Đảng lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang và đấu tranh vũ trang ở miền nam từ năm 1961 đến năm1965 - Pdf 41

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

LÊ ĐÌNH HÙNG

ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG LỰC LƢỢNG
VŨ TRANG VÀ ĐẤU TRANH VŨ TRANG Ở MIỀN
NAM TỪ NĂM 1961 ĐẾN NĂM 1965

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

1


HÀ NỘI-2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

LÊ ĐÌNH HÙNG

ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG LỰC LƢỢNG
VŨ TRANG VÀ ĐẤU TRANH VŨ TRANG Ở MIỀN
NAM TỪ NĂM 1961 ĐẾN NĂM 1965

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56

Ng ƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS,TS ĐOÀN NGỌC HẢI

HÀ NỘI-2009

đưa đấu tranh quân sự lên song song với đấu tranh chính trị ở miền Nam từ năm
1961 đến năm 1965” làm luận văn thạc sĩ lịch sử chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng Sản
3


Việt Nam của mình, với mong muốn góp phần tổng kết một giai đoạn lịch sử của cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Khái quát thành các nhóm:
- Nhóm các công trình tổng kết, các bài viết của các đồng chí lãnh đạo
Đảng, Nhà nước, quân đội.
Công trình tổng kết của Ban tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính
trị (1995)về “Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước – thắng lợi và
bài học” Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, đã đề cập diễn biến cuộc chiến
tranh, nêu lên những bài học về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Viện
Lịch sử quân sự có cuốn “Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước”,
tập III viết về chủ trương, biện pháp của Đảng đánh thắng chiến lược “Chiến
tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ. Cuốn “Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam”,
tập III, Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.
Cố Tổng bí thư Lê Duẩn có cuốn “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc
lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành thắng lợi mới” Nxb Sự Thật, Hà nội
1970. Đại tướng Văn Tiến Dũng “Về Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996. Đại tướng Võ Nguyên Giáp có “Chiến
tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc” , Nxb Sự Thật, 1979.
- Nhóm các sách chuyên luận, chuyên khảo xuất bản thành sách.
Lê Quốc Dân, “Cuộc đọ sức thần kì” Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội
1991. PGS. TS Nguyễn Trọng Phúc, “Tìm hiểu lịch sử Đảng Cộng sản Việt
Nam qua các đại hội và hội nghị Trung ương” Nxb Lao Động, Hà Nội, 2003.
Trần Văn Giàu, “Miền Nam giữ vững Thành đồng” Tập 2, Nxb Khoa học xã

Maicơn Máclia có tác phẩm “Việt Nam cuộc chiến tranh mười nghìn
ngày” Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 1990. Tác giả R.S Mác Namara với
cuốn “Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam” Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995. Hay R. Nich Xơn cũng đã đề cập một phần về
cuộc chiến tranh Việt Nam trong “Hồi ký” của mình Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, 2004. Do quan điểm lập trường giai cấp tư sản, các học giả có đề cập đến
5


cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam nhưng cách nhìn nhận đánh giá về cuộc
chiến tranh có khác nhau nên chưa thật sự khách quan.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn.
* Mục đích:
Làm sáng tỏ sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn sáng tạo của Đảng xây dựng
lực lượng vũ trang và đấu tranh vũ trang trong những năm 1961 – 1965 ở miền
Nam, nhân tố quan trọng quyết định đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt”
của đế quốc Mỹ. Làm rõ giá trị lịch sử, hiện thực và đúc rút những kinh nghiệm
có giái trị tham khảo vận dụng vào hiện nay.
3.2 Nhiệm vụ:
Để đạt mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:
 Làm rõ yêu cầu khách quan xây dựng lực lượng vũ trang và đấu tranh vũ
trang ở miền Nam từ năm 1961 đến năm 1965.
 Phân tích, luận giải làm sáng tỏ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng xây dựng
lực lượng vũ trang và đấu tranh vũ trang trong những năm 1961 – 1965.
 Đánh giá ý nghĩa lịch sử, đúc rút kinh nghiệm vận dụng vào giai đoạn mới.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu.
* Đối tượng: Luận văn tập trung nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của
Đảng Cộng Sản Việt Nam về xây dựng lực lượng vũ trang và đấu tranh vũ trang
ở miền Nam từ năm 1961 đến năm 1965.
* Phạm vi nghiên cứu:

