TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC PHÉP BIỆN CHỨNG DUY TÂM HÊGHEN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
PHÉP BIỆN CHỨNG DUY TÂM HÊGHEN
VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI
CỦA TRIẾT HỌC MÁC

Giảng viên phụ trách:TS. BÙI VĂN MƯA
Học viên thực hiện: TRẦN HOÀI NAM
MSHV: 7701220714
Số thứ tự: 38 – Nhóm: 4
Lớp: Ngày 4 – Khóa: 22 Tp. Hồ Chí Minh – Tháng 12/2012
1 MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2
1. BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC HÊGHEN 3
1.1. Điều kiện lịch sử 3
1.2. Sơ lược về nội dung triết học Hêghen 3
2. PHÉP BIỆN CHỨNG DUY TÂM HÊGHEN 4
2.1. Nguồn gốc lịch sử của phép biện chứng duy tâm Hêghen 4

thuẫn và phép biện chứng của ông cũng bị thần bí hóa. Mác đã cứu lấy phép biện
chứng, giải phóng hạt nhân biện chứng ra khỏi lớp vỏ duy tâm thần bí của hệ thống
Hêghen và cải tạo nó theo tinh thần duy vật của triết học Phoiơbắc, qua đó xây dựng
phép biện chứng duy vật.
Dù có nhiều hạn chế nhưng thành tựu mà triết học Hêghen mang lại – phép biện
chứng tư duy – là một cống hiến vĩ đại cho kho tàng tư tưởng triết học nhân loại. Và
triết học Hêghen là cội nguồn của triết học Mác. Chính vì vậy, bài tiểu luận “Phép
biện chứng duy tâm Hêghen và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác”
được thực hiện nhằm mục đích làm rõ bản chất của phép biện chứng duy tâm
Hêghen cũng như vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác. 3

1. BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC HÊGHEN
1.1. Điều kiện lịch sử
Phrieđrích Hêghen (Georg Wilhelm Friedrich Hêghen; 1770-1831) là một nhà triết
học lỗi lạc người Đức. Ông cùng với Phíchtơ (J.G. Fichte; 1762-1814) và Senlinh
(F. W. J. Schelling; 1775-1854) được coi là những người sáng lập ra chủ nghĩa duy
tâm Đức. Hêghen sinh ra trong một gia đình quan chức cao cấp ở thành phố
Stuttgart thuộc vùng tây nam nước Đức. Ông đến với triết học, say mê nghiên cứu
triết học là do chịu ảnh hưởng bởi Senlinh và ông đã trở thành nhà triết học – bác
học vĩ đại nhất, là người đã hoàn chỉnh nền triết học duy tâm biện chứng cổ điển
Đức và cũng là bậc tiền bối của triết học Mác sau này. Bằng bộ óc bách khoa toàn
thư vĩ đại, Hêghen đã để lại cho nhân loại một di sản triết học đồ sộ và rất giá trị.
Hai tác phẩm chính của ông là Hiện tượng luận tinh thần và Bách khoa toàn thư các
khoa học triết học.
1.2. Sơ lược về nội dung triết học Hêghen
Triết học Hêghen là đỉnh cao của triết học duy tâm Đức cổ đại và là hệ thống phong
phú nhất trong lịch sử triết học trước Mác. Nguyên lý xuất phát và xuyên suốt toàn

sản Đức.
Căntơ: Ưu điểm lớn nhất của Căntơ là đã đề cao được vai trò lao động sáng tạo ra
thế giới, tuy chỉ quan niệm cái lao động ấy là lao động tinh thần. Lao động tinh thần
mà Căntơ quan niệm chỉ phản ánh được hình thức kỹ thuật của phương thức sản
xuất máy móc. Căntơ cho rằng thế giới mà ta nhận thức được là do sự liên kết những
cảm giác theo quy luật số lượng và nhân quả, quan niệm đó phản ánh tính chất sản
xuất hàng hóa theo quy luật số lượng và nhân quả. Đấy mới chỉ là hình thức kỹ thuật
5

