mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong mọi giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn coi CTTT có tầm
quan trọng hàng đầu. Trong những nguyên nhân thành công của cách mạng
nớc ta, có sự góp phần đáng kể của CTTT. Hiện nay, vai trò CTTT không
những không giảm nhẹ, trái lại, cần đợc đổi mới, tăng cờng về nhiều mặt để
nâng cao hiệu quả.
Tính cách mạng và tính khoa học trong CTTT là hai mặt của cùng
bản chất, có mối quan hệ biện chứng với nhau. Trong mối quan hệ đó, sự
thống nhất, kết hợp giữa tính cách mạng và tính khoa học tỷ lệ thuận với
hiệu quả CTTT và thắng lợi của cách mạng.
Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, CTTT đã kết hợp khá
nhuần nhuyễn tính cách mạng và tính khoa học, nên đã động viên, thuyết
phục, lôi cuốn đợc đông đảo quần chúng nhân dân vào dòng thác cách
mạng giải phóng dân tộc. Bối cảnh cách mạng khi ấy, với mục tiêu độc lập
dân tộc trên hết, cũng có những thuận lợi nhất định cho việc kết hợp tính
cách mạng và tính khoa học trong CTTT.
Thời kỳ cả nớc quá độ lên CNXH, đặc biệt trong công cuộc đổi mới
đất nớc từ sau Đại hội VI của Đảng, điều kiện cách mạng có nhiều thay đổi,
CTTT nhìn chung cũng đã có những đổi mới nhiều mặt để đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ mới và đạt đợc nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, đây là vấn đề
rất khó khăn, phức tạp nên vẫn còn những lệch lạc, yếu kém, nhất là việc
kết hợp tính cách mạng và tính khoa học trong CTTT ở điều kiện mới cha
thật nhuần nhuyễn. Nhiều vấn đề lớn đặt ra đối với nội dung, hình thức, ph-
ơng pháp, phơng tiện CTTT hiện nay đòi hỏi phải đổi mới theo tinh thần kết
hợp chặt chẽ hơn nữa tính cách mạng và tính khoa học nh:
1
- Làm thế nào để bảo vệ và phát triển học thuyết Mác - Lênin trớc
sự khủng hoảng của CNXH và sự tấn công của kẻ thù, làm cho các tầng lớp
nhân dân nhận thức đợc những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin
và t tởng Hồ Chí Minh, hiểu và vận dụng sáng tạo đờng lối đổi mới đúng
nhiều bài viết về CTTT từ những góc độ tiếp cận khác nhau.
Về những vấn đề chung của CTTT có nhiều tác phẩm, công trình
khoa học có giá trị của các nhà lãnh đạo CTTT, các cơ quan chuyên nghiên
cứu và giảng dạy về CTTT nh: cuốn Một số vấn đề về công tác t tởng của
Đào Duy Tùng; cuốn Mấy vấn đề về công tác chính trị và t tởng trong
chặng đờng hiện nay của Hoàng Tùng; cuốn Góp phần đổi mới công tác
lý luận - t tởng của Trần Trọng Tân; cuốn Một số vấn đề lý luận và nghiệp
vụ công tác t tởng của Ban T tởng - văn hóa Trung ơng; cuốn Nguyên lý
công tác t tởng của khoa Tuyên truyền, phân viện Báo chí và Tuyên
truyền ; các báo cáo tổng kết của Ban T tởng - Văn hóa Trung ơng tại Hội
nghị Công tác t tởng - văn hóa toàn quốc tháng 3/1997, tháng 3/1998 và
tháng 3/1999 ; đề tài KHXH 05-02 Đổi mới và nâng cao chất lợng hiệu quả
công tác t tởng; nhiều bài viết của các tác giả Nguyễn Đức Bình, Nguyễn
Phú Trọng, Hữu Thọ v.v
Về sự lãnh đạo của Đảng đối với CTTT có một số luận án thạc sĩ
của các tác giả nh Đỗ Thị An với đề tài Vai trò công tác t tởng của Đảng
Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới; Nguyễn Vũ Tiến với đề tài Sự
lãnh đạo của Đảng đối với báo chí trong giai đoạn hiện nay; Nguyễn Văn
Minh với đề tài Đổi mới công tác t tởng của tổ chức cơ sở Đảng nông thôn
ngoại thành Hà Nội
Về đội ngũ cán bộ làm CTTT có đề tài cấp Nhà nớc KX 10-09B Đổi
mới phơng thức đào tạo và bồi dỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên
cứu lý luận Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh; đề tài cấp Bộ
3
92-98-043 Vấn đề dạy và học các môn lý luận Mác - Lênin trong trờng đại
học, đề tài KX BĐ-05 của Ban TT-VH TW Thực trạng đội ngũ cán bộ tuyên
giáo cấp tỉnh, thành, quận, huyện. Ngoài ra, còn có nhiều bài viết của các
tác giả Tô Huy Rứa, Lơng Khắc Hiếu, Nguyễn Chí Mỳ, Vũ Đình Hòe đã
đề cập đến vấn đề này.