Chƣơng 3: Ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm của quá trình chuyển
hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng (1961 - 1965)

7


Ch-¬ng 1

TÌNH HÌNH MIỀN NAM VIỆT NAM SAU HIỆP ĐỊNH
GIƠNEVƠ ĐẾN TRƢỚC NĂM 1961
1.1 Âm mƣu của Đế quốc Mỹ và bộ máy chính quyền tay sai
ở miền Nam Việt Nam
1.1.1 Âm mưu của Đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam
Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Việt Nam năm
1954 đã chính thức kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân
dân ta. Miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội
song từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam, chúng ta vẫn phải tiếp tục cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước.
Với âm mưu làm bá chủ thế giới, từ lâu đế quốc Mỹ đã nhòm ngó đến nước ta.
Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được ký kết buộc Pháp phải kết thúc cuộc
chiến tranh khiến đế quốc, điều này khiến Mỹ bàng hoàng lo sợ “Cộng sản sẽ
kiểm soát toàn bộ Đông Nam Á sẽ làm cho vị trí của Mỹ ở các mắt xích gồm các
đảo ngoài khơi Thái Bình Dương trở nên mong manh và sẽ phá hoại nghiêm
trọng lợi ích an ninh cơ bản của Mỹ ở viễn đông” [1, tr.237]. Vì thế, Mỹ quyết
định chọn Việt Nam làm nơi thí nghiệm chiến lược toàn cầu phản cách mạng
nhằm đè bẹp cách mạng Việt Nam, ngăn chặn và đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản ở
Đông Dương và Đông Nam Á. Qua đó răn đe các nước xã hội chủ nghĩa, đàn áp
phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.
Chỉ một ngày sau khi Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được ký kết, tổng
thống Mỹ Ai-xen-hao tuyên bố với báo chí rằng: Hoa Kỳ không tham dự vào

trang của các giáo phái thân Pháp. Lực lượng này bao gồm quân Bình Xuyên
của Bảy Viễn, lực lượng vũ trang Hoà Hảo và tín đồ Cao Đài có vũ trang.
Trong hơn một năm (từ tháng 4/1955 đến tháng 6/1956) Mỹ - Diệm đã lần
lượt thanh toán xong lực lượng quân sự để tiêu diệt nốt lực lượng các đảng
phái tay chân của Pháp như Đại Việt, Quốc Dân Đảng ... nhằm loại bỏ tận gốc
ảnh hưởng của Pháp, trừ hậu hoạ sau này.

9


Như vậy, tới cuối năm 1956, Mỹ đã hoàn toàn loại bỏ Pháp ra khỏi Việt Nam,
tiến tới độc chiếm toàn Đông Dương. Chính thức thực hiện mục đích biến miền
Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của mình. Để thực hiện mục đích đó
Mỹ gấp rút xây dựng chính quyền tay sai, tiến hành cải tổ ngụy quân làm công
cụ thực hiện chính sách xâm lược thực dân kiểu mới.

1.1.2 Chính quyền tay sai của Mỹ ở miền Nam Việt Nam
Tháng 3/1956, dưới sự bảo trợ của Mỹ, chính quyền Ngô Đình Diệm
tổ chức tổng tuyển cử, bầu ra Quốc hội. Tháng 10/1956, Diệm ban hành hiến
pháp của “nền Đệ nhất cộng hoà” - một chính quyền tay sai “hợp hiến, hợp
pháp” giả hiệu đã được xây dựng. Chính quyền đó đã thi hành hàng loạt các biện
pháp nhằm chống phá cách mạng, tiêu diệt phong trào đấu tranh của nhân dân
miền Nam, phá hoại Hiệp định Giơnevơ.
Về quân sự, Mỹ tăng cường cố vấn, chuyên viên quân sự sau đó lập ra
Bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Sài Gòn dưới danh nghĩa phái đoàn MAAG. Bên
cạnh đó, Mỹ còn tổ chức lại hệ thống quân chủ lực gồm cấp sư đoàn khinh chiến
và các trung đoàn quân độc lập địa phương. Quân chính quy được trang bị vũ
khí Mỹ, quần áo, cấp hiệu Mỹ. Hệ thống cố vẫn Mỹ đặt từ bộ tổng tham mưu
ngụy, đến các sư đoàn, trung đoàn, các quân khu, các trường huấn luyện, đến
các căn cứ quân sự, kho tàng quan trọng. Các tiểu đoàn ở giới tuyến cũng có cố