sản xuất, chưa đi vào con người lao động thực sự. Căntơ mới phản ánh phương thức
sản xuất trong giai đoạn tiền cách mạng; Căntơ chưa tin tưởng hoàn toàn vào cái thế
giới hàng hóa và cho đấy chưa phải là thực tại tuyệt đối, chưa phải là vật tự tại.
Phíchtơ: Tiến lên một bước nữa, đến giai đoạn cách mạng cần phải khẳng định hoàn
toàn cái thế giới mới, Phíchtơ đã tuyệt đối hóa quan niệm duy tâm của Căntơ.
Phíchtơ nói: nếu thế giới là do ý thức chủ quan của ta mà có, do lao động tinh thần
xây dựng lên, thì đấy cũng là thế giới duy nhất, ngoài nó ra không có vật tự tại nào
khác. Phíchtơ đã đi thêm được một bước trên con đường xây dựng phương pháp
biện chứng. Phíchtơ đã từng thấy mâu thuẫn giữa hoạt động sáng tạo và thế giới
được sáng tạo, giữa cái “tôi” và cái “không phải là tôi”. Phương pháp mâu thuẫn
này mới được sử dụng trong phạm vi chủ quan, cái khách quan ở đấy chung quy vẫn
nằm trong chủ quan. Mâu thuẫn giữa tôi và cái không phải tôi vẫn nằm trong tôi, vì
chính tôi đặt ra cái quan hệ đó - cái tôi vẫn là tuyệt đối.
Senlinh: Với Senlinh, phương pháp biện chứng lại tiến một bước nữa. Phương pháp
mâu thuẫn của Schelling đã đi quá nội dung chủ quan và bao gồm cả tự nhiên. Theo
Senlinh, mâu thuẫn giữa tinh thần và tự nhiên xuất phát là từ cùng một nguồn gốc:
đó là “Tuyệt đối”. Tự nhiên không phụ thuộc vào tinh thần nữa, khách quan không
nằm trong chủ quan nữa, hai cái đó xuất phát từ cùng một Tuyệt đối. Tư tưởng của
Senlinh đã phản ánh giai đoạn hưởng thụ lung tung sau khi chế độ mới của giai cấp
tư sản đã được thực hiện, quan hệ tư bản trước kia còn là lý tưởng nay đã thành sự
thực và phát triển một cách lung tung.

đối. Hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới của con người, tức lịch sử nhân loại
chỉ là giai đoạn phát triển cao của ý niệm tuyệt đối, là công cụ để nó nhận thức
chính bản thân mình và quay trở về với chính mình. Tư duy lôgích là hình thức
thể hiện cao nhất của ý niệm tuyệt đối.
7

 Hai là, thừa nhận sự phát triển của ý niệm tuyệt đối. Phát triển được Hêghen hiểu
như một chuỗi các hành động phủ định biện chứng, trong đó, cái mới liên tục
thay thế cái cũ, nhưng đồng thời kế thừa những yếu tố hợp lý của cái cũ. Quá
trình phát triển của ý niệm tuyệt đối diễn ra theo tam đoạn thức “chính đề - phản
đề - hợp đề”. Đó cũng là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn giữa cái vật
chất và cái tinh thần, giữa khách thể và chủ thể trong bản thân ý niệm tuyệt đối.
 Ba là, thừa nhận ý thức con người là sản phẩm của lịch sử. Hêghen coi lịch sử là
hiện thân của ý niệm tuyệt đối, là đỉnh cao của sự phát triển ý niệm tuyệt đối trên
trần gian. Lịch sử nhân loại có được nhờ vào hoạt động có ý thức của những cá
nhân cụ thể, nhưng nó lại là nền tảng quy định ý thức của mỗi cá nhân. Ý thức cá
nhân chỉ là sự khái quát, sự “đi tắt” toàn bộ lịch sử mà ý thức nhân loại đã trải
qua. Ý thức nhân loại là sự tái hiện lại toàn bộ tiến trình của lịch sử nhân loại, là
sản phẩm của lịch sử, là hiện thân của ý niệm tuyệt đối.
 Bốn là, triết học là học thuyết về ý niệm tuyệt đối. Hêghen thừa nhận có ba hình
thức thể hiện ý niệm tuyệt đối trên trần gian là nghệ thuật, tôn giáo và triết học,
trong đó, triết học là hình thức thể hiện cao nhất, trọn vẹn và đầy đủ nhất ý niệm
tuyệt đối. Theo Hêghen, triết học là khoa học của mọi khoa học, là khoa học vạn
năng đóng vai trò nền tảng cho toàn bộ thế giới quan và tư tưởng con người.
Nhưng mỗi thời đại lại có một học thuyết triết học của riêng mình. Học thuyết
này là tinh hoa tinh thần của thời đại đó, là thời đại được thể hiện dưới dạng tư
tưởng. Mỗi hệ thống triết học của một thời đại nào đó đều là sự chắt lọc, kết tinh,
khái quát lại toàn bộ lịch sử tư tưởng trước đó, đặc biệt là tư tưởng triết học.
Triết học và lịch sử triết học thống nhất với nhau như là sự thống nhất giữa cái
lôgích và cái lịch sử; vì vậy, triết học phải bao trùm toàn bộ lịch sử phát triển của

