CHỦ NGHĨA TAM DÂN
TÔN TRUNG SƠN
Hiện nay Trung Quốc là một cường quốc trên thế giới, đã và đang không
ngừng khẳng định vị trí của mình. Điều gì đã giúp Trung Quốc có được vị trí đó?
Đây là một câu hỏi được rất nhiều quốc gia quan tâm tới. Bởi Trung Quốc đã
chuyển mình từ một quốc gia phong kiến lạc hậu để trở thành một con rồng lớn.
Nguyên nhân để Trung Quốc vươn lên thì có rất nhiều, từ những tiềm lực nội quốc
hay tranh thủ sự giúp đỡ của bên ngoài. Song quan trọng hơn đó là việc nhận thức
mình cần phải làm gì để vươn lên và mình cần phải vươn lên như thế nào? Câu hỏi
đó đặt ra với Trung Quốc trong từng thời kỳ lịch sử, đặc biệt trong thời kỳ cận đại
nó vô cùng quan trọng. Bởi thời kỳ này có những vấn đề lớn đặt ra đó là hội nhập
và phát triển. Để giải quyết vấn đề này Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn đã
ra đời, nó chính là con đường tiến tới cận hiện đại hóa.
I. VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM
1. Tác giả
1.1. Cuộc đời
Tôn Trung Sơn là nhà cách mạng dân chủ Trung Quốc, người lãnh đạo cuộc
cách mạng Tân Hợi năm 1911, lật đổ triều đại Mãn Thanh và khai sinh ra Trung
Hoa dân quốc. Ông được người Trung Hoa gọi yêu mến là "Quốc phụ Trung Hoa".
Ông sinh ngày 12 tháng 11năm 1866 tại Quảng Đông, tên thật là Văn, hiệu là Dật
Tiên, khi ở Nhật Bản lấy tên là Trung Sơn.
Năm 1879 Tôn Trung Sơn theo mẹ sang Mỹ học tập. Năm 1887, đến Đàn
Lương Sơn học. Năm 1892 tốt nghiệp Viện Tây y Hồng Công. Năm 1894, Tôn
Trung Sơn sang tiểu bang Hawai tại Hoa Kỳ tập hợp Hoa kiều cùng chí hướng
thành lập Hưng Trung hội với tôn chỉ đánh đổ phong kiến Mãn Thanh, khôi
phục Trung Hoa.
Năm 1905, Tôn Trung Sơn hợp nhất Hưng Trung hội với một số tổ chức
trong nước lập thành Trung Quốc Đồng minh hội do ông làm Tổng lý. Từ 1905
đến năm 1911 Trung Quốc Đồng minh hội tổ chức nhiều cuộc binh biến ở các tỉnh
chế độ quân chủ chuyên chế. Ông chủ trương “bài trừ nô dịch, khôi phục Trung
Hoa, sáng lập quốc dân, bình quân quyền ruộng đất”. Đó cũng là nội dung cơ bản
của chủ nghĩa tam dân.
Ông cho rằng có thể lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước đế quốc để làm giảm
áp lực đối với cách mạng Trung Quốc. Ông luôn đấu tranh không khoan nhượng để
bảo vệ chế độ cộng hòa dù thành quả cách mạng của ông bị phá hoại nghiêm trọng.
Ông đề ra khẩu hiệu triệt để tiêu diệt chủ nghĩa quân phiệt. Ông cho rằng
chủ nghĩa quân phiệt là nguyên nhân gây nên mọi sự hỗn loạn trên đất nước Trung
Quốc.
Năm 1924, ông triệu tập Đại hội đại biểu lần I Đảng Quốc dân Trung Quốc,
đề ra cương lĩnh mới của đảng cách mạng dân chủ; giải thích thêm chủ nghĩa tam
dân, xác lập chính sách hợp tác với các nước cộng sản và ủng hộ cách mạng.
2. Tác phẩm
2.1. Hoàn cảnh ra đời
Tác phẩm là tập hợp 16 bài giảng do Tôn Trung Sơn trình bày tại các lớp
học của Quốc dân đảng từ tháng 1 đến tháng tám năm 1924. Ông tuyên truyền tư
tưởng của mình để trang bị lý luận, nâng cao tinh thần chiến đấu cho các Đảng
viên trong Đảng.
2.2.
