ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ PHƯƠNG HIỀN
ĐẢM BẢO TÍNH CẠNH TRANH TRONG
BẦU CỬ QUỐC HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
HÀ NỘI - 2012
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ PHƯƠNG HIỀN
ĐẢM BẢO TÍNH CẠNH TRANH TRONG
BẦU CỬ QUỐC HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: CHÍNH TRỊ HỌC
Mã số: 60.31.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
25
Chương 2 Tính cạnh tranh trong hoạt động bầu cử Quốc hội ở Việt
Nam hiện nay
39
2.1
Các nguyên tắc bầu cử Quốc hội ở Việt Nam
40
2.2
Tính cạnh tranh trong giới thiệu và lập danh sách ứng cử viên
45
2.3
Tính cạnh tranh trong quá trình vận động bầu cử
60
2.4
Tính cạnh tranh trong việc phân chia đơn vị bầu cử và hoạt
động của các tổ chức phụ trách bầu cử
3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
ĐBQH: Đại biểu Quốc hội
LBCĐBQH: Luật bầu cử đại biểu Quốc hội
MTTQ: Mặt trận Tổ quốc
TTĐC: Thông tin đại chúng
UBTVQH: Ủy ban thường vụ Quốc hội
UBTƯMTTQ: Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc
4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền chính trị hiện đại, bầu cử đóng một vị trí rất quan trọng, là sự
kiện chính trị đặc biệt đối với tất cả các quốc gia, nhất là trong xu hướng dân
chủ hóa hiện nay. Xã hội càng phát triển, dân chủ càng được mở rộng cả về
nội dung và hình thức. Mặc dù có nhiều cơ chế khác nhau để thực thi dân chủ
nhưng thực tế lịch sử chính trị cho thấy bầu cử vẫn là cơ chế chủ đạo và hiệu
quả nhất. Nhìn vào hoạt động bầu cử, có thể hiểu được tính chất dân chủ và sự
vận hành của hệ thống chính trị nước đó. Vì vậy, bầu cử được coi là trụ cột
trong cấu trúc dân chủ ở bất kỳ nhà nước nào, “bầu cử tự do và công bằng là
trái tim của dân chủ” đúng như Jame A.Baker - một chuyên gia nghiên cứu về
bầu cử đã nhận định. Với ý nghĩa đó, một cuộc bầu cử dân chủ phải đáp ứng
được rất nhiều tiêu chí mang tính phổ biến của nền chính trị hiện đại. Trong
đó, tính cạnh tranh là một tiêu chí quan trọng.
Từ khi lập nước đến nay, Quốc hội Việt Nam đã trưởng thành qua mười
thay đổi tích cực trong nhận thức của cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân về
quá trình này, đồng thời giúp cho Đảng, Nhà nước có thể điều chỉnh quy chế bầu
cử hiện tại theo hướng dân chủ hơn.
Vì những lý do trên, việc chọn tiêu chí tính cạnh tranh làm một góc nhìn
mới để qua đó đánh giá hoạt động bầu cử Quốc hội ở Việt Nam hiện nay là yêu
cầu vừa cần thiết, vừa cấp bách về cả nhận thức và công tác thực tiễn. Đây cũng
chính là mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu mà luận văn hướng tới.
2. Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, những năm qua việc nhận thức về vai trò của bầu cử trong
đời sống chính trị đã dần tăng lên. Trong những năm qua đã có một số công trình
2
nghiên cứu về hệ thống bầu cử nói chung và chế độ bầu cử ĐBQH đã được công
bố như:
- TS. Vũ Thị Loan với công trình (Luận văn thạc sĩ chính trị học) “Hoàn
thiện chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay” (2003), là công trình
đầu tiên nghiên cứu mang tính chuyên sâu về chế độ bầu cử Quốc hội. Trong đó,
tác giả đã đánh giá khái quát những thành công đạt được cũng như những vấn đề
đặt ra và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chế độ bầu cử Quốc hội.
- TS.Vũ Văn Nhiêm với công trình nghiên cứu (Luận án tiến sĩ luật học)
Chế độ bầu cử ở nước ta – Những vấn đề lý luận và thực tiễn (2009) đã phân tích
những cơ sở lý luận về chế độ bầu cử và xã hội dân chủ nói chung và ở Việt
Nam nói riêng. Tác giả cũng nghiên cứu thực tiễn chế độ bầu cử ở Việt Nam và
đưa ra những kiến nghị nhằm đổi mới chế độ bầu cử để phát huy dân chủ. Tuy
nhiên, công trình nghiên cứu khá công phu về chế độ bầu cử ở Việt Nam này lại
chủ yếu tiếp cận vấn đề dưới góc độ luật học.
