Chủ nghĩa duy thực tây âu trung cổ tiểu luận cao học - Pdf 36

MỞ ĐẦU
Triết học trong thời kì Trung cổ ở Tây Âu hình thành trong khoảng từ thế
kỉ V- XV, trong đó tôn giáo và thần học là hệ tư tưởng thống trị trong đời
sống tinh thần xã hội. Tôn giáo đã bắt các hình thái ý thức xã hội phải phụ
thuộc vào nó. Pháp luật, khoa học tự nhiên, triết học- tất cả nội dung của các
khoa học đó đều được trình bày sao cho phù hợp với học thuyết của nhà thờ.
Điều này cùng với đặc điểm kinh tế - xã hội Tây Âu lúc bấy giờ đã tạo cơ sở,
nền tảng cho sự ra đời và chi phối đặc điểm của tư tưởng triết học trung cổ
Tây Âu.
Một trong những đặc trưng nổi bật của tư tưởng triết học Trung cổ Tây
Âu cuộc đấu tranh giữa hai phái Duy thực và Duy danh. Xét đến cùng, cuộc
đấu tranh này phản ánh ít nhiều hai xu hướng triết học đối lập nhau: chủ nghĩa
duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Phái Duy thực khẳng định: những khái niệm
phổ biến tồn tại thực sự và có trước sự tồn tại của các sự vật riêng lẻ; còn phái
Duy danh thì ngược lại: có các sự vật riêng lẻ tồn tại thực tế thì mới có những
khái niệm về chúng, các khái niệm về các sự vật chẳng qua chỉ là những từ,
những thuật ngữ diễn đạt các sự vật đó, những tên gọi các sự vật đó, chỉ là sự
đặt tên cho các sự vật đó. Phái Duy thực tìm cách xây dựng một hệ thống tư
tưởng theo lý tính để củng cố tôn giáo.
Trung cổ là thời đại chiếm ưu thế của hình thức tư duy tôn giáo, mà đối
với Tây Âu là Kytô giáo. Triết học trở thành công cụ của thần học, chịu sự chi
phối toàn diện của thần học Kytô giáo ở khía cạnh bản thể luận, nhận thức
luận và đạo đức, nhân sinh – xã hội. Chức năng của triết học không phải là
tìm kiếm và khám phá chân lý, mà chứng minh cho chân lý đã sẵn có. Mặc dù
chúng ta không thể phủ nhận tính chất duy tâm thần bí của triết học thời kỳ
này nói chung, của những quan điểm chủ nghĩa duy thực nói riêng, song khi
xem xét một cách toàn diện, có thể thấy rằng triết học thời kỳ này không hoàn
toàn là một màu xám, không hoàn toàn đứt gãy với nền triết học trước hay sau
đó. Hơn nữa, thông qua cuộc đấu tranh rất quyết liệt giữa chủ nghĩa duy thực
1


Song, cuối thời kỳ phong kiến (thế kỷ XII -XIV) nền kinh tế bắt đầu có sự
phát triển: kinh tế tiền tệ dần thay thế nền kinh tế tự nhiên, thủ công nghiệp và
thương nghiệp phát trỉển, nhiều thành phố thương cảng mọc lên, một số
ngành kỹ thuật khá phát triển. Sự tiến bộ này tạo tiền đề cho thời kỳ phục
hưng, cho sự quá độ từ phong kiến lên Tư bản.
Về chính trị-xã hội: xã hội phân hóa thành hai giai cấp lớn là địa chủ và
nông dân. Quyền chiếm hữu ruộng đất, các tư liệu sản xuất khác cũng như sản
phẩm làm ra thuộc về địa chủ phong kiến. Cuối thời kỳ này diễn ra các cuộc
thập tự chinh thúc đẩy công thương nghiệp phát triển, tạo ra một tầng lớp thị
3