Kết cấu tác phẩm
Tác phẩm gồm Di chúc, Tựa, Tự truyện của Tôn Trung Sơn và 3 phần: Chủ
nghĩa dân tộc (gồm 6 bài), Chủ nghĩa dân quyền (gồm 6 bài), Chủ nghĩa dân sinh
(gồm 4 bài).
II. NỘI DUNG CỦA TÁC PHẨM
Phần I: Chủ nghĩa dân tộc
Chủ nghĩa Tam dân bao gồm chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa dân quyền và chủ
nghĩa dân sinh. Nội dung của Chủ nghĩa Tam dân được trình bày qua 16 bài giảng
lượng tự nhiên, còn quốc gia do vũ lực tạo thành. Lực lượng tự nhiên là vương
đạo, và thứ tổ chức hình thành bằng vương đạo là dân tộc. Vũ lực là bá đạo, thứ tổ
chức hình thành từ bá đạo là quốc gia. Ông viết “chẳng hạn, Hương Cảng hình
thành tuyệt nhiên không phải do mấy trăm nghìn người Hương Cảng hoan nghênh
người Anh, mà do người Anh dung vũ lực cát cứ mà thành. Vì trước đây Trung
Quốc và Anh đánh nhau, Trung Quốc bại trận, cắt đất và người Hương Cảng cho
nước Anh, lâu dần mới hình thành nên Hương Cảng ngày nay”(tr.52).
Bàn về nguồn gốc dân tộc, theo ông loài người trên thế giới vốn là động vật,
nhưng nó khác với loài cầm thú bình thường. Nó là linh hồn của vạn vật. Loài
người được phân chia ở cấp thứ nhất thành năm chủng tộc: trắng, đen, đỏ, vàng,
nâu. Từ chủng tộc phân nhỏ thêm nữa, sẽ có rất nhiều tộc. Theo ông, nguyên nhân
làm hình thành nên trạng thái nhiều dân tộc này là năm lực lượng:
Thứ nhất là “lực lượng tự nhiên, nhưng phân tích ra thì rất phức tạp.Trong
đó lực lượng lớn nhất là huyết thống. Người Trung Quốc có màu da vàng là do
huyết thống cội rễ của họ là chủng tộc da vàng. Huyết thống của tổ tiên sẽ mãi mãi
được di truyền qua các thế hệ người trong một tộc, do đó huyết thống có sức mạnh
rất lớn”(tr.53).
Lực lượng thứ hai là lối sống. Phương thức mưu sinh khác nhau thì dân tộc
cũng được hình thành khác nhau. Ông viết “Người Mông Cổ cư trú đuổi theo nước
và cỏ, sống theo phương thức du mục, ở đâu có cỏ với nước thì di cư đến đó, và
nhờ tập quán di cư này nên du cư đến đâu họ cũng có thể kết hợp được thành một
dân tộc” (tr.53,54).
Lực lượng lớn thứ ba là ngôn ngữ. Ông viết “ Nếu các dân tộc ngoại lai học
được ngôn ngữ của chúng ta, họ sẽ dễ bị chúng ta cảm hóa và lâu dần, sẽ bị đồng
hóa thành dân tộc chúng ta. Trái lại, nếu chúng ta biết được ngôn ngữ nước ngoài,
chúng ta cũng dễ bị người nước ngoài đồng hóa. Nếu huyết thống của nhân dân
giống nhau, ngôn ngữ cũng giống nhau, thì càng dễ đồng hóa. Như vậy, ngôn ngữ
cũng là một lực lượng rất lớn hình thành nên các dân tộc trên thế giới”(tr.54)
gia tộc, tông tộc liên kết lại thành một đoàn thể lớn là quốc tộc, sẽ có lực lượng to
lớn.
Chủ nghĩa dân tộc của Trung Quốc đã mất, Ông cho rằng nguyên nhân làm
cho chủ nghĩa dân tộc của Trung Quốc mất là do rất nhiều nguyên nhân:
Nguyên nhân thứ nhất là bị dân tộc chinh phục là nguyên nhân lớn nhất. Ông
viết “Phàm một dân tộc chinh phục một dân tộc khác, đương nhiên không để cho
dân tộc đó có tư tưởng độc lập. Thí dụ như chinh phục Cao Ly, Nhật Bản đang cố
thay đổi tư tưởng của người Cao Ly. Phàm những lời lẽ về tư tưởng dân tộc trong
các sách giáo khao trong nhà trường Cao Ly đều bị lược bỏ, như vậy 30 năm nhi
đồng Cao Ly sẽ không còn biết có Cao Ly nữa, không còn biết mình là người Cao
Ly nữa. Trước đây Mãn Châu cũng đối xử với chúng ta như vậy. Do đó nguyên
nhân đầu tiên làm cho chủ nghĩa dân tộc diệt vong là chúng ta bị dị tộc chinh
phục. Dân tộc đi chinh phục phải xóa sạch những bảo bối của dân tộc bị chinh
phục. Người Mãn Châu biết được điều này, đã dùng những thủ đoạn rất lợi hại để
thực hiện”(tr.96).