- TS. Đặng Đình Tân trong tác phẩm“Nhân dân giám sát các cơ quan dân
cử ở Việt Nam trong trong thời kỳ đổi mới” (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2006) đã khẳng định bầu cử là phương thức rất quan trọng và hữu hiệu mà thông
Dưới góc độ luật học, trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6, tháng 7/2001
cũng có bài viết “Pháp luật bầu cử: một số vấn đề cần hoàn thiện” của TS. Bùi
Xuân Đức. Bài viết này đã phân tích khá cụ thể về những hạn chế của chế độ bầu
cử hiện hành và đưa ra một số giải pháp khắc phục những bất cập về đơn vị bầu
cử, về tính đại diện, về cách thức xác định kết quả bầu cử ở Việt Nam.
Cũng dưới góc nhìn luật học với hai bài viết:“Pháp luật bầu cử nhìn từ
góc độ bảo đảm tự do công bằng cạnh tranh và tính đại diện” (tạp chí Nhà nước
và pháp luật, số 4/2007) và “Đôi điều bình luận từ cuộc bầu cử đại biểu Quốc
hội khóa XII” (tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 6(101)/2007), tác giả Vũ Văn
Nhiêm đã chỉ ra một số hạn chế về mặt pháp luật bầu cử trong việc đảm bảo tính
4
đại diện và tính cạnh tranh trong chế độ bầu cử ở nước ta hiện nay, từ đó đưa ra
những phương hướng khắc phục.
Từ cách đặt vấn đề “Bầu cử: bầu ai và ai bầu” (đăng trên tạp chí Nghiên
cứu Lập pháp, số 23 (98), tháng 5/2007), tác giả An Khánh đã cũng chỉ ra những
bất cập trong bầu cử Quốc hội ở nước ta hiện nay như tiêu chuẩn ĐBQH, mối
quan hệ giữa cơ cấu và chất lượng đại biểu, việc cung cấp thông tin về ứng cử
viên cho cử tri, quyền bầu cử trực tiếp của cử tri, số dư trong các đơn vị bầu cử,
tình trạng bỏ phiếu thay...
Với bài viết “Thực trạng và giải pháp đổi mới công tác bầu cử ở nước ta”
đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 4(97)/2007, tác giả TS. Phan Xuân
Sơn đã chỉ ra những tồn tại của hệ thống bầu cử, từ đó đưa ra một số phương
hướng và giải pháp cơ bản nhằm đổi mới công tác bầu cử ở nước ta hiện nay.
Cũng xuất phát từ nhu cầu đổi mới chế độ bầu cử, PGS.TS Thái Vĩnh
Thắng có bài viết “Một số suy nghĩ về đổi mới chế độ bầu cử đảm bảo quyền
bầu cử và ứng cử của công dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” đăng trên
tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4/2011. Bài viết đã phân tích thực trạng chế độ
bầu cử ở Việt Nam với việc chỉ ra những bất cập trong chín vấn đề chính: (1) về
đối thoại rộng rãi, trực tiếp giữa ứng cử viên với cử tri; các ứng cử viên cần đầu tư
thời gian và trí tuệ cho việc xây dựng chương trình hành động; kiên quyết chống
gian lận, chống bệnh hình thức trong bầu cử; đa dạng hoá các hình thức bỏ phiếu.
Hướng tới cuộc bầu cử Quốc hội khóa XIII (2011), tác giả ThS. Nguyễn
Thanh Bình cũng có nhiều bài viết lý giải tính chất dân chủ trong quy trình bầu
cử ở nước ta, đặt biệt là trong công đoạn hiệp thương giới thiệu ứng cử viên và
vận động bầu cử như “Công khai, dân chủ và bình đẳng trong vận động bầu cử”
(tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4) và “Một quy trình dân chủ và công khai để
lựa chọn, giới thiệu người có đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội” (Tạp chí
Mặt trận, số 89). Cùng thời gian đó, tác giả Minh Vân cũng có bài “Vài nét về số
6
dư trong công tác giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân
dân” đăng trên Tạp chí Mặt trận, số 89/2011.