Vấn đề quan hệ biện chứng giữa tính cách mạng và tính khoa học
đạo trực tiếp của Đảng Mác - Lênin. Luận án đi sâu nghiên cứu về quan hệ
biện chứng giữa tính cách mạng và tính khoa học trong CTTT do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, ở thời kỳ đổi mới từ Đại hội VI đến nay.
4. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Luận án đợc chọn với mục đích nhận thức sâu sắc hơn nữa mối quan
hệ biện chứng giữa tính cách mạng và tính khoa học trong CTTT và sự thể
hiện của nó trong CTTT của Đảng ta (nhất là ở thời kỳ đổi mới). Từ đó, đề
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả CTTT theo hớng tăng cờng
mối quan hệ biện chứng giữa tính cách mạng và tính khoa học, để công tác
này góp phần thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH ở nớc ta hiện nay.
Để thực hiện mục đích trên, luận án có nhiệm vụ là:
- Đứng trên quan điểm mácxít, làm rõ nội hàm các khái niệm "t t-
ởng", "công tác t tởng", "tính cách mạng của CTTT", "tính khoa học của
CTTT", mối quan hệ giữa tính cách mạng và tính khoa học trong CTTT; chỉ
ra cấu trúc, vai trò, chức năng của các khái niệm đó.
- Làm rõ thực trạng mối quan hệ biện chứng (chủ yếu là sự thống
nhất biện chứng) giữa tính cách mạng và tính khoa học trong CTTT của
Đảng ta từ đổi mới đến nay; phân tích những nguyên nhân cơ bản của thực
trạng đó; rút ra bài học chính cho CTTT nhìn từ mối quan hệ này.
5
- Đề xuất phơng hớng và một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cờng
mối quan hệ biện chứng giữa tính cách mạng và tính khoa học trong CTTT
của Đảng ta hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu luận án
Luận án đợc thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, t
tởng Hồ Chí Minh, đờng lối và chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về
CTTT.
Luận án sử dụng tổng hợp các phơng pháp nghiên cứu nh phân
tích và tổng hợp, lôgíc và lịch sử, điều tra xã hội học, thống kê số liệu, so
sánh, chứng minh, phân tích mâu thuẫn để rút ra những kết luận khoa học.
mạng và tính khoa học trong CTTT. Để thấy rõ bản chất, vai trò đó, cần tìm
hiểu t tởng và CTTT.
1.1. T tởng và CTTT trong sự nghiệp cách mạng
1.1.1. Khái niệm t tởng
Thuật ngữ t tởng (idea - tiếng Anh) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp
idéa (hình tợng). Cho đến nay, đã có nhiều cách định nghĩa khác nhau về
khái niệm này. Từ điển triết học định nghĩa: t tởng ''là phản ánh của hiện
thực trong ý thức, là biểu hiện của sự quan hệ của con ngời đối với thế giới
xung quanh'' [97, 734].
