ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
* * * * * * * * * * * * * *
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
* * * * * * * * * * * * * * * *
Người thực hiện NCS. Nguyễn Thị Minh Hương
LỜI CẢM ƠN
Luận án này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn nghiêm
túc, nhiệt tình của PGS.TS. Đinh Ngọc Thạch.
Người viết xin chân thành cảm ơn Thầy! Đồng thời xin chân
thành cảm ơn cơ sở đào tạo, cơ quan công tác, đồng nghiệp, bạn bè,
người thân đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để NCS hoàn thành
nhiệm vụ học tập của mình.Xin chân thành cảm ơn!
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1. NHỮNG CƠ SỞ, TIỀN ĐỀ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH
THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA CHỦ NGHĨA DUY Ý CHÍ
1.1. Những cơ sở hình thành chủ nghĩa duy ý chí
1.1.1. Bối cảnh lịch sử của các nước châu Âu thế kỷ XIX
40
48
53
53
66
76 79
79
88
97
97
105
113
2.3.1. Tác đ
ộng của ý chí đối với đời sống con ng
ư
ời
2.3.2. Giải thoát cho con người trong chủ nghĩa duy ý chí
Kết luận chương 2
Chương 3. NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA
DUY Ý CHÍ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI TRIẾT HỌC
PHƯƠNG TÂY HIỆN ĐẠI
3.1. Những giá trị và hạn chế của chủ nghĩa duy ý chí
3.1.1. Những giá trị của chủ nghĩa duy ý chí
160
170
170
181
189
194
204
214
217
221
223
234
253 3 PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ nghĩa duy ý chí ra đời và phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ XIX ở
nước Đức với tư tưởng triết học của hai đại biểu nổi tiếng là A. Schopenhauer
nghiên cứu triết học phương Tây hiện đại ngoài mác xít sâu sắc và hợp lý hơn.
Ngày này, nhân loại bước vào thế kỷ XXI, những vấn đề triết học nhân
bản - phi duy lý mà chủ nghĩa duy ý chí nêu lên cách đây hơn 150 năm vẫn còn
nguyên giá trị. Câu hỏi: Tại sao con người càng văn minh hơn, thì tương lai của
loài người bị đe dọa hủy diệt nhiều hơn? Tại sao khoa học công nghệ càng phát
triển, thì sự tha hóa bản ngã con người ngày càng sâu sắc hơn? vẫn ám ảnh loài
người mỗi ngày. Ngày qua ngày, con người cảm nhận đời sống nhân loại trong
toàn cầu hình như không dựa trên những bước phát triển ổn định, bền vững,
hòa bình, dân chủ, thịnh vượng cho các quốc gia dân tộc, mà ngược lại dựa trên
những đợt khủng hoảng kinh tế mang tính chu kỳ ngày càng sâu rộng hơn, dựa
trên sự phân cực chính trị thế giới phức tạp hơn, xung đột, chiến tranh, khủng
bố, thiên tai ngày càng dồn dập và tàn khốc hơn. Ý nghĩa giải phóng con người
không chỉ có trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai
cấp, đòi quyền dân tộc tự quyết, đòi nhân quyền, đòi nữ quyền, mà còn thể hiện
nổi trội trong sự đòi hỏi được tham gia vào sáng tạo các hiện tượng văn hóa
chung của nhân loại, không chỉ văn hóa vật chất biểu hiện thành văn hóa tiêu
dùng, lối sống hưởng thụ, mà còn là văn hóa tinh thần biểu hiện thành khát
khao được trở thành một bộ phận của chúng. Chính các phát minh trong công
nghệ thông tin và truyền thông đã đáp ứng nhu cầu sáng tạo văn hóa tinh thần
của quần chúng và làm thay đổi rất nhiều quan điểm của các nhà triết học về
thế giới, tính phi duy lý, tính bất định, tính phân mảnh của thế giới ngày càng
được đề cao hơn.