Là người làm công tác thực tiễn gắn với hoạt động bầu cử, TS. Bùi Ngọc
Thanh có bài viết “Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII- những vấn đề từ
thực tiễn” (Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 7(103), tháng 7/2007) và “Các
cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XI và XII – một số vấn đề đặt ra cho cuộc
bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII” (Tạp chí cộng sản, số 822, năm 2011). Với
tư cách là Tổng Thư ký Hội đồng bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XI và XII, tác
giả bài viết đã chỉ ra những tồn tại của công tác bầu cử nước ta và đề xuất một số
biện pháp khắc phục.
Như vậy, một số tác giả đã bàn về tính cạnh tranh và những vấn đề liên
quan đến việc đảm bảo tính cạnh tranh trong hoạt động bầu cử Quốc hội từ khi
hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đến phân chia đơn vị bầu cử, vận động bầu
cử và cả các tổ chức phụ trách bầu cử ở Việt Nam hiện nay. Song, thực tế trên
cũng cho thấy việc nghiên cứu và đánh giá về hoạt động bầu cử Quốc hội dưới
góc độ đảm bảo tính cạnh tranh vẫn còn là một vấn đề mới. Vì vậy, đề tài “Đảm
bảo tính cạnh tranh trong bầu cử Quốc hội ở Việt Nam hiện nay” sẽ trên cơ sở
ĐBQH ở Việt Nam hiện nay để làm rõ những vấn đề tồn tại và đưa ra một số
kiến nghị hoàn thiện, đổi mới.
6. Đóng góp của luận văn
- Đưa ra một cách tiếp cận mới - từ góc độ đảm bảo tính cạnh tranh trong
vấn đề hoàn thiện cơ chế bầu cử ĐBQH ở Việt Nam.
- Chỉ ra được những vấn đề tồn tại trong việc đảm bảo tính cạnh tranh
trong tổ chức và tiến trình bầu cử Quốc hội ở Việt Nam.
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm đảm bảo tính cạnh tranh trong hoạt động
bầu cử Quốc hội ở Việt Nam hiện nay.
8
7. Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn góp phần nâng cao nhận thức về vấn đề bầu cử ĐBQH trong
đời sống chính trị ở Việt Nam hiện nay.
- Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc học
tập, nghiên cứu các môn khoa học chính trị và hoạt động của các nhà chính trị
thực tiễn, góp phần hoàn thiện cơ chế bầu cử Quốc hội ở Việt Nam hiện nay.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn được kết cấu thành 3 chương, 8 tiết.
9
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẦU CỬ
VÀ TÍNH CẠNH TRANH TRONG BẦU CỬ
trị, kinh tế… khiến cho hình thức dân chủ trực tiếp không phải lúc nào cũng thực
hiện được. Lúc này cần thiết phải có một hình thức dân chủ khác để cùng với
hình thức dân chủ trực tiếp đảm bảo cho quyền lực của nhân dân được thực hiện,
đó là dân chủ gián tiếp hay còn gọi là dân chủ đại diện.
Dân chủ đại diện là hình thức nhân dân ủy quyền cho những người đại
diện của mình thông qua các cuộc bầu cử để nhằm giải quyết các công việc của
nhà nước, thực hiện ý chí và phục vụ lợi ích của nhân dân. Song, mặc dù đã ủy
quyền nhưng nhân dân vẫn thực hiện quyền kiểm tra giám sát hoạt động của các
đại diện, thậm chí có quyền bãi miễn họ nếu họ không làm đúng chức trách và
không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân. Trong tác phẩm "Tinh thần
pháp luật", Montesquieu cho rằng: “Dân chúng có quyền lực tối cao phải tự
mình làm lấy những điều có thể làm tốt được, còn những điều mà dân không thể
làm tốt được thì phải giao cho các vị bộ trưởng thừa hành. Các vị bộ trưởng nếu
không do dân cử thì không phải là của dân. Châm ngôn cơ bản của chính thể dân
chủ là: dân bầu ra bộ trưởng tức là bầu ra người quan chấp chính để cai trị
mình.” [47, tr.48]. Như vậy, bầu cử là sản phẩm trực tiếp của dân chủ, là hình
thức biểu hiện của dân chủ đại diện. Dân chủ đại diện là quyền lực của nhân dân
được thực hiện bằng người đại diện và cơ quan đại diện.