dân đương đầu với lãnh chúa đồng thời giúp cho văn hoá phương tây giao lưu
với văn hoá phương Đông.
Về mặt tinh thần: thời kỳ trung cổ ở Tây Âu lúc đầu là cơ đốc giáo sau là
thiên chúa giáo là hệ tư tưởng thống trị, những giáo lý tôn giáo trở thành
những nguyên lý về chính trị, kinh thánh có vai trò như luật lệ trong mọi cuộc
xét sử, tín điều nhà thờ là điểm xuất phát của mọi tư duy, thế giới quan thần
học bao trùm lên triết học, luật học và chính trị.
Giáo hội thiên chúa giáo là thế lực phong kiến quan trọng, giáo hội có
quyền sở hữu đối với nhiều ruộng đất, là đại diện cho pháp luật và chính trị, là
công cụ thống trị quần chúng về mặt tinh thần. Toàn bộ đời sống tinh thần của
xã hội đều đặt dưới sự thống trị của nhà thờ thiên chúa giáo.
Thời kỳ này, nông dân, thậm chí cả võ sỹ phong kiến không có học và
không biết chữ, chỉ có tầng lớp tăng lữ có học để viết sách và giảng kinh, tăng
lữ độc quyền thống trị văn hoá, dẫn tới thời kỳ này văn hoá phát triển chậm
chạp và trì trệ. Các sử gia gọi đây là “đêm trường trung cổ”. Và là thời kỳ mà
chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa kinh viện đã ngự trị trong đời sống tinh thần
của nhân dân.
Tóm lại, Giai đoạn lịch sử Tây Âu trung cổ là sự phát triển hợp quy luật,

Thứ tư, triết học thời kỳ này chứa đựng chủ nghĩa tự nhiên thần luận và
phiến thần luận.
Thứ năm, Triết học Tây Âu thời kỳ Trung cổ là bước thụt lùi so với thời
kỳ cổ đại trong lịch sử Triết học.

5


Chương 2
NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA
DUY THỰC Ở TÂY ÂU THỜI TRUNG CỔ.
Triết học thời kỳ này mang đậm tính tôn giáo, hầu hết các nhà triết học là
thần học, và một trong những đặc điểm nổi bật là chứng minh sự tồn tại của
thượng đế, và chứng minh cho những tín điều tôn giáo của nhà thờ. Đây là
thời kỳ thụt lùi so với thời kỳ cổ đại.
Các nhà triết học đều giải quyết mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng
(giữa khái niệm và các sự vật riêng lẻ), trên cơ sở đó nảy sinh hai khuynh
hướng triết học phổ biến là chủ nghĩa Duy thực và chủ nghĩa Duy danh.
Nếu như phái duy danh cho rằng, các sự vật riêng lẻ, cá biệt là những cái
có thực; còn những cái phổ biến chỉ là những tên gọi do con người đặt ra rồi
gán cho chúng. Chẳng hạn, "con người" là tên gọi dùng để chỉ tất cả những
con người riêng lẻ chứ không có con người nói chung; cái nhà chỉ là tên gọi
của những cái nhà riêng lẻ, không có cái nhà nói chung; thì phái duy thực lại
cho rằng, cái chung mới là cái có thực vì nó tồn tại độc lập, không phụ thuộc
vào cái riêng và sinh ra cái riêng. Cái chung là thực thể tinh thần như thượng
đế, tinh thần thế giới, là "ý niệm". Cái chung là cái có trước và tồn tại khách
quan trong các sự vật riêng lẻ.
2.1.Giai đoạn đầu thời Trung cổ:
Các lí thuyết triết học thời trung cổ chịu ảnh hưởng của nền triết học đạo
Cơ đốc từ thế kỉ II đến thế kỉ IV. Vì vậy, nghiên cứu triết học đạo thời trung

