MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn hoá là thước đo cái nhân bản trong con người, là trình độ người
của các quan hệ xã hội. Văn hoá cũng chính là yếu tố làm nên bản sắc của
mỗi dân tộc, là nền tảng tinh thần của xã hội. Đối với dân tộc Việt Nam, "Văn
hoá là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử của dân tộc, nó làm nên sức sống
mãnh liệt, giúp cộng đồng dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao sóng gió và
thác ghềnh tưởng chừng không thể vượt qua được, để không ngừng phát triển
và lớn mạnh, viết nên những trang sử lạ lùng bởi tính kiên cường trong hoạn
nạn, bởi khí phách hào hùng trong giữ nước và dựng nước"1.
Chính vì vai trò to lớn ấy mà văn hoá cần có sự lãnh đạo của Đảng
không chỉ trong kháng chiến mà cả trong hoà bình. Sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam đối với văn hoá giúp cho văn hoá Việt Nam phát triển
theo chiều hướng lành mạnh, góp phần xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩamột chế độ mang lại lợi ích cho số đông. Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng
nhờ có Đảng lãnh đạo xây dựng và phát triển mà văn hoá Việt Nam đã góp
phần làm nên những chiến thắng vẻ vang của dân tộc.
Vì những lý do trên mà tôi lựa chọn đề tài "Đảng lãnh đạo xây dựng,
phát triển văn hoá thời kỳ 1930-1985" làm đề tài tiểu luận của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Tiểu luận nghiên cứu cơ sở hình thành những quan điểm của Đảng về
lãnh đạo, xây dựng nền văn hoá mới; quá trình lãnh đạo trong thời kỳ 19301985. Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm, khẳng định sự trưởng thành
trong nhận thức và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với lĩnh vực
văn hoá nói riêng, trong sự nghiệp cách mạng nói chung.
1
Phạm Văn Đồng, Văn hoá và đổi mới, Nxb CTQG, H.1994, tr 16-17
3. Lịch sử nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, tiểu luận gồm có 3
phần:
I- Căn cứ lý luận và thực tiễn về phát triển văn hoá.
II- Quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng, phát triển văn hoá.
III- Một số kinh nghiệm và những giải pháp.
NỘI DUNG
I. Căn cứ lý luận và thực tiễn về phát triển văn hoá.
Những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lãnh đạo, xây dựng,
phát triển nền văn hoá mới được hình thành trên nền tảng lý luận Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và những kinh nghiệm thực tiễn của Việt Nam và thế
giới.
1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin.
- Quan điểm của Mác-Ăngghen:
C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng văn hoá là toàn bộ những giá trị được
tạo ra nhờ hoạt động lao động sáng tạo của con người gồm có giá trị vật chất,
giá trị tinh thần và bản thân sự phát triển của con người. Văn hoá không chỉ là
nền tảng tinh thần của xã hội, của lịch sử nhân loại mà còn là lĩnh vực luôn có
ảnh hưởng, tác động đến tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, đến sự
phát triển xã hội. Trong sự tác động và ảnh hưởng đó văn hoá không chỉ tác
động, ảnh hưởng đến nguyên nhân sinh ra nó-đến sự tồn tại xã hội, đến quá
trình sản xuất vật chất của con người, mà còn góp phần quyết định phương
thức vận động và phát triển của lịch sử nhân loại, của xã hội loài người. Do
đó hai ông khẳng định sự cần thiết phải làm cách mạng giải phóng xã hội, giải
3
phóng con người, đồng thời giải phóng cả văn hoá. "Xoá bỏ chế độ tư hữu có
nghĩa là giải phóng hoàn toàn tất cả những cảm giác và thuộc tính của con
người… chỉ có thông qua sự phong phú, đã được phát triển về mặt vật chất
ràng buộc khắt khe của giáo hội Thiên Chúa giáo, của Nhà nước phong kiến
đã lỗi thời. Văn hoá Phục Hưng đã chỉ ra con đường tranh đấu để tìm đến với
hạnh phúc ngay ở trần gian chứ không phải là nhẫn nhục chịu đựng để được
hưởng hạnh phúc ở một thế giới khác như giáo hội vẫn thường răn dạy con
người. Trào lưu văn hoá Phục Hưng đã đặt nền móng cho văn hoá tư sản ra
đời, là cơ sở để từ đó mà có trào lưu Ánh sáng của châu Âu thế kỷ XVIII. Và
chính trào lưu Ánh sáng này đã soi đường cho cách mạng tư sản Pháp - cuộc
cách mạng lật đổ chế độ phong kiến chuyên chế thống trị lâu đời ở Pháp.