Việc tiến hành bầu cử bắt đầu manh nha xuất hiện từ thời chiếm hữu nô lệ,
khi tầng lớp quý tộc chủ nô họp đại hội để lựa chọn và ủy quyền cho những đại diện
thành lập các cơ quan nhà nước để bảo vệ lợi ích cho tầng lớp, giai cấp mình như
11
Viện nguyên lão, Đại hội nhân dân, Hội đồng thành phố... ở nhà nước Hy Lạp – La
Mã cổ đại. Đến thời kỳ Trung cổ, các cuộc bầu cử mang ý nghĩa dân chủ đã bị loại
bỏ do sự chi phối của tôn giáo. Các cuộc bầu cử với các tiêu chuẩn tự do, công bằng
và cạnh tranh, là những phát minh gắn liền với sự phát triển của loài người từ thời
kì cận hiện đại khoảng giữa thế kỷ XVIII đến nay. Việc thực hiện bầu cử như thế
nào cũng phản ánh trình độ phát triển về chính trị của một quốc gia và là một tiêu
các cá nhân và diễn ra khi việc đưa ra quyết định lựa chọn không thuộc thẩm
quyền của một cá nhân cụ thể. Nó là cách thức để lựa chọn những con người thực
hiện một nhiệm vụ cụ thể, trong một cơ cấu xã hội nhất định.” [60, tr.16]
Tóm lại, nội dung cơ bản của khái niệm bầu cử là cách thức để người dân
chọn lựa giữa các ứng cử viên cho một vị trí công việc để thực hiện một chức
năng xã hội nhất định. Đó là cách hiểu theo nghĩa rộng, còn hiểu theo nghĩa hẹp,
bầu cử thường được tiếp cận từ hai góc độ là chính trị học và luật học.
Các tác giả trong cuốn Tập bài giảng chính trị học định nghĩa: “Bầu cử là
một hình thức ủy quyền và biểu thị sự tín nhiệm của công dân - cử tri (hoặc
người bầu cử) bằng những nguyên tắc và thủ tục nhất định để chọn (ít nhất là từ
hai lấy một) người đại diện của mình vào các cơ quan quyền lực nhà nước, hoặc
các chức vụ của một thể chế chính trị.” [26, tr.289]
Theo cách định nghĩa đó, bầu cử gắn liền với một chế độ chính trị, với nhà
nước, trong đó, bầu cử không chỉ là phương thức lập ra tổ chức bộ máy nhà nước
mà còn thể hiện ý thức chính trị và thái độ chính trị của người dân trước sự quản
lý điều hành của chính phủ.
Dưới góc độ luật học, các tác giả của cuốn Tổ chức và hoạt động của quốc
hội một số nước quan niệm rằng: “Bầu cử là một trong những chế định pháp luật
quan trọng của ngành luật hiến pháp, là cơ sở pháp lý cho việc hình thành các cơ
quan đại diện - cơ quan quyền lực nhà nước. Bầu cử là việc công dân của một
13
nước lựa chọn những người đại diện để trao quyền cho họ thay mặt mình giải
quyết các vấn đề trọng đại của đất nước” [91, tr.239]. Cách định nghĩa này coi
bầu cử là tổng thể các quy định về tiến trình bầu cử chứa đựng trong các văn bản
có hiệu lực pháp lý cao nhất là hiến pháp và các văn bản pháp luật khác, là
phương thức để người dân thực hiện quyền công dân, quyền tham gia quản lý đất
nước thông qua người đại diện. Phương pháp tiếp cận này được dùng phổ biến
trong các nghiên cứu về luật hiến pháp và các văn bản pháp luật.
các lực lượng xã hội) tham gia vào quá trình bầu cử. Các yếu tố, các quan hệ xã
hội của hệ thống bầu cử được tạo thành theo một trình tự nhất định, từ việc xác
định thời gian bầu cử, phân chia đơn vị bầu cử, thành lập cơ quan phụ trách bầu
cử, lập danh sách cử tri, giới thiệu người ra ứng cử, đến bỏ phiếu, kiểm phiếu và
công bố người thắng cử… Tất cả những quan hệ được hình thành theo trật tự
trên gọi là trình tự bầu cử.
