ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGÔ VĂN HÀ
ĐẢNG LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ TRUNG
HỌC CHUYÊN NGHIỆP Ở MIỀN BẮC
1965- 1975
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊGH SỬ
HÀ NỘI – 2003
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGÔ VĂN HÀ
ĐẢNG LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ TRUNG
HỌC CHUYÊN NGHIỆP Ở MIỀN BẮC
1965 -1975
Chuyên ngành: lịch sử Đảng.
Mã số : 05-03-16
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS. LÊ MẬU HÃN
HÀ NỘI - 2003
2.3. TIỂU KẾT. ....................................................................................................................... 87
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM .... 88
3.1. NHẬN XÉT VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC & TRUNG HỌC
CHUYÊN NGHIỆP ................................................................................................................. 88
3.1.1. Giáo dục ĐH &THCN giai đoạn 1965- 1975 phát triển trong hoàn cảnh chiến tranh. . 88
3.1.2. Đây là giai đoạn giáo dục ĐH &THCN phải di chuyển nhiều lần. .............................. 89
3.1.3. Các trường ĐH &THCN vừa làm nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, vừa trực tiếp
tham gia chiến đấu, sản xuất. ............................................................................................... 90
4
3.1.4. Xây dựng nền giáo dục ĐH &THCN XHCN ở điểm xuất phát thấp.............................. 91
3.2. THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ CƠ BẢN ............................................................................ 91
3.2.1. Thành tựu. .................................................................................................................. 91
3.2.2. Những tồn tại. ............................................................................................................. 99
3.3. MỘT SỐ KINH NGHIỆM.............................................................................................. 101
3.3.1. Giáo dục ĐH & THCN phải phục vụ đƣờng lối và nhiệm vụ cách mạng.................... 101
3.3.2.Phát triển nền giáo dục Đại học & Trung học Chuyên nghiệp mang tính nhân dân. ..... 103
3.3.3. Xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đảm bảo về số lƣợng và chất
lƣợng tốt. ........................................................................................................................... 105
3.3.4. Nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, mở rộng quan hệ quốc tế. .................................... 110
KẾT LUẬN ............................................................................................... 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................ 115
3
MỞ ĐẦU
4
lược cách mạng: xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước
nhà, đặc biệt từ năm1965 trở đi, chống Mỹ cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng
của mọi người Việt Nam yêu nước. Đây là giai đoạn đầy biến động của giáo
dục ĐH &THCN Việt Nam. Trước tình hình mới, Đảng ta thực hiện chủ trương
chuyển hướng công tác giáo dục, đẩy mạnh qui mô đào tạo cán bộ chuyên môn,
tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong trường học, thực hiện
nguyên lý, phương châm giáo dục trong hoàn cảnh chiến tranh, và sáng tạo ra
nhiều hình thức, phương pháp giáo dục, đào tạo, bồi dữơng con người để đưa
nền giáo dục ĐH &THCN phát triển mạnh mẽ, góp phần xứng đáng vào công
cuộc xây dựng miền Bắc XHCN và sự nghiệp thống nhất đất nước, tạo tiền đề
quan trọng cho nền giáo dục ĐH &THCN giai đoạn sau.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Từ lâu, giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục ĐH &THCN nói riêng là
đề tài được nhiều cán bộ khoa học, các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước,
nhiều nhà quản lý giáo dục quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu trên nhiều góc độ
khác nhau. Có thể kể các tác phẩm tiêu biểu như, “Về vấn đề giáo dục”-tập hợp
những bài viết, bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh; “Mấy vấn đề về văn
hoá giáo dục” -tập hợp những bài viết, bài nói chuyện của đồng chí Phạm Văn
Đồng; “Về văn hoá giáo dục” của Nguyễn Khánh Toàn; “Lịch sử ĐH &
THCN Việt Nam” tập I, do Lê Văn Giạng chủ biên; “Sơ thảo lịch sử ĐH
&THCN Việt Nam giai đoạn 1955- 1975, do Nguyễn Được biên soạn phần
giáo dục đại học, Nguyễn Tuỳ biên soạn phần giáo dục THCN; "Chiến lược
phát triển giáo dục 2001-2010" của Thủ tướng Chính phủ(12 năm 2001).(chúng
tôi sẽ đề cập những công trình nghiên cứu về giáo dục ở phần danh mục tài liệu
tham khảo).