phân biệt với tư duy con người là tư duy khách quan có ý thức.
9

Theo Hêghen, trong tư duy mọi cái đối lập (vật chất – tinh thần, khách thể - chủ thể,
tư tưởng – hiện thực…) đều thống nhất. Logích học nghiên cứu tư duy như thế phải
la một hệ thống siêu hình học. Logích học – Siêu hình học của Hêghen được xây
dựng dựa trên luận điểm Cái gì hợp lý thì hiện thực và cái gì hiện thực thì hợp lý.
Khoa học lôgích của ông bao gồm 3 phần, mỗi phần nghiên cứu một trong ba giai
đoạn tương ứng của tư duy thuần túy trong chính nó. Đó là học thuyết về tồn tại, học
thuyết về bản chất và học thuyết về khái niệm.
- Trong học thuyết về tồn tại, Hêghen vạch ra tính quy định lẫn nhau giữa lượng
và chất. Những thay đổi liên tục về lượng sẽ dẫn đến những biến đổi gián đoạn về
chất và ngược lại. Sự quy định này nói lên cách thức tồn tại của sự vật (khái niệm).
Theo Hêghen, tồn tại xuất phát không phải là tồn tại hiện hữu mà là tồn tại thuần
túy, nghĩa là tồn tại ở một phương diện nhất định và được đồng nhất với hư vô, tồn
tại dẫn đến sinh thành. Quá trình chuyển từ tồn tại thuần túy sang sinh thành là sự
thống nhất giữa chất, lượng trong độ. Chất là tính quy định bên trong của sự vật.
Lượng là tính quy định bên ngoài của nó. Độ là sự thống nhất của chất và lượng với
nhau trong sự vật để sự vật là nó. Khi lượng của sự vật thay đổi vượt quá độ, tức qua
điểm nút thì chất này chuyển thành chất khác, tức bước nhảy xảy ra.
- Trong học thuyết về bản chất, Hêghen bàn về bản chất - hiện tượng - hiện thực,
nghĩa là bàn về sự tự vận động phát triển của các phạm trù: đồng nhất - khác biệt –
đối lập – mâu thuẫn, bản chất – hiện tượng, nội dung – hình thức, khả năng – hiện
thực, nguyên nhân – kết quả. Ông vạch ra sự thống nhất và đấu tranh của các mặt
đối lập là nguồn gốc, động lực của mọi sự vận động, phát triển của sự vật (khái
niệm). Khi nghiên cứu quá trình vận động, phát triển của khái niệm, ông cho rằng,
trong bản thân khái niệm vốn có sẵn cái khác biệt được sinh ra từ cái đồng nhất. Lúc
đầu là khác biệt nhỏ, do tích lũy dần dẫn đến khác biệt cơ bản (đối lập); từ đây mâu
thuẫn hình thành và phát triển dẫn đến chuyển hóa.
10