Cuộc cách mạng này đã để lại một khẩu hiệu bất hủ "Tự do-Bình đẳng-Bác
1
Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H.2000, T10, tr 59
7
ái", mở ra thời kỳ thắng lợi và củng cố chủ nghĩa tư bản ở những nước tiên
tiến ở châu Âu, châu Mỹ.
Thực tiễn cách mạng Liên Xô những năm sau cách mạng tháng Mười
cũng đã cho chúng ta thấy nhờ việc khơi dậy được tinh thần dân tộc Nga, xây
dựng một nền văn hoá mới- văn hoá xã hội chủ nghĩa- mà đất nước Liên Xô
đã giành được những thắng lợi lớn, từng bước xây dựng chế độ xã hội chủ
nghĩa. Nền văn hoá mới mà nước Nga Xô Viết đã xây dựng là một nền văn
hoá mà ở đó mỗi một người dân đều ý thức được trách nhiệm của mình với
đất nước, với phong trào cách mạng thế giới và chấp nhận mọi gian khổ, mọi
hy sinh để góp phần công sức của mình cho sự thành công của cách mạng ở
các nước anh em. Đó là một nền văn hoá mà trong đó quan hệ giữa con người
với con người gắn bó mật thiết như những người cùng chung huyết thống. Đất
nước Liên Xô những năm phát triển ổn định thực sự là cái đích lí tưởng cho
các nước khác mong muốn đạt đến. Nhân dân Liên Xô đã hy sinh quên mình
"Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao".
Thứ ba là truyền thống ham học hỏi, không ngừng mở rộng cửa đón
nhận, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại. Văn hoá Việt Nam
không phải là một nền văn hoá đóng mà là một nền văn hoá mở, con người
Việt Nam dễ dàng tiếp thu những gì tốt đẹp của các dân tộc khác. Từ tinh hoa
của các học thuyết phương Đông như Nho, Phật, Lão đến những tư tưởng văn
hoá hiện đại của phương Tây. Tất cả những nền văn hoá tiếp xúc với văn hoá
Việt Nam dù là tiếp xúc tự nhiên hay tiếp xúc cưỡng bức đều được dân tộc
Việt Nam tiếp thu, cải biến những cái hay cái đẹp của người thành giá trị
riêng của mình.
Bên cạnh ba truyền thống nổi bật này còn phải kể đến rất nhiều truyền
thống tốt đẹp khác của dân tộc Việt Nam: Đó là truyền thống lạc quan, yêu
đời, cần cù, thông minh, sáng tạo, nhân ái, khoan dung…
1
Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H.1996, T6, tr 171-172
9
Có thể nói văn hoá là sự thể hiện một cách rõ rệt bản chất sâu xa của
con người và cộng đồng con người. Văn hoá Việt Nam với những truyền
thống quý báu đã làm nên sức sống mãnh liệt của con người Việt Nam. Nó là
cội nguồn của sức mạnh và tài năng làm nên chiến thắng. Nó là đôi cánh giúp
con người vượt lên trên mọi hiểm hoạ và nguy cơ.
Như vậy, có thể khẳng định những quan điểm của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những kinh nghiệm thực tiễn của cách mạng
thế giới cùng với truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc Việt Nam chính là
hệ vua tôi, cha con, vợ chồng bắt đầu biến đổi cùng với quá trình suy vi của
Nho giáo. Sau sự thất bại của Nho giáo trong việc giải quyết những vấn đề
dân tộc và dân chủ, các tầng lớp thanh niên Việt Nam năng động nhất của lịch
sử đã tìm đến với văn hoá phương Tây. Một bộ phận thanh niên dừng lại ở
học thuyết "Tự do, bình đẳng, bác ái" của các nhà khai sáng Pháp, một số
khác đến với chủ nghĩa Mác và thành lập Đảng Cộng sản. Xã hội Việt Nam
lúc này bắt đầu một khuynh hướng yêu nước kiểu mới. Khuynh hướng này đã
kết hợp ba phong trào: phong trào giải phóng dân tộc, phong trào dân chủ và
phong trào chủ nghĩa xã hội.