Bên cạnh Đảng Cần lao nhân vị, Diệm còn tổ chức ra phong trào cách
mạng quốc gia (tháng 10/1654) mà nòng cốt là giới công chức và nhân viên
chính quyền Sài gòn do Trần Chánh Thành đứng đầu, hoạt động với khẩu hiệu
“chống cộng sản”, chống phong kiến, chống thực dân nhưng thực chất là chống
cách mạng, chống nhân dân, đi theo Mỹ, tôn thờ Diệm. Tổ chức này phát triển
cả ở nông thôn và thành thị, thu hút khá đông lực lượng hình thành một số liên
đoàn như Liên đoàn phụ nữ, Liên đoàn thanh niên ...
Về mặt hành chính, Mỹ - Diệm xây dựng một bộ máy cai trị từ trung
ương đến tận thôn, xã. Ở trung ương, ngoài Quốc hội là cơ quan lập pháp, có
Tổng thống và kèm theo đó là Phủ Tổng thống với các Bộ Quốc phòng, ngoại
giao, nội vụ, kinh tế, tư pháp, y tế, công dân vụ ... Ở xã, Mỹ - Diệm đưa bọn ác
ôn về làm nòng cốt, buộc những người có thế lực hay kháng chiến cũ tham gia
11


chính quyền để tranh thủ nhân dân, sau đó thanh lọc dần hoặc biến họ thành tay
sai. Bộ máy kìm kẹp ở cơ sở gồm Hội đồng hương chính xã, ban đại diện ấp, uỷ
viên cảnh sát, tổng đoàn, xã đoàn, dân vệ, tổ chức ngũ gia liên bảo, mạng lưới
công an, do thám chìm nổi. Chúng buộc đồng bào lập sổ hộ tịch, làm thẻ căn
cước, phân loại từng gia đình hòng nắm chặt từng người dân.
Như vậy, về cơ bản chính quyền Mỹ - Diệm đã được xây dựng một cách
hoàn bị từ Trung ương đến cơ sở. Trên cơ sở đó chính quyền Mỹ - Diệm bắt tay
vào thực hiện “bình định” miền Nam Việt Nam. Việc đầu tiên, Ngô Đình Diệm
tiến hành là thực hiện chính sách “tố cộng, diệt cộng”.
Từ tháng 5/1955 đến tháng 5/1956, Mỹ - Diệm phát động “chiến dịch
tố cộng” giai đoạn một gọi là giai đoạn mở rộng diện trên quy mô rộng lớn toàn
miền Nam. Mục đích của “chiến dịch tố cộng” là gây uất hận trong dân chúng
đối với Việt cộng. Mục tiêu của địch là tập trung vào nơi có phong trào cách
mạng phát triển, đánh cả người hoạt động cách mạng và dân thường, lấy đánh
vào Đảng cộng sản làm mục tiêu quyết định nhất, vừa tiêu diệt được con người,