nhiên. Thế giới đã được tạo ra, hiện đang được tạo ra và sẽ vĩnh viễn được tạo ra.
Những hình thức chủ yếu của ý niệm tuyệt đối tồn tại dưới dạng giới tự nhiên là cơ
học, vật lý học, sinh thể học.
Triết học tinh thần
Trong tác phẩm này, Hêghen xem xét ý niệm tuyệt đối ở giai đoạn cuối cùng trên
con đường diễu hành nơi trần gian từ bỏ giới tự nhiên, khắc phục sự tha hóa, quay
về lại chính mình như thế nào.
Triết học tinh thần bao gồm học thuyết về tinh thần chủ quan, học thuyết về tinh
thần khách quan và học thuyết về tinh thần tuyệt đối.
- Tinh thần chủ quan thể hiện sự tồn tại của mình trước hết trong linh hồn con
người (nhân loại học); sau đó, nó thể hiện trong ý thức (hiện tượng học) để phân biệt
với cơ thể; và sau cùng, nó thể hiện trong tri thức (tâm lý học) - cái tinh thần bắt thế
giới bên ngoài phục tùng nó.
- Tinh thần khách quan là sự phủ định biện chứng tinh thần chủ quan. Nó thể hiện
tính tự do của ý niệm tuyệt đối trước hết trong pháp quyền; nó lấy tự do ý chí làm
nền tảng, lấy ý niệm pháp quyền và việc thực hiện pháp quyền làm đối tượng. Khi
cá nhân pháp lý trở thành chủ thể đạo đức thì tinh thần khách quan tự phát triển vào
lĩnh vực đạo đức. Đạo đức là pháp quyền của hành vi, nó lấy sự hòa hợp hành vi của
các chủ thể làm cơ sở. Tinh thần khách quan hoàn thành quá trình tự phát triển trong
phong hóa. Phong hóa là sự thể hiện bản tính tự do của ý niệm tuyệt đối trong các
hình thức thể hiện là gia đình, xã hội công dân và nhà nước, trong đó, nhà nước là
hình thức cao nhất.
- Tinh thần tuyệt đối là sự thống nhất của tinh thần chủ quan và tinh thần khách
quan. Nó thể hiện đầu tiên trong nghệ thuật, thông qua việc đề cao cái đẹp tinh thần
- hình ảnh cảm tính của ý niệm tuyệt đối; sau đó, nó thể hiện trong tôn giáo, thông
12

qua việc thống nhất niềm tin với lý tính - biểu tượng của ý niệm tuyệt đối; và cuối
cùng, nó hoàn thiện chính mình trong hệ thống khái niệm trừu tượng của triết học.
Theo Hêghen, nghệ thuật, tôn giáo, triết học là các phương thức mà y niệm tuyệt đối

chỉ dựa trên những phạm trù bất động, tách rời hình thức ra khỏi nội dung của nó.
Phép biện chứng được Hêghen lý giải là phương pháp đúng đắn để nhận thức các
vấn đề triết học. Phương pháp tư duy biện chứng được ông nghiên cứu một cách đầy
đủ nhất và có căn cứ vững chắc là phương pháp chưa từng thấy trong lịch sử triết
học trước Mác. Đồng thời nó cũng chế định một thế giới quan đặc biệt cần đă
̣
t trên
niềm tin vào tính tất yếu của sự tiến bộ với tư cách là kết quả của sự phát triển hợp
quy luật.
3.1.2. Những hạn chế của phép biện chứng duy tâm Hêghen
Bản chất phép biện chứng duy tâm của Hêghen là khoa học và mang tính cách
mạng, tuy nhiên do xuất phát từ quan điểm duy tâm tuyệt đối mà phép biến chứng
này còn nhiều hạn chế:
+ Coi nhận thức chỉ là khám phá ra ý niệm tuyệt đối; thực tiển chỉ là hoạt động tinh
thần của chủ thể sáng tạo ra tư tưởng.
+ Phép biện chứng của Hêghen vừa là lý luận biện chứng về sự phát triển của ý niệm
vừa là phương pháp lý luận biện chứng nghiên cứu ý niệm, Heeghen đã đoán được
phép biện chứng của sự vật vì vậy nó là phép biện chứng duy tâm
+ Do bị giam hãm trong hệ thống duy tâm thần bí nên phép biện chứng vừa có nội
dung biện chứng tiến bộ, cách mạng, vạch ra thời đại, vừa có nội dung phản khoa
học, bảo thủ, tư biện nên nó chứa nhiều mâu thuẫn.
+ Phủ nhận sự phát triển trong giới tự nhiên và nhiều thành tựu khoa học trong tự
nhiên lúc bấy giờ nếu chúng không hợp với ý niệm tuyệt đối.
14