bách đã bác bỏ luận đề: “ Tôi tin vì điều đó là vô lí” của Tiectulieng và nhận
xét: Các nhà khoa học không tin vào chúa vì họ không thể tin vào điều vô lí.
Tiectulieng bắt đầu công bố tác phẩm nổi tiếng nhất của mình vào năm
197. Tuy nhiên, nó quá mang đậm tính cá nhân khi tìm kiếm cho sự thật,
cùng với tính cách không khoan nhượng - ông là một người đàn ông rất khắt
khe - dần dần đã dẫn ông chuyển từ Giáo Hội sang giáo phái Montanist. Tuy
nhiên, tính sang tạo trong tư tưởng của ông cùng với hiệu quả sắc bén của
ngôn ngữ, đã cho ông một vị trí cao trong các tác phẩm Cơ-đốc giáo cổ xưa.
7


Những tác phẩm biện giải của ông vượt trên tất cả những người nổi tiếng
nhất. Thể hiện hai mục đích quan trọng: để bác bỏ những cáo buộc nghiêm
trọng mà dân ngoại đạo dành cho các tôn giáo mới; và có tính chất đề xuất và
truyền giáo hơn, để truyền đạt sứ điệp Phúc Âm bằng việc đối thoại với văn
hóa vào thời bấy giờ.
Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, Apologeticus, tố cáo hành vi bất công
của các cơ quan chính trị đối với Giáo Hội; giải thích và bảo vệ giáo lý và tục
lệ của những người theo đạo Cơ-đốc; giải thích sự khác biệt giữa các tôn giáo
mới và các dòng triết học hiện tại; ông cho thấy sự chiến thắng của Thần
Linh là Đấng chôn vùi bạo lực của các kẻ bách hại bằng máu đổ, khổ đau và
đức nhẫn nại của các vị tử vì đạo. Ông viết: “Như nó thực sự được tinh
luyện, việc hung ác của các người chẳng đạt được mục đích gì hết, trái lại,
đối với cộng đồng của chúng tôi thì nó là một lời mời gọi. Chúng tôi nhân lên
mỗi lần có một người nào trong chúng tôi bị tàn sát: Máu của những người
Cơ-đốc là một hạt giống vậy”
Thêm vào đó, Tiectulieng đã thực hiện được một bước lớn trong việc phát
triển tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi. Ông đã mang lại cho chúng ta, bằng tiếng
Latinh, những từ ngữ thích đáng để diễn tả mầu nhiệm cao cả này, đưa ra
những từ ngữ “một bản thể duy nhất” và “ba Ngôi Vị”. Cũng tương tự như

ngày nay vẫn còn được kêu gọi để đối diện. Chúng kêu gọi chúng ta hãy thực
hiện một cuộc sát hạch nội tâm cách hiệu quả, một việc làm tôi muốn kêu gọi
tất cả mọi tín hữu, để nhờ đó họ biết cách bày tỏ, một cách thuyết phục hơn
bao giờ hết, “Qui Luật Đức Tin” là những gì – trở lại với Tiectulieng – “qui
định niềm tin tưởng rằng chỉ có một Thiên Chúa duy nhất, và Ngài chính là
Đấng Hóa Công của thế giới, Đấng đã dựng nên tất cả mọi sự từ hư không
bằng Lời của Ngài, được tạo ra trước tất cả mọi thứ”.
2.1.2.Oguytxtanh (354-430)