Từ điển Tiếng Việt (nhà xuất bản Đà Nẵng, 1997) định nghĩa: t tởng
là những quan điểm, ý nghĩ chung của con ngời đối với hiện thực khách
quan và đối với xã hội (nói tổng quát). Chẳng hạn, t tởng tiến bộ, t tởng
phong kiến
Mục "Tìm hiểu khái niệm" của Tạp chí Cộng sản (số 1/1993) cho
rằng: "T tởng là những suy nghĩ, những ý niệm về các sự vật, hiện tợng đợc
phản ánh trong ý thức, là biểu hiện các quan hệ của con ngời đối với thế
giới xung quanh. T tởng do chế độ xã hội, điều kiện sinh hoạt vật chất của con
ngời quyết định. Thực chất và nguồn gốc t tởng ở trong cơ sở kinh tế, trong
điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, trong tồn tại xã hội.
8
T tởng biểu hiện lợi ích vật chất của các giai cấp trong xã hội. T t-
ởng mang tính lịch sử, " v.v
Chúng tôi cho rằng, khái niệm t tởng mà Tạp chí Cộng sản đa ra có
nhiều yếu tố hợp lý hơn cả.
Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng, nhu cầu của đời sống xã hội có
hai mặt: nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Hai lĩnh vực sản xuất đáp
ứng nhu cầu đó là: sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần. Lĩnh vực vật chất,
xét cho cùng, quyết định lĩnh vực tinh thần, nhng mặt khác, lĩnh vực tinh thần
có tính độc lập tơng đối và tác động trở lại lĩnh vực vật chất. Ph.ăng-ghen
viết: "Nhân tố lịch sử một khi đợc những nhân tố khác, xét đến cùng là
nào. Giáo s Đỗ T cho biết: "Trên quan điểm khoa học, vào thế kỷ XI-IX tr-
ớc công nguyên, hình thái kinh tế - xã hội Hy Lạp về cơ bản vẫn còn là hình
thái kinh tế cộng đồng nguyên thủy và sự xuất hiện các nhân tố giai cấp và
nhà nớc cũng chỉ mới là bắt đầu. Tình hình kinh tế - xã hội của Hy Lạp
trong thời kỳ này đợc phản ánh trong hai tập sử thi nổi tiếng là Iliat và
Ôđixê mà theo truyền thuyết thì tác giả là Hôme" [48, 10]. Dù tác giả đó là
có thật hay không, nhng một điều chắc chắn phải có một hoặc một số ít ng-
ời có trình độ nhất định mới có thể sáng tác ra các bản trờng ca đó, với ý
thức bênh vực lợi ích của nô lệ, đầy tớ - những ngời phải lao động dới sự
thống trị khắc nghiệt và dã man của bọn chủ nô. Có thể coi ý thức đó là t t-
ởng dới dạng sơ khai. Vào thế kỷ thứ VIII-VI (trớc công nguyên), trong xã
hội Hy Lạp, khi giai cấp và nhà nớc chính thức ra đời thì các tập sử thi nói
trên, từ truyền miệng cũng đợc ghi lại bằng chữ Hy Lạp cổ ở thế kỷ thứ VI
(trớc công nguyên). Việc ghi chép đó, đơng nhiên, chỉ có các nhà trí thức
mới làm đợc, trên cơ sở kế thừa và phát triển những mầm mống t tởng xã
hội trớc đó. Giáo s Nguyễn Tài Th cho rằng: "Nói một cách chặt chẽ, thì t t-
ởng triết học Việt Nam chỉ xuất hiện khi xã hội Việt Nam đã phân hóa ra
10
thành các giai cấp khác nhau, đã xuất hiện ngôn ngữ văn tự. Nhng những
yếu tố tiền triết học thì trớc đó đã có" [88, 32]. Có thể nói, t tởng xuất hiện
sớm nhất là từ cuối xã hội nguyên thủy, đầu xã hội có giai cấp.
Khi xã hội có giai cấp, t tởng gắn liền với giai cấp, hay nói đúng
hơn, gắn với lợi ích giai cấp. Theo Mác, t tởng phải gắn với lợi ích, t tởng
mà không gắn với lợi ích là điều hết sức vô nghĩa. Chẳng hạn, khi nói về t t-
ởng của Lu-ít Na-pô-lê-ông (Louis Napoléon) mang danh đại diện cho giai
cấp nông dân Pháp giữa thế kỷ XIX, nhng hoàn toàn không gắn với lợi ích
thực sự của nông dân, Mác viết: "Những t tởng ấy chỉ là những ảo giác
trong cơn hấp hối, là những từ đã biến thành những câu nói suông, là những
thần linh đã biến thành những bóng ma" [52, 272]. Lênin cũng tán đồng
quan điểm t tởng phải gắn với lợi ích. Trong "Bút ký triết học", Ngời cũng l-
mối quan hệ giữa những đại biểu chính trị và văn học của một giai cấp với
giai cấp mà họ đại diện là nh thế đó" [52, 183-184].
T tởng là sản phẩm của sự phản ánh hiện thực, và thờng là thông
qua lăng kính của nhà t tởng. Chẳng hạn, ngời ta vẫn có thể dễ dàng nhận
biết, trong những dự báo mới đây về tơng lai, ở cấp độ toàn cầu, của nhà t-
ơng lai học nổi tiếng ngời Mỹ - An-vin Tốp-phơ-lơ (Alvin Toffler), lập trờng
của giai cấp t sản, ở việc tuyệt đối hóa vai trò kỹ thuật trong xã hội hiện đại.
Qua đó, tuyệt đối hóa sự thống trị của giai cấp chiếm hữu kỹ thuật, đó là
giai cấp t sản.
Lẽ dĩ nhiên, trong xã hội có giai cấp, t tởng bao giờ cũng mang tính
giai cấp. Trong "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản", C.Mác và Ph.Ăngghen
viết: "Lịch sử t tởng chứng minh cái gì, nếu không phải là chứng minh rằng
sản xuất tinh thần cũng biến đổi theo sản xuất vật chất? Những t tởng thống
trị của một thời đại bao giờ cũng chỉ là những t tởng của giai cấp thống trị"
[51, 625]. Trong xã hội có giai cấp, luôn có sự đấu tranh giữa các giai cấp
12
về mặt t tởng để truyền bá, thu phục lòng ngời, lôi kéo quần chúng nhân
dân theo quan điểm t tởng của giai cấp, nhằm biến t tởng thành sức mạnh
hành động để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giai cấp. Thực chất, đấu tranh
t tởng là biểu hiện của cuộc đấu tranh giai cấp. Ph.Ăngghen viết: "Tất cả mọi
cuộc đấu tranh trong lịch sử, - không kể nó diễn ra trên địa hạt chính trị, tôn
giáo, triết học, hay trên bất cứ một địa hạt t tởng nào khác - thực ra chỉ là
biểu hiện ít nhiều rõ rệt của cuộc đấu tranh của các giai cấp trong xã hội, "
[55, 373-374]. Trong đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản, đấu tranh t t-
ởng đã góp phần quan trọng vào việc giành chính quyền. Sau khi có chính
quyền, cuộc đấu tranh t tởng của giai cấp vô sản vẫn tiếp tục để chống các tàn
d t tởng và các t tởng thù địch, phản động.
Qua đó, có thể hiểu: t tởng là ý niệm, quan điểm phản ánh tơng đối
khái quát hiện thực trong ý thức, biểu thị những lợi ích ít nhiều có tính phổ
biến của con ngời(nhóm ngời, cộng đồng ngời, giai cấp, xã hội).
thuộc giai cấp mà họ tự nguyện đứng ra bảo vệ lợi ích, nhng chắc chắn t t-
ởng của họ bị quy định bởi lợi ích vật chất và địa vị xã hội của giai cấp ấy.
Nói cách khác, họ tự nguyện đứng vào hàng ngũ giai cấp đợc phản ánh
trong t tởng, và lợi ích của bản thân họ cũng gắn liền với lợi ích của giai cấp
đó. Chẳng hạn, C.Mác, Ph. ăngghen, V.I. Lênin đều xuất thân từ các giai
cấp khác, nhng các ông lại là những nhà t tởng vĩ đại của giai cấp vô sản.
Hình thức của t tởng và hệ t tởng đợc biểu hiện thông qua các hình thái ý
thức xã hội nh triết học, chính trị, tôn giáo, văn học - nghệ thuật, khoa
học
Sự ra đời và tồn tại của t tởng và hệ t tởng gắn liền với tồn tại xã hội,
với lợi ích của con ngời. Muốn xây dựng, truyền bá hay giải quyết các vấn
đề về t tởng có hiệu quả phải căn cứ tồn tại xã hội, quan tâm đến lợi ích
14
thiết thân, chính đáng của con ngời. Mặt khác, t tởng và hệ t tởng còn có
tính độc lập tơng đối so với tồn tại xã hội. Điều đó thể hiện ở chỗ t tởng và
hệ t tởng có khi tiên tiến, vợt trớc lại có khi lạc hậu so với tồn tại xã hội. Do
vậy, t tởng và hệ t tởng đòi hỏi không ngừng đợc bổ sung, hoàn thiện để
phản ánh đúng khuynh hớng không ngừng vận động, phát triển của tồn tại
xã hội.
T tởng và hệ t tởng tác động trở lại hiện thực thông qua vai trò chỉ
đạo của nó đối với hành động con ngời. Muốn có hành động thống nhất
trong toàn xã hội, trớc hết, cần phải tạo đợc sự thống nhất về t tởng. Chủ
nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra rằng: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng.
Để phát huy vai trò của con ngời, của quần chúng nhân dân, góp phần thúc
đẩy sự nghiệp cách mạng tiến lên phải làm cho t tởng và hệ t tởng vô sản
ngày càng hoàn thiện và thâm nhập vào quần chúng để trở thành "lực lợng
vật chất". Đó chính là lý do ra đời và tồn tại CTTT của các Đảng Mác -
Lênin, trong cách mạng XHCN.
1.1.2 Khái niệm công tác t tởng
Chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng t tởng, kim chỉ nam cho hành
là vũ khí mạnh mẽ của Đảng trong cuộc đấu tranh nhằm xây dựng xã hội
mới. Nó hàm nghĩa rằng Đảng, các cơ quan Nhà nớc và các tổ chức xã hội
phải thờng xuyên tác động giáo dục - t tởng đến ý thức, tình cảm và hành vi
của con ngời, nhằm đoàn kết các tầng lớp hết sức rộng rãi trong nhân dân
lao động xung quanh Đảng, đảm bảo sự thống nhất các quan điểm và hành
động của họ" [99, 11]. Cũng với cách tiếp cận này, tác giả Thái Ninh đa ra
khái niệm: "Công tác t tởng là bộ phận quan trọng trong toàn bộ hoạt động
của Đảng Cộng sản, gắn liền với sự tồn tại của Đảng và sự lãnh đạo của
16
Đảng đối với xã hội. Công tác t tởng là hoạt động đa dạng, gồm nhiều bộ
phận tác động vào ý thức để hình thành trong con ngời hệ t tởng với thế giới
quan đúng đắn, phơng pháp luận khoa học, nâng cao năng lực trí tuệ, bảo
đảm cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả" [75]. Theo tác giả Đào Duy
Tùng: "Công tác t tởng là một bộ phận cấu thành rất quan trọng trong toàn
bộ hoạt động cách mạng của Đảng. Công tác t tởng cùng với công tác tổ
chức góp phần xây dựng Đảng thành đội tiên phong, bộ tham mu chiến đấu
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nó có nhiệm vụ giáo dục chủ
nghĩa Mác - Lênin, chủ trơng, đờng lối của Đảng cho cán bộ, đảng viên và
quần chúng, nhằm nâng cao tính tự giác, chủ động, sáng tạo của họ trong
việc thực hiện những nhiệm vụ chính trị cụ thể do Đảng đề ra; đồng thời nó
cũng góp phần vào việc hình thành chủ trơng, đờng lối của Đảng góp
phần quan trọng vào việc xây dựng con ngời mới xã hội chủ nghĩa, vào việc
hình thành thợng tầng kiến trúc mới về mặt hình thái ý thức" [95, 7-8].
- Gắn liền với CTTT của Đảng Cộng sản Việt Nam, có một số khái
niệm sau: Tác giả Trần Trọng Tân quan niệm: "Công tác t tởng của Đảng
Cộng sản Việt Nam chúng ta là nhằm xây dựng cho con ngời có t tởng đúng
để hành động đúng, thúc đẩy con ngời tiến bộ, xã hội phát triển và đấu
tranh chống lại những t tởng sai, dẫn đến những hành động sai, làm cản trở
hoặc kìm hãm sự phát triển của xã hội; làm cho con ngời lạc hậu, thoái hóa"
[84, 162]. Tác giả Hữu Thọ đa ra khái niệm: "Công tác t tởng-văn hóa là
làm ba loại. Trong tác phẩm "Làm gì?", khi bàn về cuộc đấu tranh của
những ngời dân chủ - xã hội Đức chống thuế ngũ cốc, Lênin đề cập đến ba
loại hình hoạt động của những ngời làm CTTT: "Những nhà lý luận thảo
những bản nghiên cứu về chính sách thuế, trong đó họ "kêu gọi", chẳng
hạn, đấu tranh đòi ký các hiệp ớc buôn bán và đòi tự do buôn bán; ngời
18
tuyên truyền cũng viết nh thế trên các tạp chí, và ngời cổ động cũng nói nh
thế trong các cuộc diễn thuyết trớc công chúng" [36, 85]. Từ đó, các tác giả
Liên Xô (cũ) quan niệm có ba bộ phận cấu thành CTTT của Đảng Mác -
Lênin đó là: hoạt động lý luận, hoạt động tuyên truyền và hoạt động cổ
động [99, 12].
Trong cuốn "Nguyên lý công tác t tởng", các tác giả cho CTTT có
ba hình thái: công tác lý luận, công tác tuyên truyền và công tác cổ động
[31, 28-50].
Theo cuốn "Một số vấn đề lý luận và nghiệp vụ công tác t tởng", các
tác giả Hà Học Hợi và Hồ Văn Chiểu quan niệm CTTT phân thành ba bộ
phận (trong đó giáo dục lý luận thuộc bộ phận tuyên truyền, giáo dục):
nghiên cứu lý luận; công tác tuyên truyền, giáo dục; công tác cổ động [68,
24-26].
Trong thực tế, có ngời hiểu công tác lý luận bao hàm cả nghiên cứu
lý luận và giáo dục lý luận; có ngời lại cho giáo dục lý luận thuộc công tác
tuyên truyền; có ngời lại coi tuyên truyền, cổ động là một. Thậm chí, có ng-
ời quan niệm quan niệm ba hình thái của CTTT là: hình thái công tác giáo
dục lý luận; hình thái công tác tuyên truyền, cổ động; hình thái công tác
văn hóa văn nghệ, khoa học giáo dục và lịch sử [69, 41] Chúng tôi cho
rằng, sự phân loại các hình thái CTTT chỉ có tính chất tơng đối và chủ yếu
căn cứ vào phơng thức tác động chính để đạt mục đích chủ yếu khi tiến
hành công tác (công tác nghiên cứu lý luận chủ yếu sử dụng t duy để tổng
kết thực tiễn nhằm hình thành và phát triển lý luận; công tác tuyên truyền,
giáo dục sử dụng ngôn ngữ là chính để tác động vào nhận thức nhằm truyền
Công tác nghiên cứu lý luận của Đảng Mác - Lênin phải thờng
xuyên đấu tranh nhằm khắc phục chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa kinh
nghiệm, chủ nghĩa cơ hội và xét lại cũng nh sự tấn công, phá hoại của hệ
20
t tởng t sản. Chẳng hạn, ở Trung Quốc, đấu tranh lý luận diễn ra gay gắt
trong thời kỳ đầu của cải cách - mở cửa, đã có lúc để cho những t tởng,
quan điểm sai trái, phản động chiếm u thế, dẫn đến hậu quả là cuộc động
loạn ở Thiên An Môn tháng 6/1989. Bài học rút ra sau sự kiện này là: "Nếu
không giữ vững phơng hớng xã hội chủ nghĩa trong công tác nghiên cứu lý
luận, không dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin, thì chẳng những không thể có
những sáng tạo khoa học mà còn dẫn đến những thảm họa cho dân tộc" [94,
100].
Công tác nghiên cứu lý luận ở Việt Nam hiện nay phải thờng xuyên
bám sát và tổng kết thực tiễn đất nớc nhằm không ngừng bảo vệ và phát
triển chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và mang lại nội dung lý
luận hợp với nớc ta hiện nay, làm "nền tảng t tởng và kim chỉ nam hành
động" để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới.
Công tác tuyên truyền, giáo dục là một hình thái của CTTT nhằm
truyền bá cho quần chúng nhân dân lý luận Mác - Lênin và đờng lối của
Đảng, trang bị cho họ những tri thức về các quy luật phát triển của xã hội,
trên cơ sở đó, xây dựng niềm tin vào lý tởng cộng sản và nâng cao tính tích
cực, sáng tạo của quần chúng trong cuộc đấu tranh xây dựng xã hội mới.
Hồ Chí Minh nói một cách nôm na rằng: "Tuyên truyền là đem một việc gì
nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm" [61, 162].
Công tác tuyên truyền, giáo dục là hoạt động phổ biến nhất để lý
luận thâm nhập vào quần chúng, tạo nên sự thống nhất ý chí và hành động,
làm nên sức mạnh của cách mạng. C.Mác đã chỉ ra: "Lý luận cũng sẽ trở
thành lực lợng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng" [49, 580].
Một trong những nguyên nhân quan trọng để xảy ra sự biến ở Liên
Xô và Đông Âu làm sụp đổ chủ nghĩa xã hội hiện thực ở các nớc này cũng
22
Phơng pháp cổ động cũng có thể là dùng lời (bài nói ngắn gọn súc
tích, lời kêu gọi); cũng có thể là dùng phơng tiện trực quan (cátxét, viđêô,
khẩu hiệu, thể thao, văn nghệ ); có thể dùng cả phơng pháp nêu gơng.
Nhìn chung, phơng pháp cổ động trực quan chiếm u thế hơn cả, vì nó tác
động đồng thời và trực tiếp vào các giác quan của đối tợng, gây sự phấn
chấn, hứng thú, để lại ấn tợng mạnh mẽ, thôi thúc, giục giã quần chúng h-
ởng ứng và hành động theo hớng ngời cổ động mong muốn. Hình thức, ph-
ơng tiện cổ động có thể là mít tinh, diễu hành, văn hóa - văn nghệ, tranh cổ
động, khẩu hiệu, hoặc tờ rơi và thờng là ở chỗ đông ngời qua lại.
Công tác cổ động có vai trò nh là "chất kích thích" trong việc biến
t tởng cách mạng thành hành động cách mạng cụ thể. Sở dĩ nh vậy vì nó có
nhiệm vụ thông tin có định hớng trực tiếp các tin tức, sự kiện, hiện tợng cụ
thể trong đời sống hàng ngày của quần chúng, đồng thời hiệu triệu, động
viên quần chúng, thúc đẩy họ tham gia tích cực vào những nhiệm vụ cách
mạng cụ thể, trớc mắt. Lênin đã từng đánh giá cao vị trí, vai trò công tác cổ
động trong giải quyết nhiệm vụ cụ thể của cách mạng, việc giải quyết các
nhiệm vụ khác nhau phụ thuộc vào việc quần chúng hiểu và nắm đợc chúng
đến mức độ nào. Vì vậy, mỗi cán bộ cổ động cần phải cố gắng "ảnh hởng
một cách tốt nhất đến một thính giả nhất định, làm cho một chân lý nào đó
đối với họ trở nên có sức thuyết phục mạnh nhất, dễ hiểu nhất, để lại những
ấn tợng rõ ràng nhất, sâu sắc nhất" [41, 28].
Công tác cổ động có quan hệ gần gũi, gắn bó với công tác tuyên
truyền nhng cũng có nét phân biệt nhau về nội dung, mục tiêu, phơng pháp.
Tuyên truyền là giải thích bản chất các sự kiện diễn ra trong đời sống, vạch
rõ các quy luật phát triển của nó để xây dựng cơ sở khoa học cho niềm tin
vững chắc và hành động tự giác, sáng tạo của mỗi ngời trong việc thực hiện
những mục tiêu cách mạng có tầm chiến lợc; có tính chất cơ bản, lâu dài.
Cổ động thì chủ yếu là tác động trực tiếp vào tâm lý, tình cảm để cổ vũ,
23
tiến hành, song có quan hệ gắn bó với nhau, cùng tác động đến nhận thức t
tởng, tâm lý, tình cảm quần chúng, tạo ra sự thống nhất ý chí và hành động
góp phần vào sự nghiệp cách mạng. Trong điều kiện trình độ dân trí ngày
càng cao, thông tin ngày càng phát triển, nhất là trong tình hình t tởng trong
nớc và trên thế giới đang diễn biến phức tạp hàng ngày, hàng giờ, ba hình
thái của CTTT chỉ thực sự có hiệu quả khi có sự hỗ trợ đắc lực của công tác
nghiên cứu DLXH đúng đắn. Nói cách khác, mỗi hình thái CTTT phải thờng
xuyên căn cứ vào kết quả nghiên cứu DLXH để có nội dung, hình thức, ph-
ơng pháp, phơng tiện phù hợp với đối tợng, trong từng thời điểm cụ thể, mới
nâng cao hiệu quả công tác này.
Các yếu tố cơ bản của hệ thống CTTT bao gồm chủ thể tiến hành
CTTT thông qua nội dung, hình thức, phơng pháp, phơng tiện ở ba hình
thái CTTT tác động đến đối tợng CTTT theo những nguyên tắc nhất định, để
đạt đợc hiệu quả nào đó, nhằm thực hiện mục đích CTTT. Trong đó, mục
đích CTTT do mục đích, nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng qui định; còn
hiệu quả chính là mức độ kết quả đạt đợc trong thực tế so với mục đích đã
đặt ra trong một điều kiện xã hội nhất định và một sự chi phí nào đó trong
CTTT. Hiệu quả CTTT góp phần vào sự nghiệp cách mạng; sự nghiệp cách
mạng phát triển lên một trình độ mới lại đặt ra những mục tiêu, nhiệm vụ
cho CTTT ở giai đoạn tiếp theo.
Chủ thể CTTT: CTTT mang tính giai cấp rõ rệt, do đó nói đến chủ
thể CTTT trớc hết phải nói đến Đảng Mác - Lênin. Đảng làm CTTT thông
qua hoạt động của Trung ơng Đảng, của các cấp ủy đảng, của các cơ quan
tham mu CTTT và của các đảng viên. Hồ Chí Minh viết: "Kinh qua đảng
viên và các tổ chức của Đảng, Đảng liên hệ chặt chẽ với quần chúng, tuyên
truyền, giáo dục và tổ chức quần chúng, lãnh đạo các đoàn thể cách mạng
của quần chúng" [62, 232-233]. Toàn Đảng tham gia làm CTTT, tuy nhiên,
25