+ Coi nhà nước và văn minh Đức là đỉnh cao của ý niệm tuyệt đối trên trần giang, là
đích đến mà mọi dân tộc phải vươn tới.
+ Coi triết học của mình là đỉnh cao của tư duy triết học mọi thời đại – ý niệm tuyệt
đối đã khám phá ra chính mình từ cái không phải là mình để quay về với mình do đó
tại đây mọi sự phát triển đều chấm dứt.

thì cũng có tính chất duy vật, mà nội dung ấy lại bao quát hầu như toàn bộ lịch sử
thế giới, Hêghen đã xây dựng được quan điểm tiến hóa và phương pháp luận lý biện
chứng, quan điểm và phương pháp ấy tuy có bị lập trường duy tâm đảo lộn, nhưng
cũng đã làm tiền đề cho chủ nghĩa Mác. Mác đã lộn lại biện chứng pháp Hêghen, gạt
bỏ cái màn duy tâm để nêu lên cái hạt nhân duy lý, thiết lập phương pháp biện
chứng duy vật. Cần phải nhận rõ tính chất sáng tạo trong công trình ấy. Mác không
phải chỉ có cải tạo một cách đơn thuần biện chứng pháp Hêghen, nhưng thực ra thì
đã sáng tạo lại hoàn toàn phương pháp biện chứng trên lập trường duy vật, theo một
nội dung mới. Vì tuy nội dung hệ thống triết học của Hêghen có bao gồm lịch sử
thực tại, nhưng Hêghen lại thu hẹp nó vào phần tinh thần, biến nó thành hiện tượng
duy tâm thuần túy, do đấy phương pháp biện chứng cũng phải xuất hiện dưới một
hình thức thần bí. Chỉ có trên lập trường duy vật mới có thể phát triển nội dung chân
chính phản ánh đúng đắn thực tế khách quan, và nhờ đấy xây dựng phương pháp tư
tưởng ăn khớp với quy luật mâu thuẫn và biến chuyển của thực tại. Chính như thế
là “lộn lại” biện chứng pháp Hêghen, thiết lập biện chứng pháp duy vật.
Như Mác đã nói: “Phương pháp biện chứng của tôi về căn bản không những là
khác, mà là đối lập hẳn với phương pháp biện chứng của Hêghen. Theo Hêghen,
quá trình diễn biến tư tưởng, mà dưới tên ý niệm, ông ta đã biến thành một chủ thể
độc lập, là vị Thần sáng tạo ra thực tại, thực tại này chỉ là ngoại diện của vị thần
kia. Trái lại, theo ý tôi, thì cái biến chuyển của tư tưởng chỉ là phản ánh cái biến

1
C. Mác. Tư Bản Luận. Bài của bản in lần thứ hai
16

chuyển thực tại. Nó là cái biến chuyển thực tại chuyển vào và lặp lại trong đầu óc
của người ta”.
2

Nói một cách khác, biện chứng pháp chân chính là biện chứng pháp duy vật. Và tuy

vào sự phát triển của ý niệm tuyệt đối.Ý niệm tuyệt đối, tinh thần thế giới là tính thứ
nhất, giới tự nhiên là tính thứ hai do tinh thần thế giới và ý niệm tuyệt đối quyết
định. Nó là một sự “tồn tại khác” của tinh thần, sau khi trải qua giai đoạn “tồn tại
khác” ấy, ý niệm tuyệt đối hay tinh thần thế giới mới trở lại “bản thân mình” và đó
là giai