Chủ nghĩa yêu nước kiểu mới do Nguyễn Ái Quốc tìm ra, trước hết là
sự kết hợp giữa tư tưởng cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin với chủ nghĩa
yêu nước truyền thống của người Việt. Một chủ thể văn hoá mới, người cách
mạng khác hẳn với các nhà Nho, các trí thức tiểu tư sản Tây học, đã tạo ra
một động lực to lớn cho nền văn hoá Việt Nam mới. Nguyễn Ái Quốc đã sáng
lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, từ đây cách mạng Việt Nam bước sang một
trang mới. Trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Đảng Cộng sản Việt
Nam đã đề ra đường lối lãnh đạo xây dựng, phát triển nền văn hoá Việt Nam
mới. Đường lối lãnh đạo của Đảng thể hiện nguyện vọng và khát vọng xây
dựng nền văn hoá mới ở Việt Nam để giải phóng xã hội, giải phóng dân tộc,
giải phóng con người, đưa dân tộc Việt Nam, văn hoá Việt Nam hoà nhập vào
dòng chảy của thời đại.
11
Ngay từ khi ra đời, trong các văn kiện công bố vào dịp thành lập Đảng:
Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Lời kêu gọi
nhân dịp thành lập Đảng và Luận cương chính trị tháng 10/1930, Đảng ta đã
xác định mục tiêu làm cách mạng lật đổ sự thống trị của thực dân Pháp, đem
lại ruộng đất cho dân cày, quyền lợi cơ bản cho giai cấp công nhân, nông dân,
xác định “nền văn hoá mà cuộc cách mạng văn hoá Đông Dương phải thực
hiện sẽ là văn hoá xã hội chủ nghĩa”2. Nền văn hoá ấy phải do Đảng lãnh đạo
để có thể đi đúng hướng, phục vụ cho lợi ích của dân tộc, của cách mạng,
cách mạng văn hoá có thành công thì công cuộc cải tạo xã hội mới có thể
hoàn thành. Đề cương văn hoá đã đưa ra 3 nguyên tắc xây dựng nền văn hoá
mới. Đó là:
“a/ Dân tộc hoá (chống mọi ảnh hưởng nô dịch và thuộc địa khiến cho
văn hoá Việt Nam phát triển độc lập).
b/ Đại chúng hoá (chống mọi chủ trương, hành động làm cho văn hoá
phản lại đông đảo quần chúng hoặc xa đông đảo quần chúng).
c/ Khoa học hoá (chống lại tất cả những cái gì làm cho văn hoá trái
khoa học, phản tiến bộ)”1.
Với ba nguyên tắc dân tộc- khoa học- đại chúng, Đề cương văn hoá
Việt Nam đã tạo ra một diện mạo văn hoá Việt Nam rất mới so với nền văn
hoá truyền thống trước đó. Một mặt nó đã phát triển các giá trị truyền thống,
mặt khác nó tiếp thu các giá trị văn hoá tiến bộ của loài người. Nguyên tắc
“dân tộc hoá” bao chứa một vấn đề rất sâu sắc vì suốt những năm dài thực dân
Pháp đã đề cao sự giàu mạnh của nước Pháp, ca tụng chính sách thuộc địa của
giai cấp tư sản Pháp, gieo rắc vào đầu óc người trí thức Việt Nam tinh thần
sùng bái văn hoá Pháp, tự ti dân tộc, miệt thị văn hoá truyền thống của dân
tộc Việt Nam. Do đó mà “dân tộc hoá” còn có ý nghĩa khẳng định mọi giá trị
văn hoá đều bình đẳng, là một tuyên ngôn khẳng định xây dựng nền văn hoá
mới trên cơ sở giữ gìn bản sắc dân tộc.
