đảng lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang thời kỳ 1940 1945 - Pdf 33

1

Lời cảm ơn

Bản khoá luận tốt nghiệp này là bước đầu em làm quen với việc nghiên
cứu khoa học. Trước sự bỡ ngỡ và gặp nhiều khó khăn do chưa có nhiều kinh
nghiệm trong việc tiến hành nghiên cứu khoa học, em đã nhận được sự giúp
đỡ nhiệt tình của thầy giáo TS. Bùi Ngọc Thạch, cùng các thầy cô trong tổ
lịch sử khoa Giáo dục chính trị, trường ĐHSP Hà Nội 2 để em hoàn thành
khoá luận tốt nghiệp của mình.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong khoa, đặc biệt là
thầy giáo TS. Bùi Ngọc Thạch đã hướng dẫn em trong việc hoàn thành khoá
luận này.
Em xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, ngày 01 tháng 05 năm 2010
Sinh viên

Nguyễn Thị Hà


2

Lời cam đoan

Em xin cam đoan bản khoá luận này được hoàn thành do sự cố gắng nỗ
lực tìm hiểu, nghiên cứu của bản thân cùng sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo
TS.Bùi Ngọc Thạch.
Bản khoá luận này không trùng với các kết quả nghiên cứu của các tác
giả khác.
Sinh viên

2.1.1. Thành lập Ban cán sự Đảng tỉnh........................................................ 26
2.1.2. Tổ chức các hình thức đấu tranh tập hợp quần chúng trong các
tổ chức cứu quốc ............................................................................... 30
2.2. Thuyết phục tầng lớp thổ lang ngả theo cách mạng xây dựng
các khu căn cứ vũ trang...................................................................... 36


4

2.2.1. Tại vùng Tu Lý - Hiền Lương (Mai Đà) ........................................... 38
2.2.2. Tại vùng Diềm (Mai Đà) ................................................................... 40
2.2.3. Tại vùng Cao Phong - Thạch Yên (Kỳ Sơn)...................................... 42
2.2.4. Tại vùng Mường Khói (Lạc Sơn) ...................................................... 44
2.3. Hoạt động của các khu căn cứ vũ trang ở tỉnh Hoà Bình .............. 46
2.3.1. Xây dựng lực lượng vũ trang, mua sắm vũ khí, huấn luyện quân
sự ......................................................................................................... 46
2.3.2. Tổ chức khởi nghĩa giành chính quyền ............................................. 52
Chương 3: Đặc điểm và vai trò của các khu căn cứ
vũ trang ở tỉnh hoà bình trong cao trào kháng
nhật cứu nước và Tổng khởi nghĩa tháng Tám
năm 1945 .................................................................................................. 58
3.1. Đặc điểm của các khu căn cứ vũ trang ở tỉnh Hòa Bình ................ 58
3.1.1. Các khu căn cứ vũ trang đều là các địa bàn có vị trí chiến lược
quan trọng.......................................................................................... 58
3.1.2. Trong quá trình xây dựng các khu căn cứ vũ trang, việc vận
động, thuyết phục thổ lang ngả theo cách mạng có ý nghĩa quyết
định thắng lợi .................................................................................... 62
3.1.3. Các khu căn cứ tạo thành thế liên hoàn với các khu căn cứ của
ba tỉnh Hoà - Ninh - Thanh ............................................................... 65
3.2. Vai trò của các khu căn cứ vũ trang ở tỉnh Hòa Bình .................... 68

cuộc khởi nghĩa giành chính quyền.
Khi thời cơ đến, các khu căn cứ đó đã trở thành bàn đạp cho cuộc khởi
nghĩa giành chính quyền ở Hòa Bình, góp phần xứng đáng vào thắng lợi của
chiến khu Quang Trung và của cuộc Tổng khởi nghĩa trong cả nước.
Thành công của các khu căn cứ cách mạng ở Hòa Bình đã để lại nhiều
bài học kinh nghiệm quý báu, được Đảng bộ và nhân dân ở đây kế thừa, phát
triển trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, nhất là việc xây
dựng thế trận quốc phòng toàn dân trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc
hiện nay.
Việc nghiên cứu về các khu căn cứ cách mạng ở Hòa Bình trong thời kỳ
vận động cách mạng tháng Tám năm 1945, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu
sắc, làm sáng tỏ nghệ thuật chỉ đạo cách mạng của Đảng ta về vấn đề Mặt trận
dân tộc thống nhất, bạo lực cách mạng, khởi nghĩa vũ trang