5
- Đường lối chủ trương của Đảng về xây dựng nền giáo dục ĐH &THCN,
trọng tâm là giai đoạn chuyển hướng giáo dục 1965- 1975; sự lãnh đạo, chỉ đạo
của các cấp uỷ đảng và tinh thần vượt khó vươn lên của thầy trò các trường
trong việc xây dựng nền giáo dục ĐH &THCN.
- Những nội dung cụ thể trong việc đẩy mạnh qui mô, nâng cao chất lượng
đào tạo toàn diện, thực hiện phương châm giáo dục của Đảng.
-Thàng tựu và hạn chế của ngành giáo dục ĐH &THCN trong quá trình
xây dựng và trưởng thành.
b. Mục đích và nhiệm vụ: :
- Trình bày có hệ thống quá trình lãnh đạo của Đảng về giáo dục ĐH
&THCN từ năm 1965 đến năm 1975, nhất là về đường lối chủ trương, biện
pháp trong việc thực hiện chuyển hướng giáo dục.
- Làm rõ nội dung các giai đoạn lịch sử hình thành và phát triển của giáo
dục ĐH & THCN miền Bắc.
- Xác định đặc điểm phát triển của giáo dục ĐH &THCN miền Bắc thời
kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
- Bước đầu rút ra những nhận xét và bài học kinh nghiệm lịch sử và đề
xuất một số kiến nghị, phục vụ cho việc xây dựng nền giáo dục ĐH & THCN
trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
4. Nguồn tài liệu tham khảo.
Nguồn tài liệu tham khảo chủ yếu là các văn kiện của Đảng và bài viết của
các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các công trình sử học của các tác giả Việt
7
Nam, các bài báo khoa học đăng trên tạp chí TW và địa phương có liên quan
đến đề tài v.v..
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Phương pháp cơ bản để tiếp cận đề tài là phương pháp lịch sử và phương
CHƢƠNG 1
ĐẢNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC &
TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP(1965-1969).
1.1.VÀI NÉT VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC & TRUNG HỌC CHUYÊN
NGHIỆP MIỀN BẮC TRƢỚC NĂM 1965.
1.1.1. Giáo dục Đại học & Trung học Chuyên nghiệp nƣớc Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà trong thời kỳ 1945-1954.
Quốc tử giám mở năm 1075, có thể coi là trường đại học đầu tiên của Việt
Nam. Trong gần một trăm năm đô hộ, thực dân Pháp chỉ xây dựng cho cả Đông
Dương một trường đại học gồm hai khoa( khoa luật và khoa y) và vài trường
cao đẳng như Canh nông, Thương mại, Công chính, Mỹ thuật, Sư phạm, Thú y,
Khoa học và chín trường trung cấp[3, tr13-14]. Qui mô đào tạo nhỏ bé và không
đều giữa các ngành. Số lượng học sinh đại học năm cao nhất (1942) là 1085
người, trong đó số học sinh luật khoa và y khoa chiếm số đông. Thực dân Pháp
coi trường học là công cụ quan trọng để chinh phục thuộc địa, đào tạo công
chức cho bộ máy cai trị, các cơ sở kinh doanh, thương nhân và đồn điền.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, mở ra kỷ nguyên : độc lập,
tự do cho dân tộc. Ngay từ khi mới ra đời, chính quyền cách mạng non trẻ rất
quan tâm đến việc phát triển nền giáo dục nước nhà. Trong tình thế vận mệnh
đất nước như “ngàn cân treo sợi tóc”, biết bao việc quan trọng phải giải
quyết, song Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn khẳng định vai trò của giáo
9
dục, và chủ trương chống nạn thất học, khôi phục nền giáo dục ĐH &THCN
đã bị hoang tàn do các giáo sư người Pháp bỏ đi, sinh viên tản mạn mỗi người
một nơi từ ngày Nhật đảo chính Pháp(9.3.1945). Chỉ thị "Kháng chiến kiến
quốc" của BCHTƯ Đảng ra ngày 25. 11. 1945 nêu ra nhiệm vụ về văn hóa
không chỉ tổ chức bình dân học vụ, tích cực bài trừ nạn mù chữ mà còn nêu rõ
bỏ quan điểm chuyên môn đơn thuần, học thuật vị học thuật[ 4, tr 205].