Xã hội Việt Nam đến cuối thời nhà Nguyễn mang tính chất lạc hậu, bảo
thủ trì trệ. Đó là một điều kiện thuận lợi để thực dân Pháp thực hiện chính
sách ngu dân. Nguyên tắc “khoa học hoá” đã tạo điều kiện cho nền văn hoá
dân chủ mới nhanh chóng thoát khỏi sự kìm hãm ấy, bù đắp những thiếu hụt
1
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H.2000,T7, tr 319
diễn ra lúc đó, đồng thời cụ thể hoá những nguyên tắc của cuộc vận động văn
1
Trường Chinh, Về văn hoá nghệ thuật, Nxb Văn học, H1998, t3, tr361
14
hoá đã được xác định từ năm 1943. Đảng khẳng định mối quan hệ giữa ba
nguyên tắc dân tộc hoá, khoa học hoá và đại chúng hoá là thống nhất với nhau
không thể tách rời. “Ba nguyên tắc trên đây là ba cái khâu của một sợi dây
chuyền. Nó có tính cách liên hoàn. Không thể hoàn thành nhiệm vụ vận động
tân văn hoá Việt Nam nếu ta bỏ sót một nguyên tắc nào trong ba nguyên tắc
ấy. Cũng không thể chỉ theo một nguyên tắc nọ mà chống lại những nguyên
tắc kia”1 Tư tưởng này rất quan trọng vì nếu không hiểu rõ, không nắm vững
mối quan hệ này nhất định sẽ mắc phải sai lầm, không thể làm tròn nhiệm vụ
xây dựng văn hoá mới. Sứ mệnh xây dựng văn hoá mới thuộc lớp các nhà văn
hoá tiên phong. Đó là các nhà văn hoá “lấy sức mạnh trong đại chúng, lấy tinh
thần trong dân tộc, và dùng duy vật biện chứng làm kim chỉ nam, con đường
của họ phải là con đường tả thực xã hội, duy nhất, đúng và tiến bộ” 2. Đảng
khẳng định những nhà văn hoá ấy “phải tranh đấu trên tất cả các mặt trận văn
học, ngôn ngữ, phong tục, tín ngưỡng”3.
Những tư tưởng, quan điểm của Đảng về văn hoá giai đoạn 1930-1945
được thể hiện cô đúc trong hai tác phẩm trên. Đó là cơ sở lý luận cho đường
lối văn hoá của Đảng trong các giai đoạn tiếp theo, là cơ sở để một nền văn
hoá Việt Nam mới từng bước hình thành.
2. Giai đoạn 1945-1975.
Giai đoạn 1945-1975 là giai đoạn đất nước trải qua hai cuộc kháng
chiến giữ nước vĩ đại: kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ba
mươi năm dài trôi qua thời gian hoà bình hiếm hoi và ít ỏi còn thời gian chiến
Tháng 7-1948 đồng chí Trường Chinh đọc báo cáo “Chủ nghĩa Mác và
văn hoá Việt Nam” tại Hội nghị văn hoá toàn quốc lần thứ II. Báo cáo này đã
tiếp tục những quan điểm đã nêu trong “Đề cương về văn hoá Việt Nam”
(1943). Đây được xem là một công trình văn hoá Mác xít hoàn thiện nhất
trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ. Báo cáo không những phân tích
một cách sâu sắc, toàn diện những nội dung của bản Đề cương văn hoá năm
1943 mà còn phát triển và định hướng cho quá trình “nhận đường” và sức
sáng tạo mới của nền văn hoá dân tộc. Đồng chí Trường Chinh đã đi sâu phân
tích, lý giải một cách khoa học, sáng tạo mọi phương diện cơ bản của lý luận
văn hoá, từ đó nêu lên một hệ thống quan điểm mới, định hướng cho nền văn
hoá dân chủ mới Việt Nam:
“ + Về xã hội, lấy giai cấp công nhân làm gốc.
+ Về chính trị, lấy độc lập dân tộc, dân chủ nhân dân và chủ nghĩa xã
hội làm gốc.
16
+ Về tư tưởng, lấy học thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
làm gốc.
+ Về sáng tác văn nghệ, lấy chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa làm
gốc”1
Ngày 19-9-1948 Ban Thường vụ Trung ương ra Chỉ thị về việc tham
gia và giúp đỡ Hội Văn hoá Việt Nam. Chỉ thị đã quy định rõ mục đích, tôn
chỉ, nhiệm vụ của Hội, hệ thống tổ chức, điều kiện gia nhập Hội và mối quan
hệ giữa Đảng đối với Hội.
Ngày 26- 5- 1950 Ban Thường vụ Trung ương ra chỉ thị về nhiệm vụ
văn hoá. Chỉ thị đã nêu lên những khuyết điểm của công tác văn hoá đồng
thời chỉ rõ nhiệm vụ của văn hoá là phải phục vụ nhân dân, thoả mãn nhu cầu
kháng chiến. “Muốn xây dựng văn hoá nhân dân cần học hỏi những kinh
nghiệm nước ngoài đồng thời phải biết duy trì những di sản quý báu và phát
nhân loại, yêu Tổ quốc và nhân dân, yêu lao động và khoa học)” 1
Đường lối xây dựng nền văn hoá dân chủ nhân dân thông qua tại Đại
hội II về cơ bản là thống nhất với đường lối của Đề cương về văn hoá Việt
Nam 1943 nhưng đã được cụ thể hoá hơn, hoạch định được những nhiệm vụ
cần phải thực hiện.