Ý nghĩa sống là tự do sáng tạo, không bắt buộc theo một khuôn mẫu định
sẵn, mà chủ nghĩa duy ý chí nêu lên nhằm bảo tồn bản thể cá nhân độc đáo, đặc
sắc của con người, bảo vệ sự công bằng cho các triết thuyết khác nhau cùng tồn
tại. Việc phát huy sức mạnh sáng tạo, đặc biệt sáng tạo trong lĩnh vực đời sống
tinh thần, từ đó định ra được những lý luận phù hợp giúp con người có thể
5
Với những lý do nêu trên, người viết chọn “Chủ nghĩa duy ý chí và vai
trò của nó đối với triết học phương Tây hiện đại” làm đề tài luận án tiến sĩ
triết học của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Từ cuối thế kỷ XX đến nay, triết học phương Tây hiện đại đã được chú
tâm nghiên cứu sâu rộng hơn ở Việt Nam. Tuy nhiên, khởi đầu của nó là chủ
nghĩa duy ý chí, thì rất ít những công trình nghiên cứu chuyên biệt. Vì vậy,
tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài chia thành ba hướng nghiên cứu: hướng
thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề chung của chủ nghĩa duy ý chí, hướng thứ
hai, nghiên cứu nội dung tư tưởng triết học cơ bản của chủ nghĩa duy ý chí,
hướng thứ ba, nghiên cứu vai trò của chủ nghĩa duy ý chí đối với triết học
phương Tây hiện đại. Các tác phẩm, công trình, bài báo liên quan đến ba hướng
nghiên cứu trên đều chia thành hai phần, phần thứ nhất dựa trên nhóm tài liệu
tiếng Việt, kể cả tác phẩm của tác giả người Việt Nam lẫn người nước ngoài
được dịch sang tiếng Việt sẽ được trình bày trước. Phần thứ hai dựa trên nhóm
tài liệu tiếng nước ngoài sẽ được trình bày sau.
Xét theo hướng thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề chung của chủ nghĩa
duy ý chí, được tác giả Lưu Phóng Đồng hết sức quan tâm, khi viết tác phẩm
Triết học phương Tây hiện đại (4 tập), xuất bản năm 1981 tại Bắc Kinh. Ở tập
1, trong chương 2: Chủ nghĩa duy ý chí gồm 54 trang sách Lưu Phóng Đồng đã
đưa ra khái niệm chủ nghĩa duy ý chí như trào lưu triết học duy tâm đề cao tác
dụng ý chí của con người, xem ý chí là điểm xuất phát của mọi tồn tại, xây
dựng nội dung của chủ nghĩa duy ý chí với ba mục là tình hình chung, thuyết ý
chí đời sống của A. Schopenhauer và chủ nghĩa phi lý tính của F.Nietzsche.
Sau 10 lần tái bản có sửa chữa, nhưng sự thay đổi về nội dung của chủ nghĩa
duy ý chí là không đáng kể, đến lần thứ 11 vào năm 2001, tác giả đã dựa trên
thái độ thực sự cầu thị của chủ nghĩa Marx để đánh giá lại triết học phương Tây
hiện đại, từ đó sửa tên sách thành Triết học phương Tây hiện đại tân biên, mà
Lê Khánh Trường khi biên dịch đã gọi là Giáo trình hướng tới thế kỷ XXI -
chí, nhưng khác với những trào lưu duy tâm khác, thừa nhận cái có tính thứ
nhất không phải tri giác, biểu tượng hoặc tư duy, mà là ý chí với tính cách là cơ
8 sở ban đầu của mọi cái tồn tại. Từ điển triết học giản yếu do Hữu Ngọc chủ
biên và Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội xuất bản năm 1987,
thì đồng nhất chủ nghĩa duy ý chí với ý chí luận để nhấn mạnh trong chủ nghĩa
duy ý chí, nhận thức được xem như là một quá trình phi duy lý. Đến Từ điển
bách khoa triết học tiếng Nga (
илocoфcкий энциклoпeлдичecкий cлoвapь,
E.. yбcкий, .B. Kopoблeвa, B.A. Лyтчeнкo (coпpeдceдaтeли) (1998),
изд.Инфpa, Mocквa), lại định nghĩa về chủ nghĩa duy ý chí (Boлюнтаризм) là
một trong những trào lưu siêu hình học vì xem sự vật tồn tại tự thân, do mình
và vì mình, đồng thời cũng là trào lưu tâm lý học, vì nghiên cứu những chức
năng của đời sống nội tâm. Như vậy, tổng hợp quan điểm khác nhau, thì chủ
nghĩa duy ý chí vẫn được định nghĩa trên cơ sở nhằm giải quyết vấn đề cơ bản
của triết học, đặc biệt từ ý chí luận đã mở ra một hướng nghiên cứu mới,
nghiên cứu sâu vào tâm lý, ý thức của con người.
