Học viện chính trị hành chính
quốc gia hồ chí minh
Tiểu luận
Lịch sử t tởng quản lý
Chuyên đề:
T tởng quản lý trung hoa cổ đại
Học viên : Trần Thanh Hải
Lớp
: Cao học QLKT-KTT-K16
năm 2011
Mở đầu
Quản lý là một hoạt động thiết yếu nảy sinh khi có hoạt động của một tập
thể nhằm đạt đợc mục tiêu chung. Quản lý xuất hiện khi có một hoạt động mang
tính xã hội hoá nhằm đạt tới các mục tiêu chung. Ngay từ những ngày đầu xuất
hiện xã hội loài ngời, cuộc sống thực tế đã buộc ngời ta phải cố kết với nhau để
sống và đảm bảo cho xã hội tồn tại và phát triển đã phải quản lý, song đây là một
sự quản lý mang tính bản năng, hình thành dần qua kinh nghiệm của cuộc sống.
Lúc đó con ngời cha có chữ viết, cha có khái niệm về kỹ thuật, về khoa học và
cha có một ý thức hoàn chỉnh về hoạt động của mình nói chung, trong đó có hoạt
động quản lý. Chỉ tới khi loài ngời đã phát triển tới một trình độ cho phép thực
hiện việc phân công lao động xã hội, tách lao động trí óc khỏi lao động chân tay,
một số ngời chuyên hoạt động về trí óc nhằm tích luỹ và lý giải những tri thức
kinh nghiệm về quản lý thì mới manh nha ra đời các t tởng quản lý.
Đóng góp vào t tởng quản lý thời cổ đại phải kể đến các nhà triết học cổ
Trung Hoa, khi ngời ta bắt đầu công nhận các chức năng quản lý, đó là kế hoạch
quản lý, cai trị giỏi thì vua quan phải làm chonhân dân tin tởng và phụ tùng.
Muốn vậy, ngời quản lý phải có Nhân. Theo ông Nhân là yêu ngời (nhân giả
ái nhân). Trong gia đình thì trọn hiếu đễ, yêu trẻ, kính già; ngoài xã hội thì mọi
ngời yêu thơng, giúp đỡ nhau. Cụ thể hơn, ngời có Nhân là ngời mình muốn lập
thân thì cũng giúp ngời lập thân, mình muốn thông đạt cũng giúp ngời thông
đạt. Mặc khác lại cần phải Điều mình không muốn thì đừng (đem ra) đối xử
với ngời khác. Ông đã phân tích 5 đức tính cơ bản để ngời quản lý đạt đến chữ
Nhân là: cung, khoan, tín, mẫn, huệ: cung kính thì không bị khinh nhờn, nhân
hậu thì đợc lòng ngời, thành tín thì đợc ngời ta tín nhiệm, cần mẫn thì thành
công, từ huệ thì sử dụng đợc ngời. Điều đó có nghĩa là khi có nhân thì ngời
quản lý sẽ có quan hệ tốt đẹp với cả trên và cả dới, có thể khiến ngời khác tuân
theo, công việc quản lý sẽ đạt kết quả tốt.
Đối với nhân dân, (giai cấp bị trị), ông nhận ra rằng, chữ Nhân cũng rất
quan trọng. Ta biết bằng, trong xã hội lúc bấy giờ, mâu thuẫn xã hội rất gay gắt,
nhân dân thờng hay chống đối lại giai cấp thống trị. Theo ông, các gốc của sự
phản kháng là vì cha thấm nhuần đợc đạo Nhân. Do đó, dân chúng cũng phải
hiểu rõ đợc t tởng yêu ngời, học đợc đạo hiếu đễ của điều Nhân. Khi đó, họ sẽ
không phạm thợng làm loạn.
Ông phản đối chế độ Pháp trị và thấy rằng nhân dân cũng có nhu cầu đợc đối xử một cách nhân ái: Dần cần nhân đức còn khẩn thiết hơn cả cần nớc.
Tóm lại, Nhân đức là nguyên tắc chung gắn kết giữa ngời quản lý với ngời bị
quản lý nhằm đạt hiệu quả xã hội cao.