Đến năm 1960, cùng với việc chuyển biến mạnh mẽ trên lĩnh vực kinh tế,
xã hội, ngành ĐH & THCN có bước phát triển quan trọng về số lượng lẫn chất
lượng. "Hệ thống quan điểm chính trị và tư tưởng giáo dục XHCN được xác
lập trong nhà trường. Đội ngũ cán bộ đại học tăng gấp 8 lần, THCN tăng gấp
6,2 lần so với năm 1954; cán bộ những ngành sản xuất trước kia(1954) chỉ
chiếm vài phần trăm, thì nay đã chiếm tỷ lệ là 31,4% về đại học, và 38,7% về
THCN."[ 3, tr 24]
Đại hội lần thứ III của Đảng tháng 9 năm 1960 đã nêu rõ: công tác giáo
dục, văn hóa phải được phát triển trên qui mô lớn và phải phục vụ đường lối và
nhiệm vụ cách mạng của Đảng. Phải bồi dưỡng thế hệ trẻ thành những người
lao động làm chủ đất nước, có giác ngộ XHCN, có văn hóa và kỹ thuật, có sức
khoẻ, những người phát triển toàn diện, để xây dựng xã hội mới, đồng thời phải
phục vụ đắc lực cho việc đào tạo cán bộ xây dựng kinh tế và văn hóa XHCN.
Đối với ngành ĐH & THCN, Nghị quyết nêu rõ"Tăng cường ngành đại học,
phát triển ngành chuyên nghiệp cao cấp, nghiên cứu cải tiến nội dung học tập
và trước hết cần rút ngắn thời gian học tập ở những nơi cần thiết, và có thể sao
cho có thể nhanh chóng cung cấp nhiều cán bộ cho nhu cầu phát triển kinh tế,
văn hóa.”[19, tr 9]
Về việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ chuyên môn trong các khối nông
nghiệp, công nghiệp, kinh tế .., tiếp tục được đề cập đến NQTƯ 5(7. 1961) về
phát triển kinh tế nông nghiệp; NQTƯ 7 (5.1962) về xây dựng và phát triển
công nghiệp; NQTƯ 10(12. 1964) về thương nghiệp và giá cả. Những văn kiện
trên ra đời đã đưa công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ chuyên môn thực sự trở
14
thành bộ phận gắn bó hữu cơ với đường lối cách mạng XHCN, có tác dụng đưa
nền giáo dục ĐH &THCN phát triển mạnh mẽ.
Số học sinh
Số học sinh đào
phân hiệu
tuyển mới
tạo tại trường
Học sinh tốt nghiệp trong năm
(Đào tạo trong nước)
Trongđó Cánbộ
trường,
giảng
Trongđó :
phânhiệu
dạy
Tổng
Tổngsố hệdài hạn Tổng số
đàotạodài
số
tập trung
hạn
Trongđó
hệdài
5.119
29.337
22.374
7.241
Bảng 1.2[22, tr 11]
Trường, phân hiệu đào tạo dài hạn.
(Phân theo khối ngành)
Tổngsố Trong tổng số
Trường
Năm học
Tổng
Phân
Công
hiệuđại hợp
họcdài (KHCB) nghiệp
hạn
1955-1956
4
1
1964-1965
3
3
1
16
Bảng 1.3[22, trr 83]
Số học sinh tuyển Số học sinh đào tạo
mới
tại trường
Trường lớp
Năm học
Trong đó
Tổng
số
Tw
1955-1956
8
8
3.000
13.642
8.007
42.626
25.233
8.989
Đp
58
Học sinh tốt nghiệp
Trường lớp - Cán bộ giảng dạy - Học sinh THCN.