Với nguồn tài liệu nghiên cứu chủ nghĩa duy ý chí quá ít ỏi, trong đó lại
thể hiện các đại biểu của chủ nghĩa duy ý chí sắp xếp khác nhau, mang tính
chất đa dạng, đan xen, không thuần nhất, nên nghiên cứu chủ nghĩa duy ý chí
có những phức tạp, khó khăn nhất định.
Lưu Phóng Đồng mới đầu xem xét đại biểu của chủ nghĩa duy ý chí theo
hệ vấn đề thì đưa ra mối liên hệ từ A. Schopenhauer đến F. Nietzsche đến
H. Bergson, sau này xem xét theo quốc gia, thì liệt kê nư
ớc Đức có
A. Schopenhauer, E. Hartman, F. Nietzsche, Đan Mạch có S. Kierkegaard, Pháp
có M.J. Guyan (1854 – 1888), E. Boutroux (1845 – 1921). Từ điển triết học do
ông (1996); Đôi nét về Sôpenhauơ với triết lý Đông phương(1998). Tác phẩm
101 triết gia của Mai Sơn c
ũng khuôn định lại ý chí sống của
A. Schopenhauer là thực tại tối hậu, phổ quát. Còn ý chí quy
ền lực của
F. Nietzsche ông gọi là “ý chí hùng lực”, mang bản năng tăng trưởng, năng lực
sáng tạo và hoạt động xâm hấn nhằm thúc đẩy hướng tới sự tự chủ. Mai Sơn
nhận định từ ý chí sống của A. Schopenhauer báo trước và đặt nền móng cho ý
chí hùng lực của F. Nietzsche và học thuyết tính dục của S. Freud.
Tác phẩm Phridrich Nitsơ, của Lưu Căn Báo, được Nxb.Thuận Hóa, Huế
xuất bản năm 2004, Quang Lâm dịch và tác phẩm Nietzsche – Cuộc đời và triết
lý của F. Challaye do Mạnh Tường dịch, Nxb. Văn Nghệ xuất bản năm 2007,
đều khái lược cuộc đời và tư tưởng của F. Nietzsche. Tác phẩm đầu, nhấn mạnh
10 tinh thần Dionysos chính là ý chí quyền lực, tác phẩm sau nhấn mạnh vấn đề
giá trị con người, sự tự do, sự giải phóng của con người, ý chí quyền lực, Siêu
nhân, quy hồi vĩnh cửu trong lịch sử. Riêng E. Craig, trong tác phẩm Triết học,
được Nxb. Tri thức xuất bản năm 2010, Phạm Kiều Tùng dịch đã hết sức chú ý
phân tích và bình luận về Phả hệ đạo đức của F. Nietzsche để thấy tính hệ
thống trong triết học của ông. Tuy nhiên, phân tích tư tưởng triết học của
F.Nietzsche một cách sâu sắc và biện chứng phải kể đến tác phẩm Nietzsche và
triết học của G. Deleuze do Nxb.Tri thức xuất bản năm 2010, được Nguyễn Thị
Từ Huy dịch. Trong tác phẩm này, những vấn đề trong triết học F.Nietzsche
như: Bi kịch, hoạt năng và phản ứng, phê phán, từ phẫn hận đến mặc cảm tội
lỗi, Siêu nhân đã được phân tích xoay quanh trọng tâm ý chí là cái muốn nằm
trong quyền lực.