7

Để đánh giá đúng đắn, khách quan những giá trị lịch sử của các khu căn
cứ vũ trang ở Hòa Bình nói trên, Tôi quyết định lựa chọn vấn đề "Các khu căn
cứ vũ trang ở tỉnh Hoà Bình trong Cao trào kháng Nhật cứu nước và Tổng
khởi nghĩa tháng Tám năm 1945" làm đề tài khoá luận của mình.
2. Lịch sử vấn đề
Vấn đề "Các khu căn cứ vũ trang ở tỉnh Hoà Bình trong Cao trào kháng
Nhật cứu nước và Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945" đã được các cơ
quan, cá nhân đề cập đến ở những mức độ, mục đích, theo các hướng tiếp cận
khác nhau. Cụ thể:
- Năm 1970, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Hòa Bình, xuất bản cuốn
sách Sơ thảo lịch sử cách mạng tháng Tám Hoà Bình 1940 - 1945. Cuốn sách
đã đề cập tới công cuộc xây dựng, chuẩn bị lực lượng tiến lên đấu tranh vũ
trang, khởi nghĩa giành chính quyền trong thời kỳ 1940 1945 ở tỉnh Hoà

"Các khu căn cứ vũ trang ở tỉnh Hoà Bình trong Cao trào kháng Nhật cứu nước
và Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945". Trong đó, nhấn mạnh:
- Vị trí chiến lược của tỉnh Hoà Bình.
- Sự ra đời, hoạt động của các khu căn cứ vũ trang ở tỉnh Hoà Bình
trong Cao trào kháng Nhật cứu nước và Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm
1945.
- Nêu lên đặc điểm và vai trò của các khu căn cứ.
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
4.1. Phương pháp nghiên cứu:
- Vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
làm cơ sở tư tưởng và lý luận để nghiên cứu đề tài.
- Sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgíc, trong đó
phương pháp lịch sử là chủ yếu.
- Tiến hành các phương pháp đối chiếu, so sánh để xác minh các nội
dung, sự kiện để làm sáng tỏ các vấn đề quan trọng của khoá luận.


9

- Ngoài ra, còn thực hiện phương pháp điền dã ở một số nơi trên địa bàn
tỉnh Hoà Bình.
4.2. Nguồn tài liệu:
- Nguồn tài liệu thứ nhất: Là các tác phẩm của Mác - Ăngghen, Lênin
nói về bạo lực cách mạng, về nhà nước và cách mạng.
- Nguồn tài liệu thứ hai: Là các văn kiện của Đảng ta nói về tư tưởng
của Đảng về vấn đề xây dựng lực lượng cách mạng chuẩn bị cho Tổng khởi
nghĩa từ năm 1939 đến năm 1945.
- Nguồn tài liệu thứ ba: Là các cuốn sách lịch sử do các cơ quan Trung
ương và địa phương xuất bản phản ánh về thời kỳ cách mạng 1930 1945,
trong đó có Hoà Bình.

- Chương 3: Đặc điểm và vai trò của các khu căn cứ vũ trang ở tỉnh Hoà
Bình trong Cao trào kháng Nhật cứu nước và Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm
1945.


11

Chương 1
Cơ sở thành lập các khu căn cứ vũ trang
ở Hoà Bình trong Cao trào kháng Nhật cứu nước
và tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945

1.1. Điều kiện tự nhiên và truyền thống đấu tranh yêu nước của
nhân dân tỉnh Hoà Bình