Bảng 1.4[22, tr 86]
Trường lớp THCN
Năm học
Tổng
số
Khối các trường
Công
21
YdượcThể Vănhoá
Dụcthể
nghệ thuật
thao
2
14
7
Đến năm học 1965, riêng khối đại học đã có 22 nhóm ngành, 97 ngành.
Như vậy, số lượng trường, lớp, cán bộ giảng dạy, sinh viên, ngành nghề
đào tạo tăng nhanh so với những năm hoà bình mới lập lại(1955-1956), và hệ
thống các trường ĐH & THCN "bắt đầu được xây dựng với cơ cấu ngành học
17
tương đối toàn diện, bao gồm hầu hết các lĩnh vực, kinh tế, văn hóa trong đó
các ngành học về kỹ thuật công nghiệp, nông nghiệp và kinh tế đặc biệt được
chú trọng phát triển” [3, tr38].
Cùng với sự phát triển về qui mô, chất lượng đào tạo cán bộ chuyên môn
cũng được nâng lên rõ rệt.
Báo cáo của Bộ giáo dục( tháng 6. 1963) nhận xét: các trường bước đầu đi
vào nề nếp, mục tiêu đào tạo như kế hoạch học tập và chương trình các môn
học được cải tiến phù hợp, nhiều biện pháp được áp dụng để tăng cường công
1964-1965
6.701
5.119
Bảng 1.6.[22, tr 97]
19
Học sinh tuyển vào các trường THCN.
Đơn vị tính: Người
Năm học
1960-1961
Tổng số
16.066
Trong đó
Dàihạntập
trung
Chuyên tu
15.175
ĐP
3.000
Về mạng lưới trường, chưa có phương hướng thống nhất giữa Bộ giáo dục
và các cơ quan liên quan trong việc điều chỉnh các trường đại học thuộc khối
kinh tế tài chính, nông nghiệp, khoa học cơ bản, y tế và văn hóa, để có sự phát
triển cân đối giữa các ngành. Nghị quyết 142/NQ-TƯ ra ngày(28.6.1966) của
BCTBCHTƯ Đảng nhận xét
chúng ta chưa có qui hoạch dài hạn về vấn đề đào tạo cán bộ, việc
chỉ đạo kế hoạch đào tạo cán bộ lại thiếu chặt chẽ, có nơi có hiện
tượng vừa thiếu cán bộ, vừa mất cân đối; nhưng có lúc, có nơi lại
thừa. Sự phân bố cán bộ chưa được cân đối giữa các ngành nghề,
trong mỗi ngành nghề lại chưa được hoàn chỉnh[19, tr 53-54]
Về chất lượng đào tạo, có một số cán bộ, học sinh, sinh viên chưa quán
triệt mục tiêu và phương châm giáo dục của Đảng. Ý chí phấn đấu và tình cảm
cách mạng của một số sinh viên còn yếu, trình độ giác ngộ về giai cấp, lý tưởng
XHCN còn thấp, sống và học tập chưa thấm nhuần mục đích xây dựng và bảo
vệ miền Bắc XHCN, hết lòng giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất nước
20
nhà. Trong cán bộ giảng dạy, lập trường quan điểm giai cấp, trình độ hiểu biết
đường lối chính sách còn có những hạn chế.
Sản phẩm đào tạo ra chất lượng còn thấp, "trình độ kiến thức cơ bản và khả
năng vận dụng lý luận vào thực tiễn sản xuất và công tác còn bị hạn chế nhiều"[19, tr
54]
.