Ông đặt ra câu hỏi tại sao các nước khác mất nước như Trung Quốc nhưng
chủ nghĩa dân tộc lại không mất. Ông lấy ví dụ :“Ba Lan trước đây cũng mất nước
hơn 100 năm, nhưng tư tưởng dân tộc của Ba Lan mãi mãi tồn tại, nhờ vậy sau
chiến tranh châu Âu, nó đã khôi phục được non sông cũ, và đến nay trở thành một
nước ở hàng thứ hai, thứ ba châu Âu. Vậy là Trung Quốc và Do Thái, Ấn Độ, Ba
Lan đều mất nước. Tại sao các nước khác mất nước nhưng chủ nghĩa dân tộc
không bị mất, còn Trung Quốc, qua hai lần mất nước thì tư tưởng dân tộc bị diệt
vong?” (tr.126)
Từ những điều đó, ông đã đi đến một nguyên nhân thứ hai mà khiến cho chủ
nghĩa dân tộc của Trung Quốc bị mất nước là Trung Quốc có thời kỳ từ chủ nghĩa
đế quốc cường thịnh, tiến đến thời kỳ chủ nghĩa thế giới. Ông viết “Khi chưa mất
nước Trung Quốc là một dân tộc văn minh, một quốc gia cường thịnh. Nó thường
tự xưng là đại quốc oai nghiêm, là xứ sở của thanh danh và văn hiến, nó coi các
dùng thần quyền; thời kỳ thứ ba, người đấu tranh với người, nước này đấu tranh
với nước kia, dân tộc này đấu tranh với dân tộc kia, dùng quân quyền; thời kỳ thứ
tư, tức là hiện nay, đấu tranh trong nước, nhân dân đấu tranh với nhà vua. Có thể
nói, đây là thời đại người thiện đấu tranh với kẻ ác, công lý đấu tranh với cường
quyền. Ở thời đại này, dân quyền dần dần phát triển, vì thế có thể gọi đây là thời
đại Dân quyền” (tr.173)
Dân quyền gắn với Tự do – Bình đẳng – Bác ái. Ông nói đây là căn cứ của
dân quyền. Sau khi phong trào cách mạng lan đến các nước phương Đông thì từ
ngữ Tự do mới được truyền đến đây. Trong khi đó, từ hai ba trăm năm trước đây,
tại Âu – Mỹ phong trào tư tưởng này chiếm vị trí rất quan trọng, hai ba trăm năm
nay chiến tranh ở Âu – Mỹ hầu như đều là chiến tranh vì tự do. Ông cho rằng:
“Ngày nay chúng ta nói về dân quyền; học thuyết dân quyền là học thuyết được
truyền từ châu Âu; mọi người phải hiểu rõ dân quyền là gì? Hơn nữa phải hiểu rõ
tự do đi đôi với dân quyền là gì?” (tr.197). Tự do theo ông không phải giống như
các nước châu Âu đương thời :“Cá nhân không được tự do thái quá, quốc gia phải
được tự do hoàn toàn. Đến khi quốc gia có thể hành động tự do thì Trung Quốc là
quốc gia cường thịnh. Làm như vậy thì mọi người phải hi sinh tự do. Khi học sinh
hy sinh tự do thì có thể hàng ngày chăm chỉ dùng thời gian công sức vào học vấn,
học thành tài, tri thức phát triển, giàu năng lực thì có thể làm việc cho quốc gia.
Khi quân nhân hi sinh tự do thì có thể làm việc cho quốc gia. Khi quân nhân hi
sinh tự do thì có thể phục tùng mệnh lệnh, trung thành đền đáp quốc gia, làm cho
quốc gia tự do” (tr.206).