quy mô chưa từng thấy trên tất cả các phương tiện từ báo chí, truyền thanh
đến cả trường học ... nhằm nói xấu Đảng cộng sản, tô vẽ cho bộ mặt chính
quyền tay sai. Tiếp theo đó, chúng kết hợp quân ngụy với bộ máy kìm kẹp ở
cơ sở gồm bọn chỉ điểm, mật vụ, công an, những người phản bội cách mạng...
sục sạo vào xã, ấp nhận mặt từng người. Để khống chế đàn áp quần chúng,
địch dùng mọi biện pháp thâm độc như: tổ chức xé cờ ly khai Đảng, buộc vợ
có chồng đi tập kết hoặc thoát ly phải bỏ chồng, cha mẹ có con tham gia cách
mạng phải từ con. Cùng với biện pháp khống chế tù đày, địch còn kết hợp với
biện pháp o ép, mua chuộc, lừa mị đánh vào tâm lý, tình cảm và kinh tế, buộc
quần chúng phát hiện cán bộ, đảng viên.
Kết thúc giai đoạn 1 tố cộng, Mỹ - Diệm đạt được một phần ý đồ của
chúng là gây hoang mang, lo sợ trong dân chúng, tạo nên mối nghi ngờ về lòng
tin của nhân dân với cách mạng. Các chiến dịch tố cộng, diệt cộng ác liệt của
Mỹ - Diệm đã làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên dao động, mất lòng tin,
không giữ vững được khí tiết người cộng sản, đã ra đầu hàng, tự thú với địch.

13


Sau thành công bước đầu của giai đoạn 1, từ giữa năm 1956, Mỹ Diệm triển khai tiếp giai đoạn 2, trọng điểm là các tỉnh Nam Bộ, đồng thời
Ngô Đình Diệm ngang nhiên tuyên bố không thi hành Hiệp định Giơnevơ,
không hiệp thương với miền Bắc, không tổng tuyển cử. Từ đây, Mỹ - Diệm
tăng cường đánh phá với quy mô lớn và rất tàn bạo đối với nhân dân miền
Nam. Chúng công khai đưa vào Hiến pháp những điều khoản phủ nhận chủ
nghĩa cộng sản, “đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật”. Những kinh nghiệm
của tố cộng giai đoạn một được Mỹ - Diệm tận dụng triệt để trong giai đoạn
2. Tất cả những điểm trên làm cho tố cộng, diệt cộng giai đoạn 2 của Mỹ Diệm trở nên rất khốc liệt.
Bắt đầu từ ngày 24/6/1956 đến ngày 24/2/1957 địch sử dụng 2 sư đoàn
bộ binh (sư 11 và sư 13), 6 trung đoàn độc lập, 4 hải đoàn xung phong kết hợp
với các đoàn tố cộng và bộ máy kìm kẹp ở cơ sở mở cuộc hành quân mang tên

hưởng của cách mạng ở nông thôn, bần cùng hoá lực lượng đồng minh của giai
cấp công nhân trong cách mạng dân tộc dân chủ.
Cùng với việc thực hiện Chương trình cải cách điền địa, tháng 4/1957
Mỹ - Diệm cho ra đời cái gọi là “Chính sách tái định cư và cứu tế dân di cư”,
bằng việc xây dựng các khu dinh điền. Núp dưới danh nghĩa là một tổ chức
sản xuất nông nghiệp để giải quyết đời sống cho dân nghèo, đặc biệt là dân di
cư từ miền Bắc vào. Các dinh điền được thiết lập trên các cao nguyên hẻo
lánh và xung yếu dọc biên giới nhằm mục tiêu chủ yếu là xây dựng tuyến
ngăn chặn từ xa, từng bước bao vây, cô lập cách mạng. Chính Diệm - Nhu đã
xác định: “Khu dinh điền là biện pháp xẻ đường đưa dân vào chiến khu, mật
khu Việt cộng, dùng dân đề đẩy cộng sản ra khỏi vùng đó và dinh điền là nơi
cung cấp tin tình báo, nơi xuất phát để hành quân ngăn chặn xâm nhập”[1,
tr.67]. Ngay cả Trưởng phái đoàn viện trợ kinh tế Mỹ thì tuyên bố: “Phải làm
cho các khu dinh điền trở thành những cứ điểm bao vây bọn Việt cộng. Với ý
đồ như vậy, Mỹ - Diệm tổ chức bộ máy chỉ đạo để thực hiện chương trình này
rất chặt chẽ và thống nhất từ trung ương tới địa phương.
Với những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, sau gần 2 năm thực hiện (từ
4/1957 đền đầu năm 1959) trên toàn miền Nam, Mỹ - Diệm đã dồn được
15