Miền Bắc là căn cứ địa cách mạng, là hậu phương lớn cung cấp sức người, sức
của cho chiến trường miền Nam. Mục tiêu của việc mở rộng chiến tranh đánh
phá miền Bắc là "phá hoại tiềm lực kinh tế và quốc phòng, phá công cuộc xây
dựng CNXH ở miền Bắc, ngăn chặn nguồn chi viện từ bên ngoài vào miền Bắc
và từ miền Bắc vào miền Nam; uy hiếp tinh thần, làm lung lay ý chí chống Mỹ,
cứu nước của nhân dân ta"[12 , tr 214]
Cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ra miền Bắc đã làm cho tình
hình từ một nửa nước có chiến tranh, một nửa nước có hòa bình, lan ra thành cả
nước có chiến tranh, với hình thức và cấp độ khác nhau ở mỗi miền. Miền Nam
vẫn là tiền tuyến lớn, miền Bắc vẫn là hậu phương lớn vừa trực tiếp chiến đấu,
vừa làm nhiệm vụ xây dựng CNXH, chi viện cho miền Nam. Trong điều kiện
mới, nhiệm vụ cấp bách của miền Bắc là “ phải kịp thời chuyển hướng tư tưởng
và tổ chức, chuyển hướng xây dựng kinh tế và tăng cường thực lực quốc phòng
cho phù hợp"[20, tr 219]. Nghị quyết 11 của BCHTƯ Đảng( 25- 27.3.1965) nêu rõ,
nhiệm vụ cụ thể của miền Bắc là phải tích cực đẩy mạnh phát triển nông nghiệp
ở cả miền Bắc, đặc biệt phải phát triển nhanh chóng nông nghiệp ở trung du và
miền núi, phải chú trọng phát triển công nghiệp địa phương và thủ công nghiệp
mạnh hơn, chú trọng hơn nữa việc xây dựng xí nghiệp vừa và nhỏ. Lúc này
công tác đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ được Đảng đặc biệt chú ý. Việc đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ vừa đáp ứng yêu cầu ngày càng lớn sự nghiệp kháng
chiến chống Mỹ cứu nước, đồng thời tính đến lâu dài của cả hai miền.
Đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc vào thời điểm chúng ta kết
thúc kế hoạch 5 năm lần thứ nhất “ miền Bắc đã có những bước tiến dài chưa
từng thấy trong lịch sử. Đất nước, xã hội, con người đều đổi mới”. Các thành
phố không ngừng được mở rộng ; nhiều nhà máy, xí nghiệp theo tiêu chuẩn
hiện đại ra đời, các hợp tác xã bậc cao phát triển; đời sống vật chất, tinh thần
của nhân dân từng bước được cải thiện. Sự chuyển biến về kinh tế, xã hội đặt ra
22
trong một thời gian tương đối ngắn, xây dựng cho được một đội ngũ cán bộ
khoa học, kỹ thuật và cán bộ quản lý kinh tế đông đảo, vững mạnh, ngày càng
hoàn chỉnh về ngành nghề, vừa có phẩm chất chính trị tốt, tuyệt đối trung
23
thành với Đảng, với giai cấp công nhân, với dân tộc, liên hệ chặt chẽ với công
nông, vừa có trình độ khoa học kỹ thuật và nghiệp vụ giỏi, nắm vững được qui
luật của tự nhiên và qui luật của xã hội, có năng lực tổ chức động viên quần
chúng, đủ sức giải quyết những vấn đề khoa học, kỹ thuật và quản lý kinh tế
do thực tế nước ta đề ra, và có khả năng tiến kịp trình độ khoa học, kỹ thuật
tiên tiến trên thế giới
Đảng và Chính phủ nêu rõ nội dung giảng dạy khoa học cơ bản và kỹ
thuật chuyên nghiệp là
Phản ảnh những thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật hiện đại
nhất, đồng thời phải kết hợp chặt chẽ với thực tiễn Việt Nam. Sau khi
sinh viên, học sinh đã học phần khoa học và kỹ thuật cơ bản( cả lý
thuyết lẫn thực hành) đối với những ngành có điều kiện, cần nghiên
cứu để tạo điều kiện đưa sinh viên, học sinh về cơ sở sản xuất, các
vùng kinh tế các viện nghiên cứu để tiếp tục học tập phần chuyên
nghiệp thuộc ngành đã chọn và tham gia một phần vào sản xuất [19, tr
48]
.
Việc giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ giảng dạy và sinh viên, học
sinh giờ đây được coi “là nghĩa vụ hàng đầu có tác dụng quyết định đến mọi
mặt của công tác khác trong nhà trường”[19, tr37]. Vì vậy cần giáo dục “truyền
thống đoàn kết, quyết chiến, quyết thắng của dân tộc, của giai cấp, truyền