1.1.1. Điều kiện tự nhiên, dân cư, xã hội
Theo số liệu của chính quyền Pháp năm 1940 thì Hoà Bình có diện tích
tự nhiên là 3.788 km2, với dân số là 64.317 người.
Địa bàn Hoà Bình từ xa xưa là nơi cư trú của người Việt cổ, là quê
hương của nền văn hoá Hoà Bình nổi tiếng thế giới, góp phần xây dựng nền
văn minh châu thổ sông Hồng, nền văn minh của đất Thăng Long ngàn năm
văn vật. Đây cũng là nơi sinh tụ của nhiều dân tộc: Kinh, Mường, Dao, Thái,
Tày, Mông, người Hoa. Trong đó, người Mường chiếm đa số, theo số liệu
quản lý hành chính hàng năm của chính quyền Pháp năm 1940 thì người
Mường có tới 60.000 người, chiếm 93,2%. Còn các dân tộc Thái, Tày, Dao,
Mông, người Hoa sống chủ yếu ở châu Mai Đà.
Hoà Bình là một tỉnh miền núi, rất gần thủ đô Hà Nội và tiếp giáp với
vùng đồng bằng phì nhiêu của Bắc Bộ. Phía bắc giáp tỉnh Phú Thọ, tây bắc
giáp tỉnh Sơn La, đông giáp tỉnh Hà Đông, đông nam giáp tỉnh Hà Nam, phía
nam giáp tỉnh Ninh Bình, tây nam giáp tỉnh Thanh Hoá.

Sông Đà bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc), chảy vào Việt Nam từ
Lai Châu xuống Sơn La, đi qua địa phận Hoà Bình tạo thành một vòng lượn
dài 80 km. Khi đến thị xã Hoà Bình, con sông này chuyển hướng ngược lên
Sơn Tây, bắt vào sông Hồng ở Việt Trì. Đây là tuyến giao thông đường thuỷ
quan trọng, nối liền miền Tây Bắc với các vùng trung du, đồng bằng Bắc Bộ
"Rất thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá về xuôi" [2, tr.6].


13

Ngoài ra, còn có các con sông khác như: Sông Bôi (Kim Bôi) dài 125
km, sông Bưởi (Tân Lạc) dài 55 km, sông Lạng (Yên Thuỷ) dài 30 km, sông
Bùi (Lương Sơn) dài 32 km... [7, tr.13].
Hệ thống các con sông này có vai trò to lớn, vừa là nguồn cung cấp
nước tưới tiêu, vừa là mạng lưới giao thông quan trọng, có ý nghĩa chiến lược
trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng của nhân dân ta.
Do tiếp giáp với nhiều tỉnh đồng bằng, trung du, Hoà Bình là nơi tập
trung nhiều đầu mối giao thông quan trọng. Đường số 6, do thực dân Pháp mở
vào đầu thế kỷ XX, từ Hà Nội đi Tây Bắc thông tới biên giới Việt - Lào, đoạn
chạy qua Hoà Bình từ châu Lương Sơn tới địa đầu xã Phúc Sạn, châu Mai Đà.
Từ km 80, có thể vượt dốc Cun 6 km gặp đường 12A, 12B, nối Hoà Bình với
các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá. Thông qua đường số 6,
tỉnh lỵ Hoà Bình chỉ cách Hà Nội 75 km, nếu tính từ châu Lương Sơn nơi gần
nhất chỉ cách Hà Nội có 35 km. Đây là một con đường chiến lược quan trọng
nên cả thực dân Pháp và phát xít Nhật đều rất quan tâm kiểm soát con đường
này.
Đường 12A, nối với đường số 6 ở ngã ba Chăm (thị xã Hoà Bình), qua
dốc Cun, qua Mãn Đức, Vụ Bản (Lạc Sơn), xuống Nho Quan, qua huyện Gia
Viễn, bắt vào đường số 1 ở ngã ba Gián Khẩu (Ninh Bình). Đây là con đường
nối Hoà Bình với các tỉnh phía nam đồng bằng Bắc Bộ, nối với các khu căn cứ

Nội. Tỉnh Mường lúc này gồm 4 phủ: Vàng An, Lương Sơn, Lạc Sơn, Chợ Bờ.
Tỉnh lỵ tỉnh Mường đặt tại Chợ Bờ, sau đó chuyển về Phương Lâm. Nhưng do
ở đây thường bị ngập lụt, nên năm 1889, tỉnh lỵ lại chuyển về Chợ Bờ. Sau
cuộc tấn công của Đốc Ngữ (31/1/1891) vào Chợ Bờ, thực dân Pháp hoảng sợ
lại chuyển tỉnh lỵ về xã Hoà Bình. Từ tháng 3/1891, tỉnh Mường chính thức
gọi là tỉnh Hoà Bình, gồm 5 châu: Lương Sơn, Kỳ Sơn, Lạc Sơn, Mai, Đà Bắc,
một thời gian sau châu Mai và châu Đà Bắc gộp lại thành châu Mai Đà.
Là một tỉnh nhiều dân tộc, song Hoà Bình là địa bàn cư trú tập trung lâu
đời của đồng bào Mường. Vì vậy, nói đến xã hội Hoà Bình dưới thời thực dân
phong kiến là nói đến chế độ lang đạo, một hình thức tổ chức xã hội mang