128.374 người, trong đó có 90.436 người là dân di cư từ miền Bắc vào 84 khu
dinh điền, khai phá 12.322 ha đất canh tác. Riêng Nam Bộ, chúng xây dựng
được 7 khu gồm 47 điểm ở Phước Long, Kiến Phong, Kiến Tường, có cả những
khu dành cho các gia đình binh sĩ ngụy ở dọc biên giới huyện Mộc Hoá (Long
An), Tân Uyên ... [4, tr.40]. Phần lớn dân chúng bị dồn ép, cưỡng bức vào các
khu dinh điền, không chịu nổi cuộc sống khắc nghiệt, bị o ép mọi bề ở nơi rừng
thiêng, nước độc này nên cuối năm 1958, số bỏ trốn ngày càng tăng.
Sau hàng loạt các chiến dịch tố cộng, diệt cộng, các chương trình cải cách
điền địa, lập khu trù mật, khu dinh điền ... chính quyền Mỹ - Diệm đã làm cho cách

chi bộ đều khắp các xã hơn 2.000 đảng viên, cuối năm 1959 chỉ còn 18 chi bộ
với 162 đảng viên trong 115 xã [21, tr.326]. Trước tình hình như vậy, yêu cầu về
sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng đối với cách mạng miền Nam
ngày càng trở nên cấp thiết.

1.2 Tình hình cách mạng miền Nam giai đoạn 1954 - 1961
Hiệp định Giơnevơ được ký kết đã đưa cách mạng Việt Nam bước sang
giai đoạn mới. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng và bắt đầu công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội trong khi tình hình miền Nam lại có rất nhiều biến động. Trước
sự chuyển biến của tình hình, từ ngày 5 đến ngày 7/9/1954, BCT đã họp và ra
nghị quyết: “Về tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách mới của Đảng”.
Trên cơ sở phân tích những đặc điểm và tình hình mới của cách mạng
Việt Nam, BCT đề ra nhiệm vụ của cách mạng nước ta là: “Đoàn kết và lãnh
đạo nhân dân đấu tranh thực hiện hiệp định đình chiến... để củng cố hoà bình, ra
sức hoàn thành cải cách ruộng đất, phục hồi và nâng cao sản xuất, tăng cường
xây dựng. Quân đội nhân dân để củng cố miền Bắc, giữ vững và đẩy mạnh cuộc
đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam, đặng củng cố hoà bình thực hiện
thống nhất, hoàn thành độc lập dân chủ trong toàn quốc [16, tr.15].
Đối với miền Nam, BCT xác định nhiệm vụ của Đảng trong giai đoạn
hiện tại là: “Lãnh đạo nhân dân miền Nam đấu tranh thực hiện hiệp định đình
chiến, củng cố hoà bình, thực hiện tự do dân chủ (tự do ngôn luận, tự do hội
họp, tự do tổ chức, tự do đi lại...), cải thiện dân sinh, thực hiện thống nhất và
tranh thủ độc lập. Đồng thời phải lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống những
17


hành động khủng bố, đàn áp, phá cơ sở của ta, bắt bớ cán bộ ta và quần chúng
cách mạng, chống những hành động tiến công của địch, giữ lấy quyền lợi
quần chúng đã giành được trong thời kỳ kháng chiến, nhất là ở những vùng
căn cứ địa và vùng du kích cũ của ta” [16, tr.308].