Về nguồn tài liệu tiếng Nga, nghiên cứu một cách tổng quát chung về
A. Schopenhauer và F. Nietzsche có tác giả B. Russell viết Lịch sử triết học
hấp dẫn bởi triết lý thần học của phương Đông, còn F. Nietzsche là người
truyền bá mạnh mẽ cho chủ nghĩa hư vô, chủ nghĩa duy ý chí và chủ nghĩa phi
duy lý. Tác phẩm mới nhất là Triết học phương Tây hiện đại của A.F. Zotov
xuất bản năm 2010 bởi nhà xuất bản Praxpest tại Moscow (А.. Зoтoв, (2010),
Coвpeмeннaя зaпaднaя филocoфия, изд. pocпeкт, Mocквa) đã xác định
A.Schopenhauer là người làm bước chuyển căn bản cho sự ra đời của triết học
phương Tây hiện đại thông qua ý chí luận của mình, xem xét ngắn gọn điểm
khác biệt của triết học A. Schopenhauer với triết học truyền thống là yếu tố phi
duy lý và duy lý. Còn F. Nietzsche được nghiên cứu trên phương diện triết học
của sự chống đối, từ đó xây dựng ý chí quyền lực và liên kết nó với quy hồi
vĩnh cửu nhằm xây dựng thế giới mới cho con người. Và cuối cùng tác giả kết
luận F. Nietzsche là một trong những nhà triết học đi đầu trong bước chuyển từ
truyền thống sang hiện đại, triết học của ông thuộc triết học đời sống và không
tránh khỏi duy tâm, siêu hình trong các học thuyết triết học của mình.
Xét về loại thứ hai, chính là những trư
ớc tác triết học của
A. Schopenhauer và F.Nietzsche, tất nhiên đọc tác phẩm của hai ông bằng
tiếng Đức là lựa chọn tốt nhất, nhưng với điều kiện và khả năng còn hạn chế,
nên người viết chỉ tiếp cận và nghiên cứu được một số tác phẩm đã dịch sang
tiếng Việt, một ít dịch sang tiếng Anh, còn chủ yếu là dịch sang tiếng Nga.
12 Đối với tác phẩm của A. Schopenhauer đã dịch sang tiếng Việt có Siêu
hình tình yêu, siêu hình sự chết do Nxb. Kinh Thi, Sài Gòn xuất bản năm 1971,
Hoàng Thiên Nguyễn dịch. Đây là một tác phẩm phân tích sức mạnh phi duy lý
của ý chí sống quyết định tình yêu và sự chết của con người theo lộ trình cuộc
đời của con người, từ đó xác định lại vai trò của ý chí sống đối với đời người,
cũng như xem xét lại mối liên hệ của ý chí sống và ý chí vũ trụ trong thế giới.
Những tác phẩm của A. Schopenhauer được dịch sang tiếng Nga, quan trọng
will to power) của F. Nietzsche dịch sang tiếng Anh xuất bản năm 1968 tại
New York với 4 quyển, trong đó quyển thứ 3 xem xét nguyên tắc thiết lập giá
trị mới với 4 mục: ý chí quyền lực khoa học, ý chí quyền lực tự nhiên, ý chí
quyền lực trong quan hệ cá nhân và xã hội và ý chí quyền lực nghệ thuật, là
những đoạn tóm lược cơ bản ý tưởng của nhiều tác phẩm trước đây về ý chí
quyền lực của F.Nietzsche, có thể giúp hệ thống hóa được vấn đề ý chí của
F.Nietzsche trong chủ nghĩa duy ý chí.