9


Ông là giáo chủ, nhà văn, nhà thần học. Ông chống đối mạnh mẽ chủ
nghĩa duy vật, ông có khoảng 100 tác phẩm chống khoa học, chống triết học
duy vật, bảo vệ niềm tin cơ đốc giáo.
Ông cho rằng toàn bộ thế giới giàu có xung quanh con người là do thượng
đế sáng tạo và được nhận thức bởi thượng đế.Tuy nhiên, Thượng đế rất huyền
bí và hư ảo, Thượng đế không nằm trong các sự vật cảm tính.
Nếu Thượng đế không nằm trong các sự vật cảm tính thì làm sao con
người có thể nhận thức được và tin rằng có Thượng đế tồn tại? Từ câu hỏi này
ông chuyển sang vấn đề con người và tồn tại con người. Theo ông, con người
gồm thể xác bên ngoài và linh hồn bên trong, thể xác là cái tồn tại cảm tính
nên không có Thượng đế ở đó do đó phải tìm Thượng đế ở linh hồn bên trong
con người. Do Thượng đế ngự trị bên trong con người nên đã tạo cho con
người một sức mạnh tinh thần, sức mạnh tinh thần cao hơn nhiều sức mạnh
thể xác.
Ông cho rằng Thượng đế là sức mạnh và quyền lực tuyệt đối, còn ý chí
con người chỉ tự do trong giới hạn tiền định của Thượng đế.
Về nhận thức luận, Oguytxtanh có hai quan điểm:
Thứ nhất, ông cho rằng mục đích tối cao là nhận thức được Thượng đế,

nghĩa duy thực và quan điểm của chủ nghĩa duy danh. Cuộc đấu tranh giữa
hai quan điểm này đã xuyên suốt toàn bộ lịch sử triết học trung cổ. Phái duy
thực khẳng định rằng cái chung hay khái niệm chung là tồn tại thực, không
phụ thuộc vào tư tưởng hay tiếng nói của con người.
Các đại biểu của chủ nghĩa duy thực thời kì này:
2.2.1. Giangxicot Origienno (810- 877)
Ông là người Ailen, đại biểu của chủ nghĩa kinh viện giai đoạn đầugiai đoạn giải quyết mối quan hệ giữa trí tuệ và niềm tin tôn giáo với cách giải
quyết là giữa trí tuệ và niềm tin tôn giáo có thể dung hợp nhau. Ông cho rằng:
“ Nhiệm vụ cao cả của trí tuệ là giải thích ý nghĩa của kinh thánh”.
Ông là đại biểu điển hình của chủ nghĩa duy thực, đồng thời là một nhà
thần học triệt để nên trong hầu hết tác phẩm của mình ông đều đề cao Thượng
đế. Ông cho rằng thế giới phát triển theo 4 giai đoạn:
11


+ Giai đoạn 1: Giới tự nhiên biểu hiện như vật sáng tạo mà không phải
vật được sáng tạo- đó là Thượng đế. Như vậy, Thượng đế là cơ sở đầu tiên
của thế giới.
+ Giai đoạn 2: Giới tự nhiên biểu hiện ra vừa là vật sáng tạo vừa là vật
được sáng tạo, đó là con người Thượng đế ( Chúa Giesu).
+ Giai đoạn 3: Giới tự nhiên biểu hiện ra chỉ là vật được sáng tạo, đó là
thế giới các sư vật, hiện tượng cụ thể.
+ Giai đoạn 4: Giới tự nhiên biểu hiện ra không phải vật sáng tạo cũng
không phải vật được sáng tạo, đó là Thượng đế tồn tại với tư cách là mục đích
của quá trình thế giới.
Ông cho rằng Thượng đế tối cao trong ý niệm của chúng ta biểu hiện
như là toàn bộ giống loài. Giống và loài khi được xác định bằng thuộc tính bộ
phận thì nó trở thành các sự vật cụ thể, riêng lẻ. Khi các sự vật riêng lẻ ấy
thống nhất lại bằng những ý niệm, tư tưởng thì lại trở thành Thượng đế.
Trong quan điểm về con người, ông cho rằng con người không độc lập

vào thần học, cho rằng chân lí của thần học là siêu trí tuệ, tức là nó không
phải là những cái mà trí tuệ con người xâm nhập vào được.
- Quan niệm về giới tự nhiên:
Do kế thừa măt duy tâm nên trong quan niệm về giới tự nhiên, ông nói: “
Giới tụ nhiên và sự trật tự của nó chỉ là sự chuẩn bị cho vương quốc giàu có ở
trên trời, đều do Thượng đế sắp đặt, Thưowngj đế là mục đích tối cao, là quy
luật vĩnh cửu thống trị mọi vật, do đó ông ra sức tôn sùng Thượng đế.
- Quan điểm triết học xã hội:
Ông đề cao sự thống trị của nhà thờ ki nói rằng: “ Cuộc sống dưới trần thế
chỉ là sự chuẩn bị cho cuộc sống tinh thần ở thế giới bên kia”.
Nói về nhà nước, ông cho rằng nhà nước không phải là hình thức tự nhiên,
không phải là tất yếu của đời sống con người, nhà nước chỉ buộc con người
quy phục về mặt thể xác mà không buộc được quy phục về mặt tinh thần. Quy
phuc về mặt tinh thần đó là niềm tin tôn giáo, vì vậy chính quyền tối cao là
của nhà thờ. Nhà thờ là người đại diện tối cao của chúa, đứng trên các vương
quốc trần thế, nắm trong tay mọi cái.
13


- Với tư cách là nhà triết học kinh viện thuộc chủ nghĩa duy thực ôn hòa
nên ông đã đưa ra lí thuyết ba mặt của cái chung:
+ Cái chung có trước cái riêng: tồn tại trong trí tuệ của Thượng đế, do vậy
cái chung là mẫu mực, vĩnh cửu.
+ Cái chung có trong cái riêng, nó tạo nên bản chất của cái riêng.
+ Cái chung có sau cái riêng, đó là kết quả của sự khái quát hóa, trừu
tượng hóa trí tuệ của con người.
Từ ba cái chung này tạo nên Tam vị nhất thể.
- Quan điểm lí luận nhận thức:
Dựa vào học thuyết hình dạng của Aristot, Tômát Đacanh đã phân tích:
+ Khi nhận thức thì chủ thể chỉ nhận thức hình dạng của khách thể chứ

bên kia.
Tóm lại, nguyên lý cơ bản của triết học Tômát Đacanh là sự hài hoà giữa
đức tin và lý tính, lý tính có thể chứng minh một cách hợp lý sự tồn tại của
thượng đế và có thể bác bỏ những ý kiến chống lại chân lý của đức tin. Vì thế
ông được coi là nhà duy thực ôn hoà. Bắt đầu từ năm 1879, hệ thống kinh
viện của ông được coi là triết học chân thực của đạo thiên chúa và được các
nhà tư tưởng chống cộng sử dụng để đấu tranh chống lại thế giới quan khoa
học mác xít.

15


KẾT LUẬN
Sự tồn tại và phát triển của triết học Tây Âu thời kỳ Trung cổ không phải
là sự đứt đoạn tuyệt đối với triết học cổ đại, mặc dù nó là bước lùi rất xa so
với triết học Tây Âu cổ đại, nhưng đây là bước lùi hợp quy luật của sự phát
triển, là đoạn đứt trong tính liên tục của sự phát triển đúng quy luật. Mục
đích cao nhất của các trào lưu triết học, trong đó có chủ nghĩa duy thực là
phục vụ tôn giáo và nhà thờ, xuyên tạc học thuyết của các nhà triết học tiến
bộ thời cổ đại.
Các nước Tây Âu thời trung cổ đã chìm đắm trong đêm trường của những
tư tưởng duy tâm, tôn giáo, thần học và chủ nghĩa ngu dân. Trong đó chủ
nghĩa kinh viện, với phương pháp suy luận hình thức, cóp nhặt và tư tưởng
khắc kỷ giả dối đã thống trị tư tưởng xã hội.
Tuy nhiên, sự đấu tranh dai dẳng chống lại trào lưu duy thực của trào lưu
duy danh đã góp phần khai tử chủ nghĩa kinh viện vào thế kỷ XV và chuẩn bị
cho sự ra đời của khoa học và triết học thời Phục hưng và cận đại.

16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status