15

tính chất lãnh địa cát cứ của riêng dân tộc Mường. Cho đến trước khi thực dân
Pháp xâm lược tình hình xã hội ở Hoà Bình đã phân thành hai đẳng cấp rõ rệt.
Đẳng cấp thống trị là: lang, tạo, chánh quản, thống lý và đẳng cấp bị trị là
đông đảo nhân dân các dân tộc Hoà Bình.
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, để đặt ách thống trị, chúng triệt để
khai thác đặc điểm của tỉnh Mường, thực hiện chính sách "dùng thổ lang trị
thổ dân", đồng thời dựa vào tầng lớp lang đạo phản động, tổ chức bộ máy
chính quyền tay sai. Do vậy, bộ máy cai trị của chúng ở Hoà Bình từ tỉnh
xuống xã là những tên lang đạo, phìa tạo, chánh quản khét tiếng trong việc áp
bức và bóc lột nhân dân. Ngày 23/6/1892, Toàn quyền Đông Dương ra nghị
định thành lập Hội đồng quan lang. Đứng đầu là một Chánh quan lang, giúp
việc cho Chánh quan lang là Phó quan lang và Đề đốc. Hội đồng quan lang do
Pháp tuyển chọn là những lang cun có thế lực lớn trong tỉnh, thuộc các dòng
họ Đinh, Quách.
Tuy nhiên, thực dân Pháp ngày càng thấy sự bất cập trong việc dựa hẳn
vào tầng lớp lang đạo, phìa tạo. Vì vây, thực dân Pháp tìm cách thay đổi cách

ngày nay) với những tên tuổi như Tư Mã, Hà Công Đáng, Hà Bổng...
Thế kỷ XV, quân Minh sang xâm lược và thống trị nước ta. Khi Lê Lợi
dựng cờ khởi nghĩa, đồng bào Thái, Mường ở Hoà Bình không chỉ tham gia
chiến đấu mà còn ủng hộ lương thực thực phẩm cho nghĩa quân khi bị vây
hãm ở núi Chí Linh.
Không chỉ có truyền thống chống giặc ngoại xâm phương Bắc mà nhân
dân các dân tộc Hoà Bình còn có tinh thần đấu tranh bất khuất chống sự áp
bức bóc lột. Tiêu biểu là cuộc nổi dậy chống lại triều đình nhà Nguyễn vào
năm 1883 do Lê Duy Lương lãnh đạo. Nghĩa quân phần đông là nhân dân các
dân tộc Hoà Bình do các thủ lĩnh địa phương như: Quách Tất Công, Đinh Thế
Đức, Đinh Công Trịnh chỉ huy. Các ông lấy Mường Bi (Tân Lạc), Mường Âm
làng Yên Lương (Yên Thuỷ) làm căn cứ rồi liên lạc với các lang vùng Lạc


17

Sơn. Mặc dù cuộc khởi nghĩa thất bại, nhưng nhân dân trong vùng vẫn theo họ
như trước đây.
Sau khi giặc Pháp xâm nhập vùng rừng núi Hoà Bình, nhân dân các dân
tộc đã liên tiếp nổi dậy phản kháng mạnh mẽ. Trong những năm 1886 - 1892,
nhân dân Hoà Bình cùng với nhân dân nhiều tỉnh bạn hưởng ứng phong trào
kháng Pháp do ông Đốc Ngữ lãnh đạo. Nghĩa quân Đốc Ngữ đã hoạt động
đánh địch nhiều năm ở suốt dọc sông Đà, đánh chiếm tỉnh lỵ Chợ Bờ và còn
gây cho giặc Pháp nhiều thiệt hại nặng nề. Năm 1890, một bộ phận của nghĩa
quân Đốc Ngữ, đại đa số là nhân dân vùng Mông Hoá do ông Đinh Công Uy
chỉ huy đánh Pháp nhiều trận ở vùng Phương Lâm, Quỳnh Lâm, Hoà Bình.
Cũng trong thời gian này, một bộ phận khác là nhân dân phía nam Hoà Bình
do ông Đốc Đập lãnh đạo, đã đánh thắng giặc Pháp nhiều trận oanh liệt, có lần
giết chết hàng trăm giặc Pháp tại vùng Quyèn Mu (Lạc Thuỷ).
Một trong những cuộc khởi nghĩa có tính tiêu biểu cho đồng bào các

