ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
------------------
ĐẶNG THỊ DUNG
ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG LÃNH ĐẠO
XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DÂN QUÂN DU KÍCH
TRONG KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC CHỐNG THỰC
DÂN PHÁP TỪ NĂM 1946 ĐẾN NĂM 1954
Luận văn thạc sỹ chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. VŨ QUANG HIỂN
Hà Nội - 2012
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 4
1.Lý do chọn đề tài ......................................................................................... 4
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài ........................................................ 7
2.1. Các công trình viết về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong đó có
đề cập đến vấn đề xây dựng lực lượng dân quân du kích ................................ 7
2.2. Những công trình đề cập đến sự lãnh đạo của Đảng và Đảng bộ trong
xây dựng lực lượng dân quân du kích ............................................................. 9
2.3. Đánh giá chung...................................................................................... 11
2.4 Các vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu sâu sắc và đầy đủ ................... 11
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................ 12
2.2. Chỉ đạo xây dựng lực lượng dân quân du kích địa phương .................... 64
2.2.1. Phát triển lực lượng, củng cố tổ chức .......................................... 64
2.2.2 Đẩy mạnh công tác giáo dục tư tưởng chính trị, trang bị huấn luyện
............................................................................................................. 66
Tiểu kết chƣơng 2 ....................................................................................... 76
Chƣơng 3:MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM LICH
SƢ̉.......... 78
̣
3.1. Một số nhận xét ..................................................................................... 78
3.1.1. Ưu điểm ...................................................................................... 78
3.1.2. Hạn chế ....................................................................................... 89
3.2. Một số kinh nghiệm lịch sử ................................................................... 90
3.2.1. Nhận thức đúng yêu cầu phát triển lực lượng dân quân du kích của
địa phương để xác định chủ trương phù hợp ......................................... 90
3.2.2. Muốn xây dựng lực lượng dân quân du kích có số lượng và chất
lượng cao, quá trình chỉ đạo thực hiện phải linh hoạt, thích hợp với hoàn
cảnh địa phương. .................................................................................. 92
2
3.2.3. Kết hợp đúng đắn giữa xây dựng lực lượng dân quân du kích với
lực lượng vũ trang khác. Gắn xây dựng lực lượng dân quân du kích với
xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện. .................................................. 95
Tiểu kết chƣơng 3 ....................................................................................... 97
KẾT LUẬN ................................................................................................. 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................ 104
3
lớn vào việc phân tán, chia cắt, giam chân, đánh tiêu diệt và tiêu hao lực
lượng địch, làm thất bại những âm mưu quân sự và chính trị của kẻ thù, góp
phầnlàm cho lực lượng Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về
sôốlượng và chất lượng, từng bước đua cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp đến thắng lợi.
Nhân dân Việt Nam đã phát triển rộng rãi chiến tranh du kích và coi đó
là một trong những hình thức chiến tranh cơ bản, một chiến lược quân sự
nhằm đánh bại thực dân Pháp xâm lược. Du kích, dân quân tự vệ, bộ đội địa
phương và những bộ phận bộ đội chủ lực hoạt động phân tán đã dùng cách
đánh du kích bất ngờ, linh hoạt, "lai vô ảnh, khứ vô tung", đánh nhanh, di
chuyển nhanh, khi phân tán, lúc tập trung, đánh địch mọi lúc, mọi nơi, đánh
địch bằng mọi thứ vũ khí và bằng mọi hình thức, làm cho quân địch tiêu hao
sinh lực, sa sút về tinh thần, ăn không ngon, ngủ không yên. Do thông thạo
địa hình, lại được nhân dân che chở, bộ đội địa phương, dân quân du kích đã
sử dụng chông, mìn, cạm, bẫy, "ong bò vẽ"...để đánh giặc, góp phần làm nên
thắng lợi chung của dân tộc.
Hải Dương - một vùng đất thuộc châu thổ Sông Hồng, là một địa bàn
có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng nối liền Thủ đô Hà Nội với Hải Phòng
và Quảng Ninh. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, dưới sự lãnh đạo của
Đảng, lực lượng dân quân du kích tỉnh Hải Dương đã lập nên nhiều chiến
công oanh liệt, góp sức vào thắng lợi chung của dân tộc và làm rạng rỡ thêm
truyền thống anh hùng bất khuất trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của một
vùng đất “giàu của, giàu người, giàu chiến công”.