Hướng thứ ba, nghiên cứu vai trò của chủ nghĩa duy ý chí đối với triết
học phương Tây hiện đại. Nguồn tài liệu tham khảo phần lớn thể hiện cách viết
tổng hợp, nhận xét chung về các vấn đề về triết học phương Tây hiện đại và
nêu những câu rất ngắn về ảnh hưởng của chủ nghĩa duy ý chí đối với triết học
đời sống hay phân tâm học. Có thể kể đến Nguyễn Hào Hải viết Một số học
thuyết triết học phương Tây hiện đại, được Nxb. Văn hoá Thông tin xuất bản
2001, trong phần Bức toàn cảnh triết học phương Tây hiện đại đã nhận xét lý
thuyết triết học hiện nay thiếu tính khuynh hướng và quy mô chiến lược, rơi
vào tình trạng khủng hoảng của tư duy, các trào lưu triết học phải đẩy mạnh xu
hướng hợp tác, nương tựa, bổ xung cho nhau. Cho nên, ông khẳng định phân
tâm học nghiên cứu vô thức cũng đi từ chủ nghĩa nhân bản triết học và chủ
nghĩa duy ý chí của A. Schopenhauer và F. Nietzsche, nghĩa là đi từ lý luận ý
chí sống mù quáng, nằm ở đáy sâu vô thức hay ý chí quyền lực dữ dội với
những ước muốn tối tăm thúc đẩy hoạt động của con người. Phạm Minh Lăng
viết tác phẩm Những chủ đề cơ bản của triết học phương Tây được Nxb. Văn
hoá thông tin xuất bản vào năm 2001, đã có một phần nghiên cứu trực giác phi
duy lý và cho rằng cho đến nay, nghiên cứu và định nghĩa trực giác này ở
H. Bergson là hoàn thiện nhất.
Thời gian gần đây có tác phẩm Diện mạo triết học phương Tây hiện đại
của Đỗ Minh Hợp được Nxb. Văn hoá thông tin, Hà Nội xuất bản năm 2006 đã
14 Những trước tác cần nghiên cứu để làm sáng tỏ vai trò của chủ nghĩa duy
ý chí đối với sự phát triển của khuynh hướng triết học nhân bản - phi duy lý là
Nghiên cứu phân tâm học, Nxb.An Tiêm xuất bản năm 1969, Vũ Đình Lưu
dịch và Luận bàn về văn minh của S. Freud, Nxb. Văn hóa thông tin xuất bản
năm 1992, Trần Khang dịch. Về vấn đề libido (xung năng tính dục, xung năng
sống) và tác động của nó đối với hoạt động của con người của S. Freud cũng
được tìm hiểu qua một số tác phẩm tiếng Anh như Dẫn luận phân tâm học
(Sigmund Freud, (1920), A General introdution to psychoanalysis, Boni and
Lie right, New York); Totem và cấm kỵ (Sigmund Freud, (2004), Totem and
Taboo, Routledge, New York.); hay Nền văn minh và sự bất ổn của nó
(Sigmund Freud, (1962), Civilization and its discontents, W.W. Norton &
Company, New York.), … Còn nghiên cứu tư tưởng xung năng sống, sức mạnh
tinh thần, cũng như ý chí siêu tự nhiên của H. Bergson được biểu hiện qua một
số trích dẫn trong các tác phẩm của ông bằng tiếng Anh như Tiến hóa sáng tạo
(Henri Bergson, (1922), Creative Evolution, Macmillan and Co.Limited,
London.), Vật chất và ký ức (Henri Bergson, (1929), Matter and memory,
George Allen & UNWIN LTD, London.), Hai nguồn gốc của đạo đức và tôn
giáo (Henri Bergson, (1935), The two sources of morality and religion,
Macmillan and Co.Limited, London), …
Các tác phẩm của các nhà triết học nhân bản, triết học hiện sinh như
A. Camus, H. Hesse, J.P. Sartre hay các bài luận triết học trích trong Truy tầm
triết học của Gail M. Tresdey, Karsten J. Struhl, Richard E. Olsen, (2001)
Nxb. Văn hoá thông tin, Hà Nội, Lưu Văn Hy – Nguyễn Minh Sơn biên dịch,
trong Lịch sử triết học và các luận đề của Samuel Enoch Stumpf, (2004), Nxb.