Trên đây chỉ là một số trong rất nhiều biểu hiện cụ thể, chứng tỏ nhân
dân Hoà Bình đã có một tinh thần yêu nước, một truyền thống lịch sử đấu
tranh rất anh dũng chống giặc ngoại xâm. Đó là cơ sở để Đảng ta chủ trương
xây dựng nơi đây thành căn cứ quân sự để chuẩn bị lực lượng cho cuộc Tổng
khởi nghĩa giành chính quyền.
1.2. Chủ trương của Đảng ta về xây dựng lực lượng cách mạng
ở tỉnh Hoà Bình

1.2.1. Xây dựng địa bàn cách mạng tỉnh Hoà Bình nằm trong chiến khu
Hoà - Ninh - Thanh
Ngày 1/9/1939, phát xít Đức tấn công Ba Lan, cuộc chiến tranh thế giới
thứ hai bùng nổ, nhanh chóng lan rộng ra các nước châu Âu.
Sang năm 1941, chiến tranh thế giới thứ hai ngày càng lan rộng với tính
chất ác liệt. Trước tình hình đó, với tư cách là đại diện của Quốc tế cộng sản,
đồng chí Nguyễn ái Quốc đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng
lần thứ 8, tại Pác Bó (Cao Bằng), từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941.


19

Hội nghị nhấn mạnh: "Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai
cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia dân tộc. Trong lúc này nếu
không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự
do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu
mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng
không đòi lại được" [17, tr.113].
Hội nghị khẳng định: "Cách mạng Đông Dương, kết liễu bằng một cuộc
khởi nghĩa võ trang" [17, tr.129]. Cho nên, nhiệm vụ đặt ra là phải xúc tiến
chuẩn bị mọi mặt cho khởi nghĩa vũ trang. Khi thời cơ đến "thì lúc đó với lực
lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa

Chính vì vậy, để xúc tiến công việc chuẩn bị khởi nghĩa, Đảng ta chủ
trương đẩy mạnh việc phát triển lực lượng vũ trang, mở đường cho giải phóng
quân thực hiện Nam tiến để mở rộng phong trào cách mạng toàn quốc. Trung
ương Đảng quyết định tổ chức một chiến khu cách mạng trên địa bàn Hoà Ninh - Thanh và chỉ thị cho hai đồng chí Vũ Thơ và Vũ Đình Bản, phải tích
cực chuẩn bị mọi điều kiện, đón một đơn vị Việt Nam tuyên truyền giải phóng
quân từ Phú Thọ đi qua địa bàn. Đồng thời, giao cho đồng chí Vũ Thơ chịu
trách nhiệm tổ chức Hội nghị thành lập chiến khu Hoà - Ninh - Thanh.
Ngày 3/2/1945, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, đồng chí
Vũ Thơ đã triệu tập Hội nghị thành lập chiến khu Hoà - Ninh - Thanh, gồm
đại biểu của ba tỉnh, được tổ chức tại nhà ông Lương Văn Đưởng, thôn Lũ
Phong (Nho Quan, Ninh Bình).
Hội nghị đã nhất trí, địa bàn rừng núi của ba tỉnh Hoà - Ninh - Thanh có
một vị trí chiến lược quan trọng, là nơi nối liền giữa Việt Bắc, Tây Bắc với
đồng bằng Bắc Bộ, nối Bắc Kỳ với Trung và Nam Kỳ. Việc thành lập chiến
khu Hoà - Ninh - Thanh, sẽ tạo ra con đường để Việt Nam giải phóng quân
thực hiện Nam tiến, qua địa bàn ba tỉnh rồi vào các tỉnh Trung và Nam Kỳ.
Hội nghị đã bầu ra một Ban chỉ đạo chiến khu, do đồng chí Vũ Thơ, Bí
thư Ban cán sự Đảng Hoà Bình làm Bí thư chiến khu; vạch ra phương hướng
phát triển cho các địa phương và quyết định xây dựng tỉnh Hoà Bình nối liền
với chiến khu Quỳnh Lưu (Ninh Bình) và vùng núi Thanh Hoá làm căn cứ địa
của chiến khu.