Trong luận văn này, thuật ngữ hệ thống bầu cử được hiểu theo nghĩa rộng,
song luận văn không đi sâu vào phân tích tất cả các hoạt động của quá trình bầu
cử mà chỉ tập trung vào các yếu tố, các quan hệ có ảnh hưởng đến vấn đề đảm
bảo tính cạnh tranh trong bầu cử mà thôi.
Khái niệm chế độ bầu cử
Chế độ bầu cử là khái niệm gắn liền với nhà nước, với chế độ chính trị của
một quốc gia - dân tộc nhất định. Nói đến chế độ bầu cử cần xác định rõ là chế
độ bầu cử của nhà nước nào, không có chế độ bầu cử mang tính chung chung. Vì
vậy, thông qua chế độ bầu cử có thể cho phép xác định được nguồn gốc, bản chất
và hình thức của nhà nước đó. Thuật ngữ chế độ bầu cử cũng được hiểu theo hai
nghĩa nghĩa rộng và hẹp khác nhau.
Theo nghĩa hẹp, có thể hiểu chế độ bầu cử bao gồm những quy định được
chứa đựng trong những văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất (hiến pháp) và
15
trong các văn bản pháp luật nói về nguyên tắc bầu cử, trình tự lập danh sách cử
tri, trình tự giới thiệu ứng cử viên, trình tự vận động bầu cử cho đến các quy định
nói về cách thức xác định kết quả bầu cử [17, tr.111-112].
Hoặc, chế độ bầu cử bao gồm tổng thể các nguyên tắc, các quy định pháp
luật quy định trật tự bầu ra các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước, điều chỉnh các
quan hệ xã hội hình thành trong quá trình bầu cử. Trật tự bầu cử được quy định bởi
một loạt các văn bản quy phạm pháp luật gọi là luật bầu cử. Những cách thức, thủ
tục bầu cử được luật bầu cử quy định tạo thành hệ thống bầu cử. [22, tr.240]
Hệ thống bỏ phiếu (voting system) là một tập hợp những thủ tục để xác
định một hoặc một nhóm người vào các cơ quan quyền lực. Các thủ tục này bao
gồm các quy định về thiết kế và sắp xếp lá phiếu, quá trình bỏ phiếu, đếm phiếu
và cách thức để xác định người chiến thắng trong các cuộc bầu cử. Như vậy,
khái niệm hệ thống bỏ phiếu được giới hạn trong phạm vi các thủ tục bỏ phiếu
và công thức tính phiếu. Do đó, thực ra thuật ngữ “hệ thống bỏ phiếu” chính là
“hệ thống bầu cử” hiểu theo nghĩa hẹp và ngược lại.
1.1.3. Chức năng của bầu cử trong hệ thống chính trị
Trong xu thế xây dựng xã hội dân sự của hầu hết các quốc gia trên thế giới
hiện nay, bầu cử đang ngày càng trở thành yếu tố không thể thiếu trong đời sống
chính trị dân chủ hiện đại. Tìm hiểu hệ thống bầu cử của mỗi nước cũng cho
chúng ta thấy được một phần quan trọng trong bức tranh chính trị của một quốc
gia. Nói cách khác, bầu cử có vai trò to lớn trong hệ thống chính trị của tất cả các
quốc gia dân chủ. Nó thực hiện các chức năng quan trọng của nền chính trị, như:
(1) Xác định tính chính đáng của quyền lực nhà nước, hợp pháp hóa hoạt động của
chính quyền; (2) Giúp người dân thực hiện sự ủy quyền và lựa chọn người đại
biểu nhân dân; (3) Lựa chọn đường lối hợp lòng dân, xây dựng sự đồng thuận
trong xã hội; (4) Là công cụ quan trọng để nhân dân kiểm soát quyền lực nhà
nước, chế ngự sự tha hóa, lạm quyền của nhà nước.
17
1.1.3.1. Xác định tính chính đáng của quyền lực nhà nước, hợp pháp hóa hoạt
động của chính quyền
Điều 21- Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền 1948 của Liên hợp quốc đã
khẳng định: “Ý nguyện của quốc dân phải được coi là căn bản của mọi quyền lực
quốc gia; ý nguyện này phải được biểu lộ qua những cuộc tuyển cử có định kỳ và
trung thực, theo phương thức phổ thông đầu phiếu kín, hay theo các thủ tục tuyển
cử tự do tương tự” [98]. Trong xã hội dân chủ hiện đại, ý chí của nhân dân chính là
nền tảng của quyền lực nhà nước; mặt khác nhân dân muốn biến ý chí nguyện
dân càng cao thì tính chính đáng của chính quyền được bầu càng lớn; ngược lại,
nếu tỷ lệ cử tri đi bầu càng thấp thì chứng tỏ tính chính đáng của nhà nước đó
cũng thấp.