Nhờ những chủ trương cụ thể phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt
Nam mà nền văn hoá Việt Nam trong những năm 1945-1954 đã đạt được
những thành tựu vô cùng to lớn.
Về giáo dục: Nha Bình dân học vụ đã được thành lập và phong trào
Bình dân học vụ phát triển sôi nổi khắp cả nước, bước đầu tiêu diệt “giặc dốt”
- một trong ba thứ giặc nguy hiểm của cách mạng nước ta. Giáo dục phổ
thông và giáo dục đại học không ngừng được hoàn thiện. Năm 1954 số lượng
học sinh phổ thông các cấp là 1.131.196 học sinh. Từ năm 1951-1953 ta đã
đào tạo được 7000 cán bộ kỹ thuật. Ta đã cử được hàng ngàn cán bộ và học
sinh sinh viên đi học dài hạn ở nước ngoài nhằm chuẩn bị cho việc xây dựng
đất nước sau khi chiến tranh kết thúc.
Về văn học nghệ thuật, đã có bước phát triển mạnh mẽ, động viên được
tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nêu cao ý chí chiến đấu
vì độc lập thống nhất. Các văn nghệ sĩ cũng hăng hái lên đường ra trận, tham
1
ĐCSVN, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H.2001, t 12, tr 109-110
18
gia chiến dịch, theo sát bước chân người lính xung kích, các đoàn dân công,
các đội thanh niên xung phong…Cuộc sống chiến đấu của dân tộc và của
chính người nghệ sĩ đã làm nảy nở nhiều tác phẩm giàu tính hiện thực và
chiến đấu. Văn hóa nghệ thuật thực sự là một mặt trận mà người nghệ sĩ chính
dần trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật của nước ta. Đào tạo những con
người mới, được giáo dục sâu sắc về chủ nghĩa yêu nước và lý tưởng xã hội
chủ nghĩa.
Năm 1958, Ban Bí thư Trung ương Đảng lại ra Chỉ thị về tăng cường
công tác văn hoá, xác định vị trí và chức năng văn hoá trong giai đoạn cách
mạng mới.
Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đã căn bản hoàn thành, cách mạng
miền Bắc đã chuyển sang lấy xây dựng chủ nghĩa xã hội làm trọng tâm. Chủ
nghĩa xã hội không những đòi hỏi phải có một nền sản xuất hiện đại mà còn
đòi hỏi phải có một nền văn hoá và khoa học tiên tiến. Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ III (1960) đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ nhằm đưa miền Bắc
tiến lên chủ nghĩa xã hội và thực hiện cuộc đấu tranh hoà bình thống nhất
nước nhà. Đại hội khẳng định: đi đôi với cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa về
kinh tế, phải đẩy mạnh cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa về tư tưởng, văn hoá
và kỹ thuật. “Phải xây dựng một nền văn nghệ mới có tính chất dân tộc và nội
dung xã hội chủ nghĩa phong phú. Văn nghệ phải có tính Đảng và tính nhân
dân rõ rệt, phải thật sự đi vào cuộc sống và gắn chặt với cuộc sống muôn màu
muôn vẻ của nhân dân lao động đang đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội và thống
nhất Tổ quốc”1.
Đảng đã xác định rõ nền văn hoá chúng ta xây dựng là nền văn hoá có
“tính chất dân chủ và nội dung xã hội chủ nghĩa”. Nền văn hoá này cũng
chính là nền văn hoá dân chủ nhân dân đã được nêu lên ở Đại hội II của Đảng
nhưng được nâng lên một tầm cao mới phù hợp với tình hình miền Bắc đang
bước vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nội dung xã hội chủ nghĩa và
1
ĐCSVN, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H.2002, t 21, tr 555
20
21
Tháng 1-1968 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị Trung ương,
Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ IV được tổ chức. Ban Chấp hành Trung
ương Đảng đã đánh giá cao thành tựu sáng tạo của văn nghệ và vạch rõ nhiệm
vụ văn nghệ trong giai đoạn mới. Tại Đại hội này, những quan điểm cơ bản về
đường lối văn học nghệ thuật của Đảng ta đã được đồng chí Trường Chinh
khẳng định: với chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, chúng ta xây dựng
một nền văn hoá mới, văn nghệ cao đẹp nhất của loài người.