Thực hiện chủ trương của Đảng ngay từ khi mới thành lập, Đảng bộ
tỉnh Hải Dương đã chú trọng lãnh đạo xây dựng lực lượng dân quân du kích
từ không đến có, từ yếu đến ngày càng vững mạnh, đáp ứng yêu cầu của cuộc
5
Để góp phần tìm hiểu cuộc kháng chiến chống Pháp của quân và dân
Hải Dương, đặc biệt là vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương trong
việc xây dựng lực lượng dân quân du kích địa phương, đáp ứng yêu cầu nâng
cao trình độ chuyên môn và tự hào về truyền thống quê hương, tôi chọn đề
tài: “Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo xây dựng lực lượng dân quân du
kích trong kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp từ năm 1946 đến
năm 1954” làm luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về xây dựng và phát triển lực lượng dân quân du kích trên
cả nước nói chung và lực lượng dân quân du kích ở Hải Dương nói riêng cho
đến nay đã có nhiều cuốn sách đã xuất bản, nhiều công trình nghiên cứu của
nhiều tác giả về cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Hải Dương. Có
thể khái quát thành các nhóm sau đây:
2.1. Các công trình viết về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
trong đó có đề cập đến vấn đề xây dựng lực lượng dân quân du kích
- Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ( 1945 – 1954 ), tập I,
II, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (Nxb, Quân đội nhân dân, Hà Nội 2001).
Cuốn sách đã khẳng định một trong những yếu tố thắng lợi của cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp là chủ trương đúng đắn của Đảng về xây dựng lực
lượng dân quân du kích trên phạm vi cả nước. Nhân dân trong cả nước có tinh
thần đoàn kết, thống nhất ý chí cao giữa Đảng và nhân dân. Đảng tin dân,
bám vào dân; dân tin Đảng, theo Đảng. Đây là sức mạnh to lớn để đánh bại
âm mưu thủ đoạn của kẻ thù trong suốt cuộc kháng chiến.
- Lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp trên địa bàn Hải Hưng
(1945 – 1954 ), (Bộ chỉ huy Quân sự Hải Hưng xuất bản năm 1988 ); Lịch sử
7
trong xây dựng lực lượng dân quân du kích
- “Đảng chỉ đạo phong trào chiến tranh du kích đường số 5 trong
kháng chiến chống Pháp” (luận văn của Nguyễn Tiến Trưởng). Luận văn đã
đề cập đến tầm quan trọng của việc xây dựng lực lượng dân quân du kích
trong kháng chiến, các phong trào chiến tranh tiêu biểu của quân dân ta trên
đường số 5, bước đầu tổng kết những thành tựu và hạn chế trong xây dựng lực
lượng dân quân du kích.
- “Đảng lãnh đạo xây dựng lực lượng dân quân du kích trong kháng
chiến chống Pháp 1946 – 1954” ( khoá luận tốt nghiệp Đại học của Nguyễn
Thị Ngọc Hoa). Khoá luận đã nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng về tình hình
xây dựng lực lượng dân quân du kích trên phạm vi cả nước. Những chủ
trương của Đảng trong các năm 1946 – 1950, 1951 – 1954 về sự cần thiết và
chủ trương, chỉ đạo thực hiện xây dựng lực lượng dân quân du kích. Khoá
luận khẳng định: “Đường lối xây dựng lực lượng dân quân du kích của Đảng
là đúng đắn và sáng tạo. Nó đáp ứng yêu cầu khách quan của lịch sử, đáp ứng
ý chí và nguyện vọng của quần chúng nhân dân là đứng lên chiến đấu vì độc
lập, tự do. Chính vì thế mà lực lượng dân quân du kích đã trở thành lực lượng
chiến lược, góp phần quyết định đến thắng lợi của chiến tranh” [48, tr. 96].