quần chúng ... cũng tham gia phong trào.
Tuy nhiên, thực tiễn 2 năm đấu tranh chính trị, chứng tỏ với “chế độ độc
tài phát xít của tư sản mại bản và phong kiến thân Mỹ phản động nhất” mà Mỹ
dựng lên ở miền Nam thì đấu tranh bằng phương pháp hoà bình là không có hiệu
quả. Trước chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” của Mỹ - Diệm, cách mạng miền
Nam đã gặp rất nhiều khó khăn: nhiều gia đình bị ly tán, cơ sở cách mạng tan rã,
cán bộ, đảng viên bị bắt giết, tù đày. Số người bị tình nghi cán bộ, đảng viên, có
cảm tình với cách mạng bị giam lên đến hàng vạn. Điều này đòi hỏi Đảng phải
kịp thời chuyển hướng đấu tranh tìm ra phương pháp và hình thức thích hợp,
nhằm gìn giữ và phát triển lực lượng để khi có thời cơ kịp thời phát động quần
chúng đứng lên giành chính quyền về tay nhân dân.
Trước yêu cầu đó, tháng 6/1956, BCT họp và ra nghị quyết về tình hình
nhiệm vụ và công tác miền Nam Bộ Chính trị khẳng đinh: Tình hình quốc tế
và trong nước có những diễn biến phức tạp nên cuộc đấu tranh của người dân
ta ở miền Nam nhất định phải kéo dài và có nhiều khó khăn gian khổ. Bởi vậy
chúng ta phải chọn: “Hình thức đấu tranh của ta trong toàn quốc hiện nay là
đấu tranh chính trị, không phải là đấu tranh vũ trang. Nói như thế không có
nghĩa là tuyệt đối không dùng vũ trang tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định
hoặc không tận dụng những lực lượng vũ trang của các giáo phái chống
Diệm” [18, tr.225]. BCT chủ trương: “Cần củng cố lực lượng vũ trang, bán
vũ trang hiện có và xây dựng các căn cứ làm chỗ dựa. Đồng thời xây dựng cơ
sở quần chúng vững mạnh làm điều kiện căn bản để duy trì và phát triển
LLVT. Tổ chức tự vệ trong quần chúng nhằm bảo vệ các cuộc đấu tranh của
quần chúng và giải thoát cán bộ khi cần thiết” [18, Tr.228].
Nghị quyết BCT tháng 6/1956 đã thể hiện sự thay đổi trong đường
lối chỉ đạo cách mạng ở miền Nam. Nghị quyết đã chỉ ra những vấn đề cơ bản
19


của cách mạng miền Nam như vấn đề vũ trang tự vệ để bảo vệ phong trào đấu

20


ngàn (chỉ còn trên 8%). Tỉnh uỷ Gia Định sau nhiều lần “lột xác”, đến cuối năm
1959, không còn một tỉnh uỷ viên nào. Tỉnh uỷ Kiến Tường đến giữa năm 1959
chỉ còn lại 1 chi bộ, với 3 đảng viên trên địa bàn 21 xã. Một số địa phương như
Gò Công, Chợ Giao, Châu Thành, Mỹ Tho gần như vùng trắng. Khu uỷ Sài
Gòn, chợ Lớn đến đầu năm 1960, chỉ còn khoảng 200 đảng viên và quần chúng
nòng cốt. Khu uỷ chỉ còn 2 đồng chí Võ Văn Kiệt và Huỳnh Tấn Phát, buộc phải
đứng ngoài căn cứ để tiếp tục chỉ đạo phong trào [38, tr. 21].
Như vậy, trước sự khủng bố, đàn áp dã man của chính quyền Mỹ - Diệm,
cách mạng miền Nam Việt Nam đã bị tổn thất nặng nề. Đây được coi là thời kỳ
“đen tối” nhất của phong trào cách mạng miền Nam. Cuộc đấu tranh quyết liệt
của nhân dân chống Mỹ - Diệm đòi hỏi cấp bách phải có sự chuyển hướng chiến
lược đấu tranh mới có thể thống nhất nước nhà được.
Trước tình thế nóng bỏng của cách mạng miền Nam, tháng 1/1959, Ban
chấp hành TW Đảng quyết định triệu tập Hội nghị lần thứ 15 (khoá II) mở rộng
tại Hà Nội, do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì.
Trên cơ sở phân tích khoa học về đặc điểm, tính chất, mâu thuẫn hiện nay
của cách mạng miền Nam, Hội nghị Trung ương lần thứ 15 nhận định: “Cách
mạng Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo bao gồm 2 nhiệm vụ chiến lược: cách
mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ ở miền
Nam”. Nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là: “Đoàn kết toàn dân,
kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập
đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một
chính quyền liên hiệp dân tộc, dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc
và các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững hoà bình,
thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ tích cực góp phần
bảo vệ hoà bình ở Đông Nam Á và thế giới”.
Đồng thời, Nghị quyết cũng xác định phương hướng cơ bản của cách

chiến lược. Nhân dân miền Nam không thể tiếp tục đấu tranh chính trị như trước
được nữa. Nghị quyết 15 của TW đã đáp ứng phần nào nguyện vọng tha thiết đó
của phong trào cách mạng miền Nam. Tuy nhiên sự chuyển hướng này mới chỉ
22


là bước đầu. Đấu tranh vũ trang vẫn chỉ là phương thức hỗ trợ cho đấu tranh
chính trị, chưa thực sự là “phương án” cần thiết cho cách mạng miền Nam. Vì
“Nhiệm vụ căn bản trước mắt ở miền Nam hiện nay vẫn phải giữ vững và phát
triển phong trào, hình thức đấu tranh căn bản để đánh bại chính sách khủng bố
tàn bạo của địch vẫn là hình thức đấu tranh chính trị của quần chúng rộng rãi”
[24, Tr.184] và “Căn cứ tình hình trong nước và ngoài nước hiện nay, miền Nam
chưa đến thời kỳ trực tiếp cách mạng. Công tác căn bản của chúng ta vẫn là giữ
vững cơ sở Đảng, lãnh đạo phát triển phong trào đấu tranh chính trị của quần
chúng, xây dựng thực lực chính trị để chuẩn bị thời cơ. Nhiệm vụ chủ yếu của
các LLVT là tự vệ, tuyên truyền, trừ gian tức là phục vụ nhiệm vụ chính trị,
giành thắng lợi chính trị, chưa phải là giành thắng lợi quân sự và đánh đổ ngay
chính quyền địch” [24, Tr.185].
Tóm lại, trong suốt thời gian từ sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết
năm 1954 tới năm 1960, phong trào cách mạng miền Nam được tiến hành dưới
hình thức đấu tranh chính trị là chủ yếu. Chủ trương, đường lối của TW luôn tập
trung vào phương pháp đấu tranh hoà bình nhằm đòi chính quyền Mỹ - Diệm
thực hiện các điều khoản được ký kết trong Hiệp định.
Tuy nhiên, với mục đích, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu
mới, tiến lên ngăn chặn làn sóng chủ nghĩa xã hội ở Đông Dương, Mỹ - Diệm đã
ngang nhiên phá hoại Hiệp định. Chúng thi hành hàng loạt những biện pháp dã
man “tố cộng, diệt cộng”, Luật 10/59... đẩy phong trào cách mạng của nhân dân
miền Nam Việt Nam vào tình thế khó khăn, tổn thất nặng nề.
Trước sự khủng bố, đàn áp của địch, phong trào đấu tranh chính trị không
thể tiếp tục được duy trì và có hiệu quả. Nhiều cơ sở cách mạng bị phá vỡ, hàng

chủ nghĩa, nhất là Trung Quốc và Liên Xô.
Lên thay Ai-xen-hao làm Tổng thống nước Mỹ trong lúc chính sách đối
ngoại của Mỹ đang đứng trước những thách thức lớn lao, Ken-nơ-đi và chính
quyền Mỹ, trên cơ sở đánh giá lại toàn bộ tình hình thế giới và trong nước, đã
chấp nhận phương hướng chiến lược quân sự toàn cầu mới do M.Taylơ đề
xướng, mang tên “phản ứng linh hoạt”. Thực hiện chiến lược mới này, Mỹ vẫn
tiếp tục duy trì và phát triển lực lượng hạt nhân chiến lược làm “lá chắn”, làm
công cụ răn đe, đồng thời phát triển lực lượng thông thường để tiến hành cuộc
“chiến tranh hạn chế”, đảm bảo cho Mỹ tránh được đụng độ với các nước lớn
trong phe xã hội chủ nghĩa nhưng lại vẫn có thể giành được thắng lợi ở các nơi
khác bằng cách chủ động tạo ra ưu thế trong từng cuộc chiến tranh cụ thể do Mỹ
lựa chọn như cuộc chiến tranh Việt Nam.
Căn cứ vào việc sử dụng lực lượng và phương thức tiến hành “Chiến
tranh hạn chế” được phân thành hai hình thức là: “Chiến tranh đặc biệt” và
“Chiến tranh cục bộ”. Hai hình thức chiến tranh hạn chế này là bộ phận quan
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status