Dưới ánh sáng đường lối đúng đắn của Đảng, nền văn hoá mới của ta
đã phát triển mạnh mẽ và đạt được những thành tựu lớn lao, góp phần giáo
dục tư tưởng và tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng. Công tác văn
hoá đã nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, xây dựng được những con
người mới - con người xã hội chủ nghĩa, cuộc sống mới. Chủ nghĩa anh hùng
cách mạng đã được xây dựng và không ngừng được các thế hệ người Việt
Nam phát huy cả trong chiến đấu và trong sản xuất. Trải qua 2 cuộc chiến
tranh thần thánh của dân tộc, Đảng, Nhà nước và nhân ta đã xây dựng được
một nền văn hoá cung cấp đủ sức mạnh tinh thần cho hàng triệu con người
Việt Nam trở thành những chiến sĩ anh hùng dám xả thân vì lý tưởng “không
có gì quý hơn độc lập tự do”. Điều này cũng đã chứng tỏ sự trưởng thành của
Đảng trong việc lãnh đạo xây dựng phát triển nền văn hoá mới.
3. Giai đoạn 1975-1985.
Đây là giai đoạn đất nước hoàn toàn thống nhất, cả nước cùng thực
hiện một chiến lược là xây dựng đất nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
Nhưng lúc này đất nước đang đứng trước muôn vàn khó khăn. Miền Bắc mặc
dù đã có một thời gian xây dựng xã hội chủ nghĩa nhưng những hậu quả của
chiến tranh chưa khắc phục được hết. Còn ở miền Nam những tàn tích của
nền văn hoá phản động, đồi truỵ do chế độ Mỹ - Nguỵ để lại cộng với những
nhận thức lệch lạc của người dân về chế độ xã hội chủ nghĩa đang là những
sống văn hoá của xã hội ta” 2. Đảng đã chỉ rõ xây dựng nền văn hoá mới, con
người mới là phải tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối
1
2
Ban TT-VHTW,Một số văn kiện của Đảng về công tác tư tưởng- văn hoá, Nxb CTQG, H.2000,T1,tr257
ĐCSVN, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H.2004, t 37, tr 519-520
23
của Đảng, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin chiếm ưu thế tuyệt đối trong đời
sống chính trị và tinh thần của toàn dân.
Ngày 13-4-1977 Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị về công
tác văn hoá, văn nghệ trong giai đoạn cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Chỉ
thị đã chỉ rõ những nhiệm vụ và những biện pháp chính nhằm đẩy mạnh sự
nghiệp văn hoá, văn nghệ ở nước ta trong giai đoạn bấy giờ. Cụ thể là các
nhiệm vụ sau:
- Phát động phong trào quần chúng hoạt động và sáng tạo văn hoá, văn
nghệ thật mạnh mẽ, sâu rộng và phong phú, làm nền tảng cho việc xây dựng
nền văn hoá mới.
- Đẩy mạnh sáng tác văn học, nghệ thuật.
- Chấn chỉnh và đẩy mạnh công tác lý luận phê bình.
- Khẩn trương sưu tầm, nghiên cứu, đánh giá một cách khách quan và
sâu sắc tài sản văn hoá của các dân tộc trong cả nước.
- Đẩy mạnh việc giáo dục truyền thống.
- Đào tạo cán bộ văn hoá, văn nghệ.
- Tổ chức thật tốt mọi hoạt động phục vụ của ngành văn hoá.
- Tích cực đấu tranh để xoá bỏ mọi vết tích của văn hoá thực dân mới
tư sản và phong kiến ở các vùng mới giải phóng, phê phán sâu sắc những ảnh
con người mới là một động lực thúc đẩy tiến trình xây dựng chế độ mới và
nền kinh tế mới”3.
Như vậy đường lối văn hoá văn nghệ được Đảng ta xác định tại Đại hội
Đảng lần thứ IV và lần thứ V là thống nhất với nhau. Đó là một nền văn hoá
mới: nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc, có tính Đảng và tính
nhân dân. Nền văn hoá mới này phải do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Đối tượng phục vụ của văn hoá mới chính là đa số nhân dân chứ không phải
là một nhóm người có đặc quyền đặc lợi. Nền văn hoá này mang những giá trị
1
ĐCSVN, Văn kiện ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb Sự thật, H.1982, tr 91-92
ĐCSVN, Văn kiện ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb Sự thật, H.1982, tr 92
3
ĐCSVN, Văn kiện ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb Sự thật, H.1982, tr 92, 93
2
25