Tôn Trung Sơn không đề cao tự do cá nhân như cách mạng tư sản ở các
nước phương Tây mà ông chủ trương quốc gia tự do. “Tại sao chúng ta cần quốc
gia tự do? Vì Trung Quốc bị các cường quốc áp bức, đã mất địa vị quốc gia,
không chỉ là nửa thuộc địa mà là thuộc địa bậc hai. Hiện nay Trung Quốc làm nô
lệ cho hơn mười nước nên quốc gia rất không tự do. Đương nhiên quốc gia Trung
Quốc được tự do thì dân tộcTrung Quốc mới thực sự tự do”.(tr.206)
của nhân dân để quản lý năm trị quyền của chính phủ thì cân bằng và mới coi là
một cơ quan chính trị dân quyền hoàn hảo. Có cơ quan chính trị như thế thì lực
lượng của nhân dân và chính phủ mới có thể cân bằng với nhau”(tr.308,309)
Chủ trương dân quyền tức là giao chính quyền về tay nhân dân. Như vậy,
ànnhân dân sẽ là hoàng đế. Chính trị dân quyền dựa vào nhân dân làm chủ. Nhân
dân muốn thay đổi thái độ với chính phủ thì phải dùng biện pháp tách rời quyền và
năng. Quốc dân là chủ nhân, là người có quyền; chính phủ là nhà chuyên môn, là
người hữu năng. Vì thế, tất cả các quan chức chính phủ đều như người lái xe. Chỉ
cần họ có bản lĩnh, trung thành với việc quốc gia, thì nhân dân nên ủy quyền quốc
gia cho họ, không hạn chế hành động của họ, mọi việc do họ tự do xử lý, sau đó
quốc gia mới có thể tiến bộ.
Về chính trị quốc gia, về căn bản nhân dân phải có quyền, còn những người
tham gia chính phủ là những nhà chuyên môn “hữu năng”. Chính là việc của dân
chúng, lực lượng lớn tập hợp việc của dân chúng là chính quyền, có thể gọi chính
quyền là dân quyền. Trị là quản lý việc của dân chúng, lực lượng lớn tập hợp sự
quản lý việc của dân chúng là trị quyền, là quyền chính phủ. Do đó chính trị bao
gồm hai lực lượng: chính quyền và trị quyền. Một là lực lượng quản lý chính phủ,
hai là lực lượng tự thân của chính phủ.
Tôn Trung Sơn phê phán tệ chính thể đại nghị của phương Tây, nói rõ
nguyên tắc phân quyền trực tiếp, phân biệt quyền năng, ngũ quyền phân lập, chủ
trương chế độ bầu cử phổ thông, lấy huyện làm đơn vị tự trị địa phương.
Phần 3: Chủ nghĩa dân sinh
Bàn về chủ nghĩa dân sinh, tác giả đã đưa ra định nghĩa: “Có thể nói dân
sinh là đời sống nhân dân, sinh tồn của xã hội, sinh kế của quốc dân, sinh mệnh
của quần chúng” (tr.313).
Ông đặt vấn đề phân biệt chủ nghĩa dân sinh với chủ nghĩa xã hội. Ông cho
rằng vấn đề dân sinh là vấn đề sinh tồn, dân sinh là trọng tâm của tiến hóa xã hội,
tiến hóa xã hội lại là trọng tâm của lịch sử, quy kết lại thì trọng tâm của lịch sử là
phương pháp cách mạng ở Nga, phương pháp hòa bình ở Anh, Mỹ để chỉ ra
phương pháp hiện thực giải quyết vấn đề dân sinh của Trung Quốc. Tôn Trung Sơn
kiên trì thực hiện quyền bình quân ruộng đất, nêu ra khẩu hiệu “người cày có
ruộng”, chủ trương điều tiết vốn tư nhân, phát triển vốn nhà nước, nhà nước phụ
trách việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, kinh doanh, quản lý các ngành sản xuất
có tính lũng đoạn và các xí nghiệp loại hình lớn, hơn nữa theo đó để chế định việc
xây dựng kế hoạch phát triển nền kinh tế dân tộc. Hai biện pháp bình quân địa
quyền và tiết chế tư bản được coi là kim chỉ nam để giải quyết vấn đề dân sinh của
Trung Quốc. Hai vấn đề quan trọng nhất mà ông lưu ý khi thực hiện chủ nghĩa dân
sinh là ăn và mặc. Nói đến chủ nghĩa dân sinh tức là phải chú trọng nâng cao đời
sống nhân dân, làm cho cái ăn cái mặc phong phú, nhà nhà đầy đủ, người người ấm
no.