Lao động, Hà Nội, Đỗ Văn Thuấn - Lưu Văn Hy biên dịch, trong Nhập môn
triết học phương Tây của Samuel Enoch Stumpf và Donald C.Abel, (2004),
Nxb. Tổng hợp, TPHCM, Lưu Văn Hy biên dịch, cùng với các Từ điển triết
học, Từ điển bách khoa triết học bằng tiếng Việt cũng như tiếng Nga và một số
Thứ ba, nhận định, đánh giá, liên hệ về giá trị, hạn chế và vai trò của chủ
nghĩa duy ý chí đối với triết học phương Tây hiện đại. Từ đó rút ra những ý
nghĩa triết học trong việc xây dựng và phát huy sức mạnh sáng tạo của ý chí
17 nhằm kiến tạo thế giới và đặc biệt là kiến tạo đời sống văn hóa tinh thần của
con người.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án thuộc chuyên ngành Lịch sử triết học. Đối tượng nghiên cứu của
luận án là: những cơ sở, tiền đề, quá trình hình thành và phát triển của chủ
nghĩa duy ý chí; nội dung tư tưởng triết học cơ bản của chủ nghĩa duy ý chí
thông qua các quan điểm và học thuyết triết học của A.Schopenhauer và
F.Nietzsche; vai trò của chủ nghĩa duy ý chí đối với triết học đời sống, phân
tâm học, triết học hiện sinh và triết học hậu hiện đại; tác động của ý chí luận
lên hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người trong xã hội hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu chính của luận án là bối cảnh lịch sử, xã hội châu Âu
và nước Đức trong thế kỷ XIX; hai đại biểu cơ bản của chủ nghĩa duy ý chí là
A. Schopenhauer và F. Nietzsche với những tác phẩm triết học và những giai
đoạn phát triển tư tưởng ý chí luận của họ; một số tác phẩm của các nhà triết
học thuộc khuynh hướng nhân bản – phi duy lý; mối quan hệ giữa chủ nghĩa
duy ý chí với triết học đời sống, phân tâm học, chủ nghĩa hiện sinh, triết học
nhân học, chủ nghĩa hậu hiện đại; ảnh hưởng của chủ nghĩa duy ý chí lên các
lĩnh vực trong đời sống xã hội và con người.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp
luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Các
nguyên tắc tính khách quan, nguyên tắc tính lịch sử - cụ thể, nguyên tắc thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn, nguyên tắc mâu thuẫn, phương pháp tiếp cận
bằng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội được sử dụng như là những phương
chính của con người.
Ý nghĩa thực tiễn: Luận án góp phần vào việc củng cố nhận thức một
cách có hệ thống và sâu sắc về tư tưởng triết học của chủ nghĩa duy ý chí, giúp
cho việc nghiên cứu chủ nghĩa duy ý chí nói riêng và triết học phương Tây hiện
đại nói chung ở Việt Nam khách quan và hợp lý hơn.
19 Luận án cung cấp cơ sở lý luận giúp con người hiểu được một phần nguồn
gốc sâu xa của những sức mạnh phi lý, từ đó nâng cao năng lực làm chủ bản
thân, có thể tìm các biện pháp chống lại các hành vi hủy hoại cuộc sống, cân
bằng được các yếu tố tâm lý, tinh thần, cảm xúc trong hoạt động của con người,
thúc đẩy con người sáng tạo theo hướng nhân văn, nhân đạo.