Xuất phát từ nhận thức nh vậy, Khổng Tử đã đề ra chính sách quản lý là
Đức trị, tức là bổ sung Đức và Lễ vào chỗ thiếu của chính sách dùng chính và
hình lúc bấy giờ. Ông nói: Dùng chính pháp để dân dự dân, dùng hình phạt để
chỉnh tế dân, dân chỉ tạm thời khỏi mắc tội lỗi nhng không có liêm sỉ. Nếu nh
dùng đạo đức để dẫn dự dân, sửa lễ giáo để chỉnh tề dân, chẳng những dân có
liêm sỉ mà còn trừ bỏ đợc ác tâm mà lòng ngời quy phục. Muốn vậy, mọi ngời
đều phải học và thực hành đạo Nhân Ngời quân tử học đạo (Nhân) thì yêu ngời,
kẻ tiểu nhân học đạo (Nhân) thì dễ sai khiến. Ngời cai trị lại càng phải thực
3
cho giai cấp thống trị. Khẩu hiệu yêu ngời của ông là khẩu hiệu siêu giai cấp,
khó có thể thực hành tỏng xã hội lúc bấy giờ. Đó chỉ có tác dụng trấn an tinh
thần nhân dân, để điều hoà mâu thuẫn giai cấp sâu sắc lúc bấy giờ, làm cho dân
chúng phục vụ cho lợi ích lâu dài của giai cấp thống trị. Việc Khổng Tử dùng
danh để quy định thực mà không phải dùng thực làm giàu cho danh của
thuyết chính danh là t tởng bảo thủ, chống lại quy luật khách quan của xã hội.
Tuy có một số nhợc điểm nh vậy nhng nhìn chung thuyết Đức trị của
Khổng Tử cũng có giá trị to lớn, đợc nhiều nhà quản lý sau đó kế thừa và thu đợc
nhiều kết quả tốt đẹp.
4
2. T tởng pháp trị của Hàn Phi Tử
Theo Hàn Phi, để cai trị đợc đất nớc, trớc hết, ông vua phải có Thế, tức là
cái uy, cái danh, cái vị thế của quyền lực tối cao; đồng thời phải có Thuật, tức là
có kỹ năng, cách thức (cả kỹ thuật và cả tâm thuật) để điều khiển quan lại d ới
trớng và quản lý muôn dân. Hàn Phi viết: Vị vua sáng suốt sở dĩ lập đợc công,
thành đợc danh là nhờ có 4 điểm: một là thiên thời, hai là lòng ngời, ba là kỹ
năng, bốn là cái thế và đị vị.
Thế và địa vị là quyền quy tối cao của nhà vua. Để đề cao Thế trong cai
trị, theo Hàn Phi, cái uy không thể cho mợn, cái quyền không thể chung với ngời
khác. Biểu hiện của cái uy, các quyền tức là biểu hiện của Thế là ở chỗ,
nhà vua là ngời duy nhất đề ra luật pháp, nhà vua nắm giữ thởng phạt. Kẻ làm
vua nếu tự mình dùng hình phạt và ân đức thì bầy tôi sợ cái uy của nhà vua mà
chạy theo cái lợi của họ. Thế theo Hàn Phi không phải là do đức mà có, cũng
không phải chỉ bằng pháp luật hà khắc, dã man. Hàn Phi là ngời thực dụng và
nguyên tắc nên khi nói về Thế và điều kiện để có đợc Thế, ông đồng thời đề
cao pháp luật và thởng phạt: pháp luật công bằng, thởng phát côngminh, cho
nên, đều sửa chữa đợc sai lầm của ngời trên, trị đợc cái gian của kẻ dới thống
nhất đờng lối của dân không gì bằng pháp luật. Thởng phạt dùng để tạo nên
quy tắc tiêu chuẩn mà chỉ cậy vào trí thông minh thì óc vất vả lo nghĩ mà vẫn
không có cái thuận để biết đợc điều gian.
Nh vậy, trong việc cai trị của các bậc vua chúa, mối lo nhất là trừ gian,
điều quan tâm nhất là dùng ngời Thuật trong t tởng của Hàn Phi bao gồm: trừ
gian, dùng ngời, và thuật vô vi.
Trừ gian là các thuật để loại trừ bọn gian thần. ÔNg phân ra thành 8loại
gian thần gồm hai hạng: kẻ thân thích vua và quần thần. Cả hai đều đánh vào
tình cảm, dục vọng và điểm yếu của vua để lung lạc, che giấu, tự do hoành hành;
chúng ngăn cản và hãm hại trung thần.