Vấn đề dân sinh là động lực tiến bộ xã hội. Dân sinh là trung tâm của chính
trị, của kinh tế, của mọi hoạt động lịch sử.
Ngoài ra, ông còn chủ trương trong tương lai của Trung Quốc và thế giới
xây dựng một xã hội đại đồng, không có áp bức, không chiến tranh và thiên hạ là
chung.
III. Ý NGHĨA CỦA TÁC PHẨM
1. Giá trị
Ý tưởng chủ nghĩa tam dân là nhân dân cộng hữu quốc gia, nhân dân cộng
quản chính trị, nhân loại cộng hưởng lợi ích. Nhân dân với quốc gia không chỉ là
cộng sản, mọi quyền bính đều cộng, đều cùng là của chun, như thế mới là chủ
nghĩa dân sinh chân chính.
Tư tưởng của Tôn Trung Sơn và thực tiễn cách mạng dân chủ liên kết chặt
chẽ với nhau và không ngừng phát triển của cách mạng dân chủ.
Tư tưởng của ông thấm sâu tinh thần chủ nghĩa dân chủ về chủ nghĩa ái quốc
và chiến đấu cao độ, Chủ trương chính trị mà ông nêu ra có tác dụng chỉ đạo rất
lớn đối với nhân dân Trung Quốc lật đổ sự thống trị nhà Thanh và xây dựng chế độ
cách mạng. Đó là kinh nghiệm của cuộc cách mạng tư sản là kinh nghiệm của những
lần thất bại. Nhưng điều đã không phải là không có ý nghĩa đối với chúng ta. Chúng
ta, có thể từ tư tưởng của Tôn Trung Sơn mà rút ra hạt nhân hợp lý và chỉ ra những
điểm còn hạn chế. Đối với sự nghiệp đổi mới của chúng ta ngày nay, điều đó cũng có
ý nghĩa nhất định. Chẳng hạn: Ông coi vấn đề “dân sinh” là vấn đề trung tâm của
chính trị, kinh tế, đó là quan điểm lịch sử đúng. Ông đã tìm động lực của sự phát triển
trong đời sống kinh tế, nói vấn đề dân sinh là cơm ăn, áo mặc của dân, muốn giải
quyết nó phải giải quyết vấn đề sản xuất và đồng thời phải giải quyết cả vấn đề phân
phối. Trong kinh tế ông nêu lên hai biện pháp là chia đều quyền sở hữu ruộng đất (sau
này phát triển lên thành chủ trương người cày có ruộng) và tiết chế tư bản, phát triển
văn minh vât chất TBCN xây dựng một đất nước vượt qua Âu Mỹ về kinh tế. Những
quan điểm dân sinh của ông đặt trên cơ sở của thế giới quan duy vật, coi toàn bộ thế
giới vật chất phát triển có 3 thời kỳ: thời kỳ tiến hóa vật chất, thừoi kỳ tiến hóa của
các giống loài và thời kỳ tiến hóa của loài người.
Về mặt nhận thức, ông đã đặc biệt coi trọng vai trò của lý luận. Ông đề cao sự
hiểu biết, nêu lên quan điểm biết khó, làm dễ. Theo ông đã là quy luật của nhạn thức
và nắm được lý luận đúng đắn thì mới chỉ đạo được hành động, cách mạng chưa thành
công vì chưa có lý luận, khi cách mạng thất bại sinh ra hoang mang, dao động vì
không có lý luận để củng cố niềm tin.
Mặt khác, lý luận triết học của ông cũng còn những mặt hạn chế do tư tưởng
của ông là sản phẩm của một thời đại nhất định, do ông là đại biểu của giai cấp tư sản
Trung Quốc mặc dù lúc đó có vai trò tiến bộ. Những mặt hạn chế là:
Quan điểm duy vật không triệt để. Khi cho rằng tế bào cũng có tư tưởng, ông
đã chịu ảnh hưởng của vật hoạt luân. Khi cho rằng động lực phát triển của xã hội là
nguyện vọng mưu cầu sự sống của con người thì ông đã rơi vào CNDT lịch sử.
Ông phủ nhận quy luật đấu tranh giai cấp là động lực của sự phát triển xã hội,
coi đó là một hiện tượng bệnh hoạn cửa sự tiến hóa, phản đối thực hiện chuyên chính
vô sản.