Tóm lại, chức năng thiết yếu của các cuộc bầu cử là xác định tính chính
đáng, tính hợp pháp của chính quyền, là phương thức thành lập cơ quan quyền
lực nhà nước với những người đại biểu được nhân dân lựa chọn và ủy thác quyền
lực. Và cũng thật dễ hiểu, những cơ quan, những chức danh do nhân dân trực
tiếp bầu ra bao giờ tính “chính danh” cũng cao hơn các cơ quan được thành lập
gián tiếp, vì sự tấn phong của nhân dân tạo vị thế vững chắc cho họ, họ là người
đại diện cho nhân dân, nhận được quyền lực trực tiếp từ chính nhân dân. Tuy
nhiên, phải nói thêm rằng, chỉ những cuộc bầu cử tuân theo những chuẩn mực tự
do, tiến bộ và công bằng mới được tạo tính chính đáng và hợp pháp nhất cho cơ
quan đại diện và bộ máy nhà nước.
1.1.3.2. Giúp người dân thực hiện sự ủy quyền và lựa chọn người đại diện
Như đã phân tích ở trên, bầu cử là phương thức thể hiện ý chí của nhân
dân thông qua sự ủy quyền để hình thành nên các cơ quan quyền lực nhà nước.
Uỷ quyền được hiểu là sự uỷ nhiệm quyền lực của một chủ thể cho một
đại diện làm một việc gì đó mà chủ thể không có điều kiện để thực thi một cách
19
trực tiếp [63, tr.30]. Sự uỷ quyền này nói như Rousseau nó như một “bản hợp
đồng”. Người được uỷ quyền thực thi nhiệm vụ dưới danh nghĩa của chủ thể đã
uỷ quyền cho mình. Trong mối quan hệ này, chủ thể uỷ quyền giữ vai trò chi
phối người được uỷ quyền. Yêu cầu của chủ thể uỷ quyền buộc người được uỷ
quyền phải hành động theo cách thức mà chủ thể mong muốn, phải tuân theo ý
chí, nguyện vọng và lợi ích chính đáng của chủ thể.
Trong xã hội dân chủ hiện đại, người dân với tư cách là chủ thể quyền lực
thực hiện sự uỷ quyền thông qua các cuộc bầu cử. Bằng hành vi bầu cử, nhân
dân lựa chọn những người đại diện, thành lập ra cơ quan đại diện và trao cho họ
1.1.3.3. Xây dựng và củng cố sự đồng thuận trong xã hội
Bằng cách huy động cử tri vào một hoạt động chính trị chung mang tính
tập thể, bầu cử có vai trò kiến tạo nền tảng để tạo ra sức mạnh toàn dân, là chìa
khóa để xây dựng sự đồng thuận xã hội và cũng là cơ chế chủ yếu để chuyển hóa
sự đồng thuận xã hội thành quyền lực của chính quyền.
Đồng thuận xã hội có thể hiểu là sự thống nhất giữa tư tưởng, ý chí và hành
động của những lực lượng xã hội trong một hệ thống xã hội nhất định. Nói cách
khác, đồng thuận xã hội là sự đồng tình, nhất trí với nhau của đại đa số thành viên
trong xã hội về một hoặc một số vấn đề nào đó, trên cơ sở đó, các thành viên này
gắn kết chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động của mình nhằm đạt đến mục đích,
lợi ích chung. Như vậy, đồng thuận xã hội là tiếng nói chung của các lực lượng,
các giai cấp, các dân tộc, tôn giáo tín ngưỡng... trong cơ cấu xã hội.
Trong một nền dân chủ, bầu cử là chế định trung tâm của dân chủ đại diện,
mà ở đó, quyền lực nhà nước được hình thành dựa trên kết quả lựa chọn thống
nhất của người dân. Thực chất, chính quyền chỉ có thể được hợp pháp hóa thông
qua bầu cử khi có được sự ủng hộ, sự đồng thuận của mọi tầng lớp dân cư trong
xã hội. Nói cách khác, thông qua bầu cử, cử tri đã có được tiếng nói chung và
21