Hàn Phi đa ra nhiều thuật để nhận biết kẻ gian, kiềm chế hạng ngời t lợi
có địa vị cao và loại trì những kẻ gian tà không cải hoá đợc. Ông phân loại quần
thần để có cách xử lý với từng đối tợng: nếu là kẻ tham lam, cho họ chức tớc
bổng lộc hậu hĩ để mua chuộc họ khỏi làm phản; nếu là kẻ gian tà thì phải trừng
phạt; còn nếu không cải hoá đợc thì phải loại trừ.
Hàn Phi nhấn mạnh việc dùng ngời phải rất thận trọng. Ông đa ra 7 thuật
chủ yếu mà vua chúa dùng là:
1. Xem xét và so sánh các đầu mối
2. Phạt chắc chắn để nâng cao uy quyền
3. Thởng chắc chắn để dùng hết năng lực
4. Nghe mọi ngời và bắt ngời dới chịu trách nhiệm và điều đã nói
5. Ra mệnh lệnh đáng ngờ và dùng mánh khoé để sai khiến
6. Tập hợp những hiểu biết sự thực
7. Đảo ngợc lời nói và đảo ngợc công việc
Dùng ngời, theo Hàn Phi là phải soi sáng sự thởng phạt, phải dùng
công việc để sử dụng ngời, đó là then chốt của còn hay mất, trị hay loạn. Tuy
nhiên, dùng công việc cũng phải có kỹ thuật tỷ mỷ, không chỉ nghe ngời ta nói
mà phải xem ngời ta làm và phàm lời nói, việc làm phải lấy ôcng dụng làm tiêu
6
của Hàn Phi.
Hàn Phi cho rằng, pháp luật không chỉ công khai mà còn phải dễ biết, dễ
hiểu, nghĩa là phải thống nhất, cố định và đơn giản pháp luật không gì bằng
thống nhất và chắc chắn, khiến cho dân biết nó. Trong thiên Bát thuyết ông còn
viết: Những điều mà những kẻ sĩ sâu sắc mới có thể hiểu đợc thì không thể đa
ra làm lệnh, vì dân không phải tất cả đều sâu sắc (Bát thuyết), và pháp luật gọn
thì việc kiện tụng của dân ít đi.
7
Đây là t tởng tiến bộ của Hàn Phi nói riêng, của trờng phái Pháp gia nói
chung trong bối cảnh chế độ quân chủ phong kiến hình phạt không tới trợng
phu, phần thởng không tới thứ dân. Phái Pháp gia chủ trơng pháp luật công
bằng. Quản Trọng nhấn mạnh vua tôi, sang hèn đều theo pháp luật một cách
chí công vô t. Hàn Phi đề cập rất cụ thể vấn đề này, ông viết: Pháp luật công
bằng thì quan lại không làm điều gian. Trong thiên Thủ đạo, Hàn phi rất tâm
huyết: cho nên, trị nớc thì minh định pháp luật, đặt ra hình phạt nghiêm khắc để
cứu loạn cho quần chúng, trừ hoạ cho thiên hạ, khiến cho kẻ mạnh không lấn kẻ
yếu, đám đông không hiếp đáp số ít, biên giới không bị xâm phạm, vua tôi thân
nhau, cho con bảo vệ nhau, không lo bị giết hay bị giặc cầm tù, đó cũng là cái
công cực lớn vậy.
8
Kết luận
T tởng Đức trị cũng có mặt hạn chế mà căn bản là từ xuất phát điểm của t
tởng. Khẩu hiệu ái nhân, kiêm ái là những khẩu hiệu ảo tởng, không thể thực
hiện đợc ở xã hội có giai cấp (nh bấy giờ). Đối với giai cấp thống trị, ái nhân
chỉ nhằm điều hoà mâu thuẫn sâu sắc lúc bấy giờ, làm xoa dịu dân chúng, thủ
Mục lục
Mở đầu
Nội dung
1. T tởng Đức trị của Khổng Tử (551 479 TCN)
2. T tởng Pháp trị của Hàn Phi Tử
Kết luận
11
Trang
1
2
4
9