Luận án có thể làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu và giảng dạy
lịch sử triết học nói chung và lịch sử triết học phương Tây hiện đại nói riêng ở
các trường Đại học, Học viện và Viện nghiên cứu.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần chú thích, tài liệu tham khảo,
danh mục công trình khoa học của tác giả và phần phụ lục, phần nội dung của
luận án được kết cấu gồm 3 chương, 8 mục:
Chương 1 nêu lên những cơ sở, tiền đề và quá trình hình thành, phát
triển của chủ nghĩa duy ý chí với 3 mục: mục 1 nêu lên những cơ sở hình thành
chủ nghĩa duy ý chí, mục 2 nêu lên những tiền đề lý luận hình thành chủ nghĩa
duy ý chí, mục 3 nêu lên quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa duy ý
chí.
Chương 2 phân tích nội dung tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa duy ý chí
với 3 mục: mục 1 phân tích vấn đề bản thể luận của chủ nghĩa duy ý chí, mục 2
phân tích vấn đề nhận thức luận của chủ nghĩa duy ý chí, mục 3 phân tích vấn
đề nhân bản luận của chủ nghĩa duy ý chí.
Chương 3 phân tích những giá trị, hạn chế của chủ nghĩa duy ý chí và
bản tự do cạnh tranh lên chủ nghĩa tư bản độc quyền, mặt khác giai cấp công
nhân và nhân dân lao động thống khổ đứng lên đấu tranh mạnh mẽ. Vì vậy, tuy
hệ thống chính trị tư sản trước đây đã từng bước thiết lập trong các nước tư bản
như Hà Lan, Anh, Pháp và lan rộng ra nhiều quốc gia khác, nhưng đến thế kỷ
XIX vẫn là thời kỳ bão táp cách mạng và chiến tranh nổi lên liên tiếp từ nước
này tới nước khác với quy mô và cường độ khác nhau, phụ thuộc vào tính chất
tiến bộ hay phản động của giai cấp tư sản các nước ấy.
21 Ttrên lĩnh vực kinh tế, trước hết phải kể đến vai trò to lớn của cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ nhất, mà nước Anh đã đi đầu từ khi James
Hargreaves phát minh ra máy kéo sợi Jenny (năm 1765) đến máy hơi nước của
James Walt (năm 1784), từ đó phát triển công nghiệp khai khoáng, luyện kim,
cơ khí và giao thông vận tải. Cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh cơ bản đã
hoàn thành vào cuối những năm 30 của thế kỷ XIX có tác dụng: Thứ nhất, thay
thế cho lao động thủ công quy mô nhỏ, phân tán bằng tập trung sản xuất đại cơ
khí lan ra hầu hết các nước tây Âu. Gần nhất là nước Pháp và nước Đức đi theo
mô hình công nghiệp hóa của nước Anh. Nước Anh trở thành công xưởng chế
tạo máy móc cho toàn thế giới, “nước Pháp năm 1830, có tất cả 625 máy hơi
nước đến năm 1847 tăng vọt lên tới 4835 cái, nước Đức năm 1826 có 58 máy
hơi nước đến năm 1848 tăng lên tới 1138 cái”[59,tr.95]. Thứ hai, việc áp dụng
khoa học và kỹ thuật vào sản xuất vật chất đã làm cho trình độ của lực lượng
sản xuất được nâng lên một bước mới, con người với tính cách là chủ thể của
lịch sử đã phát huy tới mức rất cao khả năng nhận thức và cải tạo thế giới của
mình để tạo ra sức sản xuất khổng lồ. Đúng như F. Engels chỉ ra: “Từ khi hơi
nước và những máy công cụ mới biến công trường thủ công cũ thành đại công
nghiệp, thì những lực lượng sản xuất được tạo ra dưới sự điều khiển của giai
cấp tư sản đã phát triển nhanh chưa từng thấy và với một quy mô chưa từng
có”[69,tr.372], dưới sự thống trị không đầy một trăm năm của giai cấp tư sản,