22

Theo như kế hoạch, Việt Nam giải phóng quân sẽ từ Phú Thọ tiến sang
Hoà Bình, đi qua các vùng Tu Lý, Hiền Lương, Diềm, Cao Phong, Thạch Yên,
Mường Khói rồi xuống Quỳnh Lưu, qua Thanh Hoá. Do đó, yêu cầu quan
trọng trước mắt đối với Hoà Bình là phải gấp rút tổ chức cơ sở, chuẩn bị những
điều kiện cần thiết tại các địa điểm nói trên để đón giải phóng quân của Trung

Vào đầu tháng 5/1945, thực hiện nghị quyết Hội nghị quân sự cách
mạng Bắc Kỳ, đồng chí Văn Tiến Dũng từ Yên Phong về làng Vạn Phúc (Hà
Đông), làm việc với thường vụ Xứ uỷ Bắc Kỳ về công tác chuẩn bị cho cuộc
Tổng khởi nghĩa và triệu tập Hội nghị thành lập chiến khu Quang Trung trên
địa bàn Hoà - Ninh - Thanh.
Ngày 20/5/1945, đồng chí Văn Tiến Dũng, Thường trực Uỷ ban quân sự
cách mạng Bắc Kỳ, đã chủ trì Hội nghị thành lập chiến khu Quang Trung, tại
nhà ông Đinh Văn Ngoạn ở thôn Sầy, tổng Vân Trình, huyện Gia Viễn (Ninh
Bình). Tham gia Hội nghị có đại diện của Xứ uỷ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, đại diện
Đảng bộ các tỉnh Ninh Bình, Thanh Hoá, Hoà Bình (đồng chí Phan Lang, Bí
thư Ban cán sự Đảng tỉnh và đồng chí Vũ Thơ, Phó Bí thư Ban cán sự Đảng
tỉnh).
Hội nghị đã nhận định, thời cơ Tổng khởi nghĩa đang đến gần, cần phải
gấp rút chuẩn bị mọi điều kiện tiến lên Tổng khởi nghĩa cho kịp thời cơ. Qua
đó, đề ra nhiệm vụ của chiến khu trong tình hình mới.
Hội nghị thành lập Ban chỉ đạo chiến khu (gồm có 5 người): đồng chí
Văn Tiến Dũng, Uỷ viên thường trực Uỷ ban quân sự cách mạng Bắc Kỳ trực
tiếp chỉ đạo chiến khu; đồng chí Trần Tử Bình, Uỷ viên thường vụ Xứ uỷ Bắc
Kỳ được cử làm Bí thư chiến khu. Các đồng chí Nguyễn Văn Mộc, Bí thư Tỉnh
uỷ Ninh Bình; đồng chí Phan Lang, Bí thư Ban cán sự Đảng Hoà Bình; Lê
Chủ, Uỷ viên thường vụ Thanh Hoá, là Uỷ viên Ban chỉ đạo chiến khu.
Các đồng chí Uỷ viên Ban chỉ đạo chiến khu có trách nhiệm lãnh đạo
Ban cán sự Đảng (hoặc Ban thường vụ Tỉnh uỷ) ở mỗi tỉnh thực hiện mọi
nhiệm vụ chiến khu đề ra. Mỗi tỉnh sẽ thành lập một Uỷ ban quân sự cách
mạng cấp tỉnh đặt dưới sự chỉ đạo của Uỷ ban quân sự cách mạng chiến khu.


24

Uỷ ban quân sự cách mạng các tỉnh phải nhanh chóng xây dựng các

Điều đó chứng tỏ sự quan tâm sâu sắc của Trung ương Đảng đối với
một địa bàn chiến lược của miền núi phía tây bắc Bắc Bộ. Đồng thời, nó cũng
chứng tỏ Đảng ta đã kế thừa truyền thống của tổ tiên đánh giặc, khai thác triệt
để yếu tố "địa lợi, nhân hoà", xây dựng Hoà Bình thành khu căn cứ quân sự
nằm trong địa bàn chiến khu Hoà - Ninh - Thanh.


Trích đoạn Tại vùng Mường Khói (Lạc Sơn) Tổ chức khởi nghĩa giành chính quyền
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status