M U
1. Ly do chon tai
Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài của Đảng và dân tộc ta. Ngời là nhà
t tởng vĩ đại. Ngời tiếp thu tinh hoa về t tởng của nhân loại trên nền
tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin và truyền thống của dân tộc. Từ khi
tiếp thu bản chất cách mạng khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin,
cũng nh trong suốt toàn bộ sự nghiệp cách mạng của mình, Chủ tịch
Hồ Chí Minh không chỉ là ngời tổng t lệnh tối cao, mà còn là một
chiến sỹ tiên phong trong hoạt động t tởng.
Ngay từ buổi đầu đi tìm đờng cứu nớc và cho đến cuối đời, Ngời đã
có nhiều nghiên cứu, phát hiện, đề xuất chỉ đạo công tác t tởng,
không chỉ là những vấn đề chiến lợc mà cả những vấn đề cụ thể của
công tác t tởng.
Theo Hồ Chí Minh muốn làm tốt công tác t tởng cần có quan điểm
thực tiễn, hiểu quần chúng, ngời làm công tác t tởng phải không
ngừng học tập và là tấm gơng cho quần chúng noi theo. Ngời nhấn
mạnh: Lý luận suông, vô ích và Lý luận thiết thực có ích (1). Hồ
Chí Minh phê phán bệnh coi thờng lý luận và bệnh lý luận suông.
Ngời nhấn mạnh việc tổng kết từ thực tiễn lịch sử để để khái quát lý
luận và coi đó là lý luận chân chính. Ngời cho rằng: Lý luận nh cái
kim chỉ nam, nó chỉ phơng hớng cho chúng ta trong công tác thực tế.
Không có lý luận thì nh nhắm mắt mà đi(2). Đồng thời, Ngời cũng
nêu rõ lực lợng tiến hành công tác t tởng là mọi cán bộ, đảng viên, vũ
khí tự cải tạo t tởng là tự phê bình và phê bình, đấu tranh t tởng là trờng kỳ, gian khổ kết hợp giữa xây và chống.
Nh vy cụng tỏc t tng thi k 1965-1975 là thời kỳ hết sức
khó khăn đối với miền Bắc. Khó khăn đó bắt đầu từ sự kiện
Mỹleo thang bắn phá miền Bắc 2 đợt:
Đợt 1: 1964 - 4/1968
Đợt 2: 4/1972 - 12/1972
1
3. Mc tiờu v nhim v
Mục tiêu: Làm rõ hoàn cảnh đất nước ta sau năm 1965 và những
vấn đề đặt ra cho công tác tư tưởng phải giải quyết.
Để đạt được mục tiêu trên nhiệm vụ của đề tài.
Tình hình nước ta sau năm 1965 và nội dung công tác tư tưởng
của Đảng giai đoạn 1965- 1975
Những kinh nghiệm của Đảng trong thời kỳ 1965 -1975.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp luận: Sử dung phương pháp luận Mác xít của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Phương pháp chung: Phương pháp logic – lịch sử, phân tích
- tổng, hợp, nhóm tài liệu trong quá trình giải quyết vấn đề, từ đó rút ra
những kết luận cụ thể.
5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Vấn đề công tác tư tưởng của Đảng là vấn đề rộng lớn bao gồm
nhiều khía cạnh khác nhau nhưng do năng lực bản thân còn hạn chế cũng
như phạm vi nghiên cứu của một đề tài nên tiểu luận chỉ nghiên cứu 1
cách chung nhất về vấn đề lý luận của Đảng giai đoạn 1964 - 1975
6. Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, đề
tài được kết cấu thành 4 Chương 10 tiết cụ thể như sau:
Chng I. Công tác t tởng của Đảng thời kỳ 1965 - 1968
1.1. Đặc điểm tình hình và nhiệm vụ của công tác t tởng
Ngày 5-8-1964 đế quốc Mỹ dựng ra "sự kiện vịnh Bắc Bộ" để ném
súng, vừa sản xuất, vừa đánh địch. Nông dân tay cày tay súng bám
ruộng đồng, địch đánh ban ngày, ta sản xuất ban đêm. Tháng 1- 1966,
Trung ơng Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam phát động phong trào ba
đảm đang, trí thức phát động phong trào ba quyết tâm.
Trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất (2/1965 đến
11/ 1968), không quân và hải quân Mỹ đã trút hàng triệu tấn bom đạn tàn
phá miền Bắc, gây nên những tội ác tày trời với nhân dân ta. Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã trả lời th Tổng thống Mỹ L.B. Giônxơn Chính phủ Mỹ đã
phạm tội các chiến tranh, phá hoại hoà bình và chống lại loài ngời4.
Nhân dân Việt Nam quyết không khuất phục trớc vũ lực và quyết không
nói chuyện trớc sự đe doạ của bom đạn5. Quân dân cả nớc theo lời kêu
gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không hề nao núng, càng nung nấu ý
chí quyết đánh và quyết thắng Mỹ đến thắng lợi cuối cùng.
Theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh (3-11-1968), Hễ
còn một tên xâm lợc trên đất nớc ta, thì ta còn phải chiến đấu quét sạch
nó đi. Đến cuối năm 1968 miền Bắc đã động viên 311.749 thanh niên
nhập ngũ, bổ sung cho chiến trờng miền Nam 141.084 chiến sĩ và 20
vạn thanh niên xung phong. Những cán bộ, chiến sĩ từ miền Bắc vào
Nam tham gia xây dựng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phơng, xây dựng
kinh tế, văn hoá ở vùng mới giải phóng tạo nên sức mạnh to lớn cho
chiến tranh giải phóng.
Ngày 18-3-1968, Ban Bí th Đảng ra Chỉ thị hớng dẫn thi hành Nghị
quyết Bộ Chính trị về cuộc vận động tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm
lợc. Tháng 6/ 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho chủ trơng và đến tháng 9
năm đó loại sách ngời tốt việc tốt đợc xuất bản.
Giai đoạn 1965- 1968 là giai đoạn đặc biệt của miền Bắc. Xây
dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh thời chiến là một sáng tạo của
Đảng nhằm đáp ứng yêu cầu có tính quy luật của chiến tranh; tập trung
3
4
hoá, cô lập Mỹ, Thiệu, Kỳ.
Công tác t tởng, lý luận lúc này là phân tích đúng những điểm
mạnh và yếu của Mỹ. Mỹ chỉ đạo tiến hành chiến tranh một cách bị
động, nội bộ không nhất trí và ngày càng bị cô lập về chính trị. Bố trí
chiến lợc của Mỹ bị động, phân tán, giằng co giữa tấn công và phòng
ngự, giữ đất và cơ động. Nớc Mỹ hùng mạnh lại là nạn nhân của một
cuộc chiến tranh điều khiển sai lầm. Mỹ có tăng quân nhng lực lợng so
sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn. Tháng 12-1967, Bộ Chính trị
nhận định: Chúng ta đang đứng trớc những triển vọng và thời cơ chiến lợc lớn. Đế quốc Mỹ đang trong tình thế tiến thoái lỡng nan về chiến lợc,
ta đã có cơ sở chắc chắn để giữ vững và tiếp tục giành thế chủ động trên
chiến trờng, chúng ta đang ở trên thế tiến công và phải liên tục tấn
công địch 6. Đảng ta quyết định dùng phơng pháp tổng công kích, tổng
khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định, Chuyển cuộc chiến tranh cách
mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang thời kỳ mới- thời kỳ giành thắng
lợi quyết định...7. Mốc tổng tấn công đồng loạt cho các chiến trờng
trọng điểm, giờ nổ súng cho các địa phơng, đơn vị là đêm Giao thừa Tết
Mậu Thân 1968.
Đảng chủ trơng tổng công kích đồng thời với tổng khởi nghĩa. Phơng châm là kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và ngụy
vận, địch vận; kết hợp hoạt động ở ba vùng chiến lợc là thành thị, nông
thôn đồng bằng và rừng núi; kết hợp lực lợng vũ trang và lực lợng chính
trị từ ngoài tiến công vào thành thị với sự nổi dậy của quần chúng nhân
dân đô thị; kết hợp tiêu diệt, làm tan rã địch với tăng cờng nhanh chóng
lực lợng ta; kết hợp chặt chẽ tiến công quân sự với tiến công chính trị
trong nớc và tiến công ngoại giao; phối hợp giúp đỡ nhau đấu tranh của
nhân dân ba nớc Việt Nam- Lào- Cămpuchia, tranh thủ sự giúp đỡ của
các nớc xã hội chủ nghĩa và nhân dân thế giới.
Phong trào đấu tranh chính trị đòi lật đổ chính phủ bù nhìn tay sai
Mỹ, đòi Mỹ cút về nớc tiếp tục phát triển, mức độ ngày càng quyết liệt ở
truyền hình. Ngày 30-1/1968, Trung ơng ra Nghị quyết chia Ban Tuyên
Giáo Trung ơng thành hai ban là ban Tuyên huấn và Ban khoa học- giáo
dục.
Giữa lúc nhân dân ta đang nỗ lực khôi phục kinh tế ở miền Bắc và
đẩy mạnh kháng chiến chống Mỹ, cứu nớc ở miền Nam thì ngày 2-91969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời để lại tổn thất vô cùng lớn lao đối
với Đảng ta, nhân dân ta và bạn bè quốc tế. Ra đi, Ngời đã để lại cho
chúng ta bản Di chúc lịch sử, chứa chan tình cảm sâu nặng của Ngời đối
với Đảng và nhân dân ta, có giá trị nh bản Cơng lĩnh xây dựng đất nớc
sau ngày thắng Mỹ.
Hội nghị Trung ơng đã quyết định công bố ngày mất của Bác vào
ngày 3/9, công bố phần mở đầu Di Chúc năm 1969 và phần nội dung bản
Di chúc năm 1965. Ngày19/8/1989, Trung ơng đã công bố toàn bộ sự
thật về ngày mất và Di chúc của Bác. Ngày 9-9-1969 tại Quảng trờng Ba
Đình, đồng chí Lê Duẩn, Bí th thứ nhất Ban Chấp hành Trung ơng Đảng
đọc Điếu văn ca ngợi công ơn của Ngời và bày tỏ quyết tâm biến đau thơng thành hành động cách mạng, thực hiện Di chúc thiêng liêng của Ngời.
Ngày 29-9- 1969 Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị Về đợt sinh hoạt chính
trị Học tập và làm theo Di chúc của Hồ Chủ tịch. Đầu tiên, chúng ta
thề với Ngời giơng cao mãi mãi ngọn cờ độc lập dân tộc, quyết chiến,
quyết thắng giặc Mỹ xâm lợc, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc,
thống nhất đất nớc để thoả lòng mong ớc của Ngời. Bộ Chính trị ra Chỉ
thị về cuộc vận động nâng cao chất lợng đảng viên, kết nạp Đảng lớp
Hồ Chí Minh. Đây cũng là những nhiệm vụ trọng tâm của công tác t t-
ởng giai đoạn này.
2.2. Nội dung công tác t tởng
2.2.1. Đẩy mạnh công tác t tởng ở miền Bắc nhằm khôi phục kinh
tế, tăng cờng chi viện chiến trờng và đánh bại chiến tranh phá hoại lần
thứ hai của đế quốc Mỹ
Trọng tâm của công tác t tởng năm 1970 là tuyên truyền thực
giặc lái Mỹ bị bắn cháy và bắt sống.
Cuộc đấu tranh ngoại giao trên bàn Hội nghị Pari đã kéo dài 4 năm
9 tháng với 202 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng cấp cao, 500
cuộc họp báo, 1.000 cuộc phỏng vấn. Thất bại nặng ở cả hai miền Nam
Bắc đã buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris (27-1-1973) chấm dứt chiến
tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam.
2.2.2 Động viên quân dân miền Nam nêu cao quyết tâm, tiếp tục
đánh bại một bớc căn bản chiến lợc Việt Nam hoá chiến tranh của đế
quốc Mỹ
Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, ngày 9-9-1969, Trung ơng cục
miền Nam phát động phong trào thực hiện Di chúc thiêng liêng của Ngời.
Quân dân miền Nam biến đau thơng thành hành động cách mạng, vợt
qua khó khăn gian khổ, xây dựng và phát triển lực lợng, tiến công trên cả
ba vùng chiến lợc.
Công tác tuyên truyền quốc tế đã phối hợp liên quân Lào- Việt mở
chiến dịch phản công quy mô lớn, đánh bại cuộc hành quân của địch lấn
chiếm khu vực chiến lợc cánh đồng Chum (Xiêng Khoảng); bảo vệ căn
cứ địa của Lào, phá âm mu uy hiếp nớc ta và tuyến vận tải Trờng sơn.
Tháng 3-1970, Mỹ tiến hành cuộc đảo chính ở Campuchia, lật đổ
Chính phủ Vơng quốc trung lập Nôrôđôm Xihanúc, dựng lên chính
quyền tay sai Lon Non- Xi ríc- Ma tắc nhằm biến Campuchia thành
thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Do nhận thức và làm tốt vấn đề đoàn kết
quốc tế, trong thời gian ngắn, các lực lợng vũ trang của ta phối hợp với
quân và dân bạn kịp thời phản công, đánh bại cuộc hành quân của chúng,
giải phóng Đông bắc Campuchia (6-1970), phá tan âm mu xóa bỏ căn cứ
và bàn đạp chiến lợc của ta, cắt đứt tuyến đờng tiếp tế từ miền Bắc vào
miền Nam, qua đất Campuchiacủa ta.
Vào mùa xuân năm 1972, nhân dịp Mỹ đang tấp trung bầu cử tổng
Từ tháng 1/1974, công tác t tởng tập trung tuyên truyền thực hiện
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 22 của Trung ơng về khôi phục và phát
triển kinh tế trong 2 năm (1974-1975) để tăng cờng củng cố quốc
phòng, xây dựng miền Bắc vững mạnh đủ sức chi viện cho cách mạng
ba nớc Đông Dơng với yêu cầu ngày càng tăng. Từ cuối tháng 12-1974
trở đi, nhiệm vụ quan trọng của công tác t tởng là quán triệt Hội nghị
Trung ơng lần thứ 23 về tăng cờng sự lãnh đạo và nâng cao sức chiến
đấu của Đảng để Đảng xứng đáng là ngời lãnh đạo, ngời đầy tớ thật
trung thành của nhân dân và lãnh đạo thắng lợi cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nớc đi đến thắng lợi.
Nắm vững thời cơ lớn, các binh chủng công tác t tởng đã đồng
loạt động viên nhân dân miền Bắc với tinh thần Tiền tuyến gọi hậu
phơng trả lời, bổ sung lực lợng chiến đấu cao nhất cho cho các chiến
trờng. Khẩu hiệu hành động Thóc không thiếu một cân, quân không
thiếu một ngời đợc nâng lên thành Thóc thừa cân, quân thừa ngời
kịp thời chi viện yêu cầu của chiến trờng.
Công tác t tởng đã động viên hàng chục vạn thanh niên ở các bản
làng, khu phố, trờng học, xí nghiệp, cơ quan... đã nô nức tòng quân, lên
đờng ra mặt trận. Hàng vạn thanh niên xung phong, cán bộ và nhân viên
chuyên môn kỹ thuật cũng hăng hái vào Nam làm nhiệm vụ chống Mỹ.
Đúng là Có những ngày vui sao? cả nớc lên đờng đánh Mỹ. Trong
những năm 1973-1975 có gần 50 vạn thanh niên nhập ngũ lên đờng ra
trận theo tiếng gọi của tiền tuyến. Trong 2 năm từ 1973 đến 4/1975
miền Bắc đã tăng viện cho quân chủ lực ở miền Nam 263.691 chiến sĩ.
3.2. Cổ vũ quân dân miền Nam nắm vững thời cơ, giữ vững thế
chiến lợc, tiến tới tổng tiến công giải phóng hoàn toàn miền Nam
Ngay sau khi Hiệp định Pari (1-1973) đợc ký kết, dới chỉ đạo của
Mỹ, chính quyền tay sai Nguyễn Văn Thiệu đã ngang ngợc phá hoại hiệp
điều kiện để năm 1976 tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa, giải
phóng hoàn toàn miền Nam, Nếu thời cơ đến đầu hoặc cuối năm 1975 thì
lập tức giải phóng miền Nam ngay.
Chấp hành quyết định chiến lợc nói trên, quân dân miền Nam với
tinh thần thừa thắng xốc tới, nô nức chuẩn bị. Cha bao giờ không khí
chống Mỹ cứu nớc náo nức, dồn dập, khẩn trơng đến thế. Ngày 1-4-1975
Trung ơng cục ra Chỉ thị về công tác t tởng và công tác tổ chức để động
viên quân dân miền Nam với t tởng tiến công, thừa thắng xốc tới tổng
tiến công và nổi dậy.
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 diễn ra trên
toàn miền Nam trong 55 ngày đêm, từ ngày 10-3 đến ngày 30/4/1975 với
các đòn tiến công chiến lợc: chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Huế, Đà
Nẵng, chiến dịch Hồ Chí Minh. Ngày 28-4- 1975, khí thế chiến thắng đã
đến gần, bài hát Nh có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng ra đời. Toàn
quân dân ta tràn đầy không khí phấn khởi, quyết dồn quân địch đến thất
bại hoàn toàn. 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, lá cờ cách mạng phấp
phới bay trên nóc Dinh Độc lập, cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân
1975 đã toàn thắng.
Chng IV. Kinh nghiệm công tác t tởng thời kỳ 1954-1975
4.1.Công tác t tởng luôn phải luôn giữ vững mục tiêu độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và bám sát nhiệm vụ chính trị của
Đảng ở từng thời kỳ để hoạt động mới đạt hiệu quả cao nhất
Trong từng thời kỳ lịch sử, công tác t tởng, trên tất cả các lĩnh vực
lý luận, tuyên truyền, cổ động... đã bám sát nhiệm vụ chính trị của Đảng
ở từng thời kỳ mà cốt lõi là t tởng "không có gì quý hơn độc lập tự
do"của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là nhiệm vụ hàng đầu để đa đờng lối
của Đảng vào quần chúng, tạo niềm tin và sức mạnh thống nhất ý chí,
hành động vợt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, phục vụ sự nghiệp
Nam ở cả hai miền thử thách nặng nề nh vậy. Công tác t tởng, quán triệt
nhận định của Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ hành động dã man của Mỹ là
hành động tuyệt vọng, khác nào con thú dữ bị thơng nặng, giãy giụa một
cách hung tợn trớc hơi thở cuối cùng; Mỹ càng hung hăng thì tội ác của
chúng càng thêm nặng. Chiến tranh có thể kéo dài; Hà Nội, Hải Phòng và
một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam
quyết không sợ? Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Để chiến thắng,
Đảng ta, cách mạng nớc ta tất yếu phải quán triệt và thấm nhuần t tởng
kiên quyết không ngừng thế tiến công. Công tác t tởng của Đảng lúc nào
cũng theo cách mạng ở thế tiến công, mà không có phòng ngự. T tởng mà
phòng ngự, hành động sẽ do dự, tất sẽ thất bại.
Những năm Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, công tác t tởng đã góp
phần khơi dậy lòng căm thù quân cớp nớc và cổ vũ chủ nghĩa anh hùng
cách mạng, tinh thần yêu nớc, thôi thúc quân dân miền Bắc dấy lên cao
trào thi đua bắn rơi nhiều máy bay Mỹ và bắt sống giặc lái Mỹ. Lực lợng
vũ trang nhân dân đẩy mạnh phong trào thi đua nêu cao khẩu hiệu
Nhằm thẳng quân thù mà bắn, Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lợc. Lới lửa phòng không tầng cao của không quân nhân dân Việt Nam,
tầm trung có bộ đội tên lửa, pháo cao xạ, tầm thấp có lới đạn phòng
không bằng súng bộ binh của dân quân, du kích, lực lợng tự vệ.... Tất cả
mọi lực lợng, với tinh thần nhằm thẳng quân thù mà bắn quyết tâm
đánh trả máy bay Mỹ. Đến tháng 7- 1966 chúng ta đã bắn rơi hơn 1200
máy bay giặc Mỹ. Tính đến 1-11-1968, trong 4 năm chống chiến tranh
phá hoại lần thứ nhất, lực lợng vũ trang cùng với các lực lợng chiến đấu
khác của miền Bắc đã bắn rơi hơn 3.243 máy bay các loại, bắn chìm và
bắn cháy 150 tàu chiến, đánh thắng hoàn toàn chiến tranh phá hoại của
đế quốc Mỹ bảo vệ đợc miền Bắc.
4.3. Công tác t tởng là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân, toàn
dân phải đợc tiến hành thờng xuyên, lấy cổ vũ nhân tố mới, mở rộng
tổng hợp của mọi phơng tiện, công cụ với nhiều hình thức phong phú
trong những điều kiện cụ thể
Công tác t tởng muốn có hiệu quả phải tăng cờng và có phơng
pháp công tác t tởng đúng. Công tác t tởng có nhiều nội dung nên phải có
nhiều hình thức và phơng pháp thực hiện. Vấn đề hàng đầu của công tác
t tởng là nghiên cứu và giáo dục lý luận.
Trớc hết là phải hớng vào nghiên cứu và làm rõ lý luận. Chính sự
sáng suốt của Đảng ta khi xác định lý luận lãnh đạo tiến hành đồng
thời và kết hợp chặt chẽ đồng thời hai chiến lợc cách mạng ở hai miền,
cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ ở miền
Nam là lý luận cách mạng cha có tiền lệ, mới mẻ và khó khăn. Lý luận
đa miền Bắc tất yếu lên chủ nghĩa xã hội và tiến hành cách mạng xã
hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Lý luận vừa đẩy mạnh chiến tranh cách mạng,
vừa giữ gìn hoà bình thế giới; lý luận vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa
chống chiến tranh phá hoại, vừa chi viện chiến trờng của quân dân miền
Bắc dã dẫn đến thắng lợi... Những ví dụ nêu trên chứng minh Đảng ta đã
dày công nghiên cứu và vận dụng sáng tạo lý luận Mác- Lênin vào điều
kiện cụ thể của mình.
Trong chiến tranh, Đảng không hề xem nhẹ công tác giaó dục lý
luận. Đảng ra các quyết định tổ chức củng cố các trờng Đảng, thành lập
nhiều trờng lý luận chính trị, ban hành kế hoạch bồi dỡng giảng viên lý
luận chính trị của trờng Đảng các cấp, tổ chức các lớp đào tạo giáo viên,
cán bộ tuyên giáo, tổ chức biên soạn chơng trình và sách giáo khoa MácLênin. Thành lập nhà xuất bản sách giáo khoa Mác- Lênin.
Đảng định hớng công tác t tởng đúng và kịp thời, nhất là khi có
tình hình biến động phức tạp và trong những bớc ngoặt của cách mạng.
Đảng gắn chặt thực hiện nhiệm vụ chính trị với tổ chức phong trào cách
mạng; kết hợp công tác t tởng với công tác tổ chức phát triển kinh tế- xã
hội, bồi dỡng t tởng, tình cảm cách mạng, biểu dơng u điểm đi đôi với
phê bình nghiêm khắc khuyết điểm.
Ngoài việc nắm tình hình t tởng, giáo dục lý luận chính trị; tuyên
nước. Đây là một trong những thắng lợi vĩ đại nhất trong lịch sử mấy
ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.
Với thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thì công tác lý luận
của Đảng đã góp phần quan trọng trong các hoạt động cách mạng, trong
xây dựng con người cả về chính trị, tinh thần, đã làm cho ý thức hệ của
giai cấp công nhân, quan điểm của Đảng chiếm vị trí địa vị thống trị. Nội
dung công tác tư tưởng của Đảng đã vận dụng và phát triển sáng tạo lý
luận chủ nghĩa Mác- Lênin, xây dựng đường lối chính sách của Đảng
đồng thời truyền bá lý luận chủ nghĩa Mác –Lê nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh cùng đường lối của Đảng vào trong toàn bộ đảng viên và nhân dân.
Công tác tư tưởng của Đảng một mặt tạo được sự chuyển biến về nhận
thức, nâng cao trình độ lý luận chính trị tư tưởng, văn hóa cho đảng viên
và nhân dân. Mặt khác đấu tranh chống những tư tưởng sai lầm và chống
đối để bảo vệ quan điểm đường lối của Đảng.
Công tác tư tưởng đã củng cố niềm tin vững chắc vào thắng lợi của
cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trước những thử thách nặng nề.
Trong các thời kỳ công tác tư tưởng đã tham gia tổng kết lý luận và thực tiễn
cách mạng, nêu ra bài học chung chỉ đạo và công tác tư tưởng. Công tác tư
tưởng góp phần nâng cao trình độ lý luận cho đảng viên và quần chúng, công
tác tư tưởng đã góp phần đưa chủ nghĩa Mác - Lê nin vào phong trào công
nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Công tác lý luận tham gia tổng kết
những vấn đề lý luận và thực tiễn qua đó nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình đường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt
Nam
2. Văn kiện Đảng Cộng Sản Việt Nam (1930-2010), NXB
CTQG,HN 2003