- Đảng bộ và nhân dân Kinh Môn kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược ( 12/ 1946 đến 4/ 1955 ),( Nhà in Hải Dương ). Sách đã đề cập đến
sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Kinh Môn cụ thể hoá đường lối lãnh đạo của
Đảng trong kháng chiến toàn dân, vấn đề quan trọng trong kháng chiến là xây
dựng lực lượng về mọi mặt, mà trọng tâm là xây dựng củng cố lực lượng vũ
trang, phát triển mở rộng lực lượng dân quân du kích để làm nòng cốt cho
cuộc kháng chiến. Chính vì vậy, ngay từ ngày đầu bùng nổ cuộc kháng chiến,
9
lực lượng dân quân du kích Kinh Môn còn hết sức non yếu, vũ khí thô sơ
cách nhìn tổng thể và khái quát về cuộc kháng chiến của nhân dân cả nước
trong đó có nhân dân Hải Dương. Ở những mức độ khác nhau, những tác
phẩm này đã đề cập đến chủ trương của Đảng bộ tỉnh trong việc xây dựng lực
lượng dân quân du kích. Nhưng về cơ bản chỉ đề cập đến việc xây dựng lực
lượng dân quân du kích trên phạm vi cả nước, nói về số lượng nhiều hơn vấn
đề xây dựng lực lượng, việc tác chiến của lực lượng dân quân du kích với bộ
đội chủ lực, bộ đội địa phương.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chưa tập trung đi sâu nghiên
cứu một cách có hệ thống như một công trình chuyên khảo; chưa hệ thống
hoá số liệu, kết quả làm được trong xây dựng lực lượng dân quân du kích về
số lượng, tư tưởng; chưa đánh giá về quá trình chỉ đạo của Đảng bộ trong xây
dựng lực lượng dân quân du kích; chưa tổng kết kinh nghiệm của Đảng bộ.
2.4 Các vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu sâu sắc và đầy đủ
- Trình bày luận giải một cách có hệ thống quá trình lãnh đạo xây dựng
lực lượng dân quân du kích với chủ trương, biện pháp cụ thể.
- Quá trình xây dựng và phát triển lực lượng dân quân du kích ở Hải
Dương qua các giai đoạn kháng chiến chống Pháp.
- Vai trò của lực lượng dân quân du kích Hải Dương trong kháng chiến
chống Pháp.
- Đánh giá ưu điểm và hạn chế của Đảng bộ Hải Dương trong lãnh đạo
xây dựng lực lượng dân quân du kích.
- Tổng kết kinh nghiệm lịch sử rút ra trong quá trình lãnh đạo xây dựng
lực lượng dân quân du kích.
11
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương trong việc xây dựng
và phát triển lực lượng dân quân du kích từ năm 1946 đến năm 1954. Từ đó
- Các Văn kiện Đảng, Đảng bộ tỉnh Hải Dương về cuộc kháng chiến
chống Pháp, những tài liệu về chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang của Trung
ương Đảng và Quân ủy Trung ương, Bộ tư lệnh quân khu, các nghị quyết, chỉ
thị của Liên Khu Ba, của Tỉnh ủy Hải Dương.
- Các tài liệu báo cáo, tổng kết, ghi chép của các ban, ngành có liên
quan gồm cả những tài liệu đã công bố và chưa công bố, các tài liệu có lư trữ
tại Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thư viện và các tài liệu khảo sát thực tiễn ở
địa phương.
- Các sách báo đã xuất bản ở Trung ương và địa phương tỉnh Hải
Dương viết về lịch sử kháng chiến chống Pháp của nhân dân Hải Dương.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở phương pháp luận: Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
trên cơ sở chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng, những
quan điểm cụ thể của Đảng về xây dựng dân quân du kích.
- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu:
Phương pháp lịch sử ( để mô tả đúng sự thật lịch sử, phản ánh một cách khách
quan sự lãnh đạo của Đảng bộ, xây dựng và phát triển dân quân du kích đúng
như thực tế khách quan.
13
Phương pháp logic: tổng kết, đánh giá một cách đúng đắn ưu điểm và
hạn chế của Đảng bộ cũng như thành tựu, hạn chế trong xây dựng và phát
triển dân quân du kích Đảng bộ tỉnh Hải Dương. Đồng thời để bước đầu tổng
kết một số kinh nghiệm lịch sử.
- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể khác
như: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh…
6. Đóng góp mới của luận văn
- Về mặt khoa học: Luận văn phân tích làm rõ vai trò lịch sử và sự lãnh đạo
Bắc giáp các tỉnh: Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh. Địa bàn Hải Dương
được giới hạn trong khoảng từ 20 độ 40’ vĩ độ bắc, từ 155 độ 55’ đến 106 độ
37’ độ kinh đông (theo bản đồ quân sự tỉ lệ 1/100.000). Nằm trải dài và án
ngữ phía Đông và Đông Bắc đồng bằng Bắc Bộ, từ Hưng Yên đến Hải Phòng,
từ tả ngạn sông Hồng đến sông Lục Đầu, nên Hải Dương chịu tác động mạnh
của hệ thống sông phía Bắc. Hải Dương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm
phía Bắc và có vị trí chiến lược về chính trị, quân sự hết sức quan trọng của
cả nước.
Ngoài việc tự cung tự cấp, phục vụ quốc kế dân sinh, nguồn lương
thực, thực phẩm của Hải Dương còn đảm bảo nhu cầu thiết yếu cho các thời
kỳ kháng chiến cũng như thời bình một cách kịp thời và có hiệu quả. Hải
Dương vẫn dựa vào sản xuất nông nghiệp là chính. Được thiên nhiên ưu đãi,
khí hậu ôn hoà, đất đai phì nhiêu, nên nghề trồng lúa nước là nghề chính của
nhân dân trong tỉnh. Hải Dương có nhiều khoáng sản phục vụ cho dân sinh và
quốc phòng như: than đá Cổ Kênh (Chí Linh), đất chịu lửa ở Trúc Thôn (Chí
15
Linh) và bô xít, cao lanh, đá vôi, cát trắng, than non, khí đốt….Diện tích rừng
không lớn nhưng có nhiều gỗ quý ở Bắc An, Hoàng Hoa Thám. Song, tre,
mây thì khá nhiều được trồng bao bọc ở hầu khắp các làng xóm trong địa bàn
tỉnh, ngoài việc phát triển nghề thủ công, nó còn tạo nghề cho công binh
xưởng Chí – Nam – Kinh (Chí Linh, Nam Sách, Kinh Môn), cho các bễ lò rèn
của các làng kháng chiến, cả vật liệu rèn kiếm, vót chông, gậy tầm vông, đánh
dao, đúc mìn, lựu đạn, địa lôi… tự túc một phần quan trọng vũ khí thô sơ
phục vụ dân quân du kích đánh giặc ngay giữa lòng địch trong suốt cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp.
Hải Dương là vành đai trực tiếp bảo vệ thủ đô Hà Nội, là tuyến trong
của thành phố Hải Phòng và là hậu phương trực tiếp của tỉnh biên giới Quảng
Ninh. Điểm cực bắc là xã Hoàng Hoa Thám (Chí Linh ). Phía Đông tiếp giáp
huyện Chí Linh và Đông Triều. Trong thời kỳ chống Pháp, địch đã dựa vào
đây để thiết lập hệ thống ngăn chặn chủ yếu, chống bộ đội chủ lực của ta từ
căn cứ Việt Bắc thâm nhập vào địch hậu.
Cùng với các tuyến đường chiến lược trên, Hải Dương còn có mạng lưới
đường bộ khá phát triển, chạy dọc ngang trên địa bàn toàn tỉnh, có ý nghĩa về
quân sự quốc phòng cũng như trong xây dựng phát triển kinh tế và phục vụ đời
sống nhân.Với ưu thế tuyệt đối về binh khí kỹ thuật và phương tiện cơ động,
trong cuộc chiến tranh từ năm 1946 đến năm 1954, Bộ chỉ huy quân sự Pháp
đã triệt để lợi dụng hệ thống đường sá, sông ngòi là những lợi thế của chúng ở
đồng bằng Bắc Bộ để thực hiện các ý đồ chiến dịch, chiến thuật và tiến hành
càn quét.
Điều kiện tự nhiên của Hải Dương thuận lợi cho việc phát triển kinh tế,
văn hoá - xã hội và củng cố quốc phòng an ninh.Trong kháng chiến chống
Pháp, vùng đồi núi được cắt về Quảng Yên, địa bàn Hải Dương hoàn toàn là
17
đồng bằng. Hải Dương là địa bàn lý tưởng thuận tiện cho không quân địch
hoạt động trong các cuộc chiến tranh. Vùng trời trên địa bàn Hải Dương cũng
đặt ra cho công tác phòng không quốc gia những vấn đề lớn về xây dựng lực
lượng, bố trí trận địa, triển khai phương án chống tập kích đường sông, đường
bộ, đường không chiến lược và chiến dịch của địch trong chiến tranh bảo vệ
Tổ quốc.
Địa hình của Hải Dương khá đa dạng, phần lớn là đồng bằng (chiếm
89%), bán sơn địa và rừng núi (chiếm 11%). Nhìn chung địa hình tương đối
bằng phẳng, nghiêng từ Tây sang Đông và từ Bắc xuống Nam. Mặt khác, Hải
Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hương chủ yếu là
gió Đông Nam và Đông Bắc, được chia thành hai mùa rõ rệt, mùa mưa
thường từ tháng tư đến tháng mười, mùa khô từ cuối tháng mười năm trước
làng khá kiên cố thuận tiện cho người và phương tiện thô sơ qua lại, có luỹ tre
bao bọc kín đáo và chắc chắn. Loại làng này chủ yếu ở các huyện: Cẩm
Giàng, Ninh Giang, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Nam Sách, Kim Thành, Thanh Miện.
Huyện Chí Linh và Kinh Môn (trừ các làng thuộc hai xã Đồng Lạc, Tân Dân
– Nam Chí Linh; năm xã thuộc khu Nam và khu Bắc dẫy Yên Phụ (Kinh
Môn) vừa là làng đồng bằng, vừa gần núi. Làng mạc ở đây thường nằm ven
sườn núi, sông, ở trong các thung lũng, khe, một số nơi có hang động; một số
làng nằm ngay cửa rừng hoặc nằm ăn liền vào dãy núi Yên Phụ rất hiểm trở.
Những nơi đây vừa tiện cho cấu trúc công sự, vừa tiện cho xây dựng các căn
cứ hậu phương cho chiến tranh khi áp dụng lối đánh phòng thủ. Nhưng đây
cũng dễ bị địch chia cắt, là nơi ta dễ gặp khó khăn khi tiếp tế hậu cần và các
loại vũ khí, khí tài.
Như vậy, với vị trí quan trọng, địa hình, khí hậu thuận lợi, Đảng bộ và
nhân dân Hải Dương có điều kiện phát huy thế mạnh xây dựng lực lượng dân
19
quân du kích và phát huy lối đánh du kích trong kháng chiến chống thực dân
Pháp góp phần làm nên thắng lợi chung của đất nước trước giặc ngoại xâm.
- Truyền thống lịch sử của tỉnh Hải Dương.
Trong quá trình dựng nước và giữ nước, cư dân trên mảnh đất Hải
Dương có truyền thống yêu nước nồng nàn, đứng lên đấu tranh chống thù
trong giặc ngoài, dày công khai phá, tạo dựng nên quê hương giàu đẹp.
Cư dân Hải Dương chiếm số lượng đông đảo và có truyền thống đấu
tranh bất khuất là điều kiện thuận lợi để Đảng đề ra chủ trương và chỉ đạo
thực hiện xây dựng lực lượng dân quân du kích và phát động chiến tranh nhân
dân của Đảng.
Nhân dân Hải Dương tự hào về những truyền thống vẻ vang của quê
hương trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
đến nhận thức, tư tưởng của nhân dân Hải Dương. Tất cả những yếu tố đó đã
thấm sâu vào tiềm thức mỗi người dân, trở thành nguồn động lực to lớn bên
trong thôi thúc và phát huy sức mạnh cộng đồng trong sự nghiệp đấu tranh,
xây dựng và bảo vệ đất nước.Cũng như nhân dân cả nước, trong quá trình
dựng nước và giữ nước, nhân dân Hải Dương có nguồn sức mạnh vô cùng to
lớn được hun đúc từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hải Dương cũng là một
trong những miền đất tiêu biểu của các công cuộc trị thuỷ, khẩn hoang và lao
động cần cù sáng tạo.
Không chỉ bền bỉ và kiên trì trong quá trình chinh phục thiên nhiên,
nhân dân Hải Dương còn có tài trí, dũng cảm kiên cường trong đấu tranh
chống kẻ thù xâm lược. Lịch sử đấu tranh chống xâm lược của tỉnh là lịch sử
của những chiến công hào hùng. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ
nước, nhân dân Hải Dương đã hun đúc nên truyền thống yêu nước, ý chí
chiến đấu kiên cường trong các cuộc chiến tranh chống kẻ thù xâm lược.
21
Với nguồn tài nguyên phong phú và vị trí chiến lược quan trọng, Hải
Dương luôn là mục tiêu chiếm đóng và đặt ách cai trị của các thế lực phong
kiến và bè lũ thực dân, đế quốc xâm lược.
Ngay từ thời cổ - trung đại, với sức mạnh của truyền thống đoàn kết,
yêu nước nhân dân Hải Dương đã lập nên biết bao chiến công hiển hách trong
chống ngoại xâm phương Bắc. Nhân dân Hải Dương cùng cả nước đương đầu
với hàng chục cuộc chiến tranh của các đội quân xâm lược: Tần, Hán, Tống,
Nguyên, Minh, Thanh và tham gia nhiều cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ để giành
độc lập tự do. Đó là, chiến công từ thời Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa,
chặn đánh quân Mã Viện nhà Đông Hán ở cửa sông Văn Úc.
Đầu thế kỷ thứ X (905), Khúc Thừa Dụ từ Hồng Châu - Ninh Giang đã
lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa lật đổ chính quyền đô hộ nhà Đường, lập nên
Hoàn cảnh lịch sử
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền mới được
thành lập, cùng với cả nước, Đảng bộ và nhân dân Hải Dương phải đối phó
với nhiều khó khăn phức tạp: nạn đói chưa chấm dứt, nạn lụt chưa được giải
quyết, thù trong giặc ngoài đe doạ, tình hình như "nghìn cân treo sợi tóc".
Sản xuất nông nghiệp suy giảm. Mùa lũ năm 1945, nước sông Thái Bình
lên to, nhiều đoạn đê có nguy cơ bị vỡ, nước tràn vào đồng làm úng ngập
hàng trăm hécta ở các huyện Nam Sách, Thanh Hà, Tứ Kỳ. Sau nạn đói tháng
3- 1945, sức khoẻ của người dân giảm sút, bệnh tật nhiều, thiếu ăn, thiếu
ruộng hoặc không có ruộng cày cấy do bị địa chủ tước đoạt hoặc cầm cố.
Ngành công nghiệp, tiếu thủ công nghiệp trên địa bàn gần như đình trệ.
Một số xí nghiệp, nhà máy, hầm mỏ của tư bản như: Nhà máy Chai, Nhà máy
Nước, Nhà máy Rượu, Mỏ than Mạo Khê... do chiến tranh tàn phá, thiếu
23
nguyên liệu cũng ngừng hoạt động. Hàng trăm công nhân, thợ thủ công và
dân nghèo thành thị không có việc làm, đời sống cơ cực, đói kém. Hàng hoá
khan hiếm.
Dưới danh nghĩa quân Đồng minh vào tước vũ khí quân đội Nhật, quân
đội Tưởng Giới Thạch tràn vào đóng ở thị xã Hải Dương, Phả Lại tới trên
1.000 tên, có lúc lên tới trên 2.000 tên. Theo chân chúng là bọn Việt Quốc,
Việt Cách phản động, câu kết với nhau ra sức gây rối, âm mưu lật đổ chính
quyền cách mạng còn non trẻ. Chúng lập trụ sờ ở một số huyện như: Bình
Giang, Tứ Kỳ, thị xã Hải Dương. Chúng tăng cường hoạt động khiêu khích
trắng trợn như rải truyền đơn, áp phích, báo chí nói xấu cộng sản, nói xấu
Việt Minh, hoặc bắt bớ cán bộ du kích. Quân Tưởng đã bao vây trụ sở công
an tỉnh, bắt đồng chí Trưởng Ty Công an đưa đi Hải Phòng, bao vây huyện
Kinh Môn bắt đồng chí Chủ tịch uỷ ban hành chính huyện và bắn chết đồng