đề
xuất phương hướng, giải pháp tiếp tục xây dựng niềm tin đối với chủ nghĩa xã
hội cho sinh viên trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm sáng tỏ về nhận thức: Quan niệm và cấu trúc, nội dung cơ bản
của “niềm tin”, nhất là “niềm tin đối với chủ nghĩa xã hội” và về quá trình xây
dựng niềm tin đó cho sinh viên.
- Khảo sát thực tiễn, điều tra xã hội học về thực trạng niềm tin đó của
sinh viên và việc giáo dục để xây dựng niềm tin đó trong sinh viên các trường
Cao đẳng ở Hưng Yên hiện nay (những thành quả, hạn chế và nguyên
nhân...).
- Đưa ra phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm góp phần
tiếp tục làm tốt hơn việc giáo dục, xây dựng niềm tin đối với chủ nghĩa xã hội
cho sinh viên ta trong những năm tới.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu

cường hơn nữa việc giáo dục, học tập, thực hành... để xây dựng lòng tin thật

6


sự khoa học đối với chủ nghĩa xã hội, góp phần tạo động lực cho sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, trong đó có sự
nghiệp giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, học sinh, sinh viên... ở nước ta hiện
nay.

7


7. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn có 3 chương, 9 tiết.
Chương 1: Những cơ sở nhận thức về niềm tin và niềm tin đối với chủ
nghĩa xã hội
Chương 2: Thực trạng việc xây dựng niềm tin đối với chủ nghĩa xã hội
cho sinh viên các trường cao đẳng ở Hưng Yên hiện nay.
Chương 3: Một số quan điểm cơ bản và những giải pháp chủ yếu nhằm
tiếp tục xây dựng niềm tin đối với chủ nghĩa xã hội cho sinh viên trong những
năm tới.

8


Chƣơng 1
NHỮNG CƠ SỞ NHẬN THỨC VỀ NIỀM TIN
VÀ NIỀM TIN ĐỐI VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

bằng “lễ”; “tam cương”, “ngũ thường” là kỉ cương - nhân luân của xã hội...
Khổng Tử tin và do sự công bố quan niệm của ông như trên thì đã truyền
niềm tin đó cho con người trong xã hội phong kiến không chỉ ở phương Đông
mà còn lan sang nhiều châu lục khác... về niềm tin có thể thành hiện thực cho
con người - một loại “xã hội lý tưởng” và những “con người lý tưởng” như
vậy. Vì thế, người đời vẫn khái quát nhận định về Khổng Tử (đạo Khổng, đạo
Nho - nho giáo...) thiên về “Đức trị”, chính là qua niềm tin và quan niệm của
Khổng Tử về niềm tin đó. Thực tế lịch sử cho thấy, qua hàng ngàn năm sau,
niềm tin đó của Khổng Tử cũng đã thể hiện tác dụng, động lực xã hội không
nhỏ, trái lại cũng rất rộng rãi và khá mạnh mẽ, lâu bền... Ông đã truyền lại
niềm tin đạo đức đó cho nhiều đời sau với quan niệm “thành tín” (niềm tin
thật - chân thành từ “tâm” mỗi con người). Khổng Tử coi “thành tín” là điều
đáng quí trọng nhất nơi mỗi con người [18, tr.245]. Ông rất tin - rất “thành
tín” ở “lẽ Trời, đạo lý người” v.v...
- Ở phương Tây, một số quan điểm triết học duy tâm, về cơ bản là đã
coi niềm tin các loại không thể hiện “nơi trần thế” của loài người, mà ở thế
giới của các thần linh, của “Đấng tối cao - Thượng đế”, của “Tinh thần thế
giới”, của “ý niệm tuyệt đối” v.v... Ví dụ:
Nhà triết học và luật học cổ đại Platôn (427-347 trước công nguyên),
ngoài những quan điểm triết học, ông còn có lý thuyết về nhà nước khá hoàn
chỉnh. Ông quan niệm rằng, niềm tin chỉ có trong “ý niệm tinh thần - niềm tin
ý chúa Trời”. Dẫu duy tâm, nhưng ông vẫn có những quan điểm, có giá trị khi
gắn niềm tin - duy tâm đó với xã hội “Lý tưởng quốc” (một tác phẩm của

10


ông). Trong đó ông cho rằng “xã hội lý tưởng” đó phải dung hợp 4 đức tính
là: trí tuệ, sự dũng cảm, biết kiềm chế và tin ở Chúa trời.
Thời Trung cổ, phương Tây có quan niệm tiêu biểu về niềm tin của Tô

nhận thức được thế giới xung quanh đang hiện hữu.
Biêlinxki (1831 - 1848- người Nga) vừa là nhà triết học, vừa có tư
tưởng xã hội chủ nghĩa, coi niềm tin, lý tưởng, không phải là “trò chơi, bịa
đặt, liệt kê... mà đó là khả năng thực tế nào đó của con người được lí trí tiên
nghiệm, kiểm nghiệm và được trí tưởng tượng tái sinh...” [36, tr.204].
Secnưsepxki (1828 - 2889, người Nga) cũng vừa là nhà triết học, nhà
văn hoá, đồng thời có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, trong đó ông có quan niệm
về niềm tin lý tưởng là loại niềm tin luôn gắn với đời sống hiện thực, đặc biệt
là đời sống và nhu cầu thẩm mỹ...
Nhìn chung, xã hội càng tiến lên, các thời đại sau đã kế thừa và phát
triển những thành quả của các thời đại, các thế hệ trước... nhiều vấn đề, trong
đó có quan niệm về niềm tin... cũng ngày càng có sức thuyết phục hơn, có
thêm cơ sở thực tiễn và khoa học hơn, hợp lý và có tác dụng xã hội hơn.
1.1.2. Khái quát những quan niệm Mác-Lênin và Hồ Chí Minh về
niềm tin và niềm tin đối với chủ nghĩa xã hội
Chủ nghĩa Mác-Lênin, trong đó có một bộ phận là chủ nghĩa xã hội
khoa học, ra đời là một bước ngoặt lịch sử của sự phát triển khoa học nói
chung và các khoa học chính trị - xã hội nói riêng. Từ đó, lý luận và phương
pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trở
thành cơ sở và phương pháp khoa học để nhận thức và nhất là cải tạo hiện
thực, trong đó có việc nhận thức khoa học về các loại niềm tin.

12


C.Mác và Ph.Ăngghen - người sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học
với tư cách một học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân thực
hiện quá trình giải phóng xã hội, giải phóng con người khỏi các chế độ tư
hữu, áp bức bóc lột, bất bình đẳng; khỏi nghèo nàn lạc hậu... đã có lập trường
duy vật lịch sử để nhận thức vấn đề niềm tin của con người thuộc phạm trù ý

trần thế” [22, tr.437]. Như vậy, bản thân các tôn giáo thể hiện những niềm tin
trên cơ sở duy tâm và chưa có căn cứ khoa học. Nhưng quan điểm C.Mác và
Ph.Ăngghen về tôn giáo và niềm tin tôn giáo lại là quan điểm duy vật - khoa
học (duy vật biện chứng và duy vật lịch sử - vì tôn giáo và niềm tin tôn giáo
lại có những nguồn gốc “từ trần thế” của con người chứ không phải từ
“Thượng đế”, “thần linh”... nào cả.
Vì thế, khi dựa trên lập trường duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
mà C.Mác đã nhận định một cách hình tượng về tôn giáo và niềm tin tôn giáo
dưới góc độ chính trị - xã hội như sau: “...Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng
sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới, không có trái tim, cũng giống như nó là
tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của
nhân dân” [24, tr.570]. Dù có nhận thức khách quan, khoa học và rất thực tiễn
về tôn giáo và niềm tin tôn giáo như vậy, nhưng C.Mác và Ph.Ăngghen vẫn
coi tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Phải tôn trọng tự
do tín ngưỡng của dân, “không được tuyên chiến với tôn giáo”. Những người
cộng sản chỉ chống những ai lạm dụng tôn giáo để thực hiện những ý đồ
ngoài tôn giáo. C.Mác và Ph.Ăngghen còn luận chứng một cách rất thực tiễn
và khoa học rằng: “Tất cả những gì thúc đẩy con người hoạt động đều phải
thông qua đầu óc của con người... ảnh hưởng của thế giới bên ngoài vào con
người, in vào đầu óc của con người, phản ánh đấy dưới hình thức cảm giác, tư
tưởng, ý chí..., nói tóm lại là dưới hình thức “nguyện vọng lý tưởng” và... trở
thành “lực lượng lý tưởng”. Chính từ đấy con người có loại niềm tin vào mục

14


tiêu, lý tưởng nào đó của mình mà thôi thúc họ hành động theo mục tiêu, lý
tưởng đó.
Theo C.Mác và Ph.Ăngghen thì suy cho cùng, niềm tin là việc con
người ý thức được về một mục tiêu, một lý tưởng nào đó thì cuối cùng cũng là

vào chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản như một lý tưởng của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động... không thể trông chờ vào quá trình tự phát sơ
khai như xưa. Vì thế C.Mác và Ph.Ăngghen đi đến nhận định mới và rất thực
tế là: “... để cho niềm tin cộng sản chủ nghĩa nẩy sinh được trong đông đảo
quần chúng, cũng như để đạt được chính ngay mục đích cộng sản chủ nghĩa
thì cần phải có sự biến đổi của đông đảo quần chúng; song, sự biến đổi này
chỉ có thể tiến hành được trong một phong trào thực tiễn, trong cách mạng...”
[27, tr.100].
* V.I.Lênin đã kế thừa và phát triển những luận điểm của C.Mác và
Ph.Ăngghen trên nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề ý thức, niềm tin...
V.I.Lênin cũng chưa đưa ra một khái niệm về niềm tin nói chung. Với tư cách
nhà triết học - chính trị - xã hội và lãnh tụ của giai cấp công nhân và Đảng
Cộng sản, ông đặc biệt chú trọng đến niềm tin của giai cấp công nhân, của
những người cộng sản và nhân dân đối với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng
sản.
Ngay sau thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười
Nga khoảng gần 1 năm, trong một cuộc mít tinh ở nhà văn hoá nhân dân
mang tên A Lêchxêep (ngày 23/8/1918), V.I.Lênin đã nhận định về ảnh
hưởng của cách mạng tháng Mười Nga đến niềm tin của giai cấp công nhân
các nước, rằng: “... không một nước nào ở châu Âu mà công nhân ở đó lại
không có cảm tình với những người bôn sê vích và lại không tin tưởng rằng
sẽ đến ngày... họ sẽ làm được như công nhân Nga đã làm” [19, tr.87]. Niềm

16


tin của công nhân các nước đối với cách mạng tháng Mười Nga và giai cấp
công nhân Nga là có cơ sở thực tiễn hiển nhiên bởi thắng lợi vĩ đại mở ra kỉ
nguyên mới trong lịch sử loài người. Tuy vậy, niềm tin của con người không
chỉ có khi nó đã được thực tiễn trực tiếp chứng minh, mà nhiều khi mới chỉ

khi mỗi người có lòng tin và lý tưởng thật sự đối với chủ nghĩa xã hội, chủ
nghĩa cộng sản. Sự tuyên truyền, thuyết phục và nhất là những tấm gương
thực tế từ đảng viên cộng sản và Đảng Cộng sản... đối với sự nghiệp cách
mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội... sẽ có tác dụng rất lớn
và thiết thực đối với việc giáo dục niềm tin - lý tưởng cộng sản chủ nghĩa cho
thanh niên . V.I.Lênin đã phân tích rõ ràng: “... cái gì làm cho kỉ luật của
Đảng cách mạng của giai cấp vô sản vững chắc? Cái gì kiểm tra kỉ luật ấy?
Cái gì đã làm chỗ dựa cho nó? Thứ nhất, đó là ý thức giác ngộ của Đội tiên
phong của giai cấp vô sản, lòng trung thành với cách mạng. Thứ hai,... đó là
khả năng của Đội tiên phong biết liên hệ... hoà mình với quần chúng lao
động. Thứ ba, sự lãnh đạo chính trị đúng đắn của Đội tiên phong ấy đã thể
hiện rõ..., nhưng điều cần thiết là quảng đại quần chúng, do kinh nghiệm bản
thân, tin tưởng vững chắc vào sự đúng đắn ấy... Những điều nói trên không
thể có ngay tức khắc được... mà phải nhờ có lý luận cách mạng đúng đắn và
liên hệ với thực tiễn trong quá trình cách mạng [20, tr.7-8].
Hiện nay, chúng ta càng thấm thía sự phân tích trên đây của V.I.Lênin
khi giáo dục thanh niên về chủ nghĩa xã hội và niềm tin, lý tưởng cộng sản
chủ nghĩa. Quả rằng, một khi cán bộ, đảng viên cộng sản; một khi những trí
thức, những người lớn... còn chưa rõ, chưa thể hiện rõ nhận thức và lòng tin
đối với chủ nghĩa xã hội - nhất là khi nhiều nước xã hội chủ nghĩa khủng
hoảng, đổ vỡ... thì việc giáo dục niềm tin đối với chủ nghĩa xã hội cho thế hệ

18


trẻ càng có nhiều khó khăn, phức tạp. Đó là một trong những vấn đề về lý
luận và thực tiễn đáng chú ý nhất trong công cuộc đổi mới đất nước ta theo
định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Trong cái lôgic có thật của thực tiễn đó, ngày nay chúng ta vẫn cần
nhắc lại một quan điểm cơ bản của V.I.Lênin rằng, dù việc giáo dục về chủ

hiện ngày càng rõ rệt và tốt hơn đối với toàn xã hội. V.I.Lênin cho rằng:
chẳng những thanh niên được giáo dục về chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng
sản, mà còn phải.... “tự tiến hành giáo dục thành những người cộng sản và
đồng thời cũng phải giáo dục cho tất cả những ai đã công nhận họ là những
người dẫn đường, chỉ lối. Phải làm cho toàn bộ sự nghiệp giáo dục, huấn
luyện.... thanh niên ngày nay được phát triển thành đạo đức cộng sản trong
thanh niên” [20,

20


tr.366). Và, V.I.Lênin đặt ra yêu cầu giáo dục niềm tin đối với chủ nghĩa xã
hội từ trong thanh niên sẽ lan toả ra quần chúng, để khi mỗi người công nhân
hay nông dân... khi có niềm tin đó thì họ... có thể tự nhủ rằng: tôi là một phần
tử trong đạo quân lao động tự do vĩ đại và tôi sẽ biết cách xây dựng lấy cuộc
đời tôi, không cần có bọn địa chủ và bọn tư sản, tôi sẽ biết kiến lập chế độ
cộng sản...” [20, tr.376].
* Hồ Chí Minh cũng chưa có định nghĩa chung về niềm tin, nhưng
trong nhiều tư tưởng của Người đã thể hiện rõ những yếu tố rất cơ bản của
một niềm tin có cơ sở bền vững. Đó là niềm tin trên lập trường duy vật, khoa
học, hiểu biết và thực tiễn; đặc biệt là Người nói nhiều đến niềm tin đối với
chủ nghĩa xã hội thông qua niềm tin đối với thắng lợi của cách mạng tháng
Mười Nga (1917) với những mục tiêu, phương thức, lực lượng ... của nó.
Người khẳng định một sự thật của chính bản thân mình hình thành niềm tin
đối với truyền thống vẻ vang của dân tộc ta, với chủ nghĩa xã hội, với chủ
nghĩa Mác-Lênin, với cách mạng vô sản rằng: “... lúc đầu, chính chủ nghĩa
yêu nước chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo
quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận
Mác-Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng, chỉ có chủ
nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức

thành bản lĩnh chính trị khoa học của Người. Cũng vì thế, trải qua bao gian
nguy trong quá trình tìm đường cứu nước, qua thăng trầm của cách mạng, của
lịch sử... Người vẫn dấn thân, hy sinh cả đời mình cho độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội, vì lợi ích và hạnh phúc của nhân dân. Người quả là tấm gương
trong sáng và vĩ đại nhất cho Đảng và dân tộc ta về niềm tin khoa học vững
bền đối với chủ nghĩa xã hội, mà hiện nay chúng ta càng phải chú trọng rèn
luyện, phấn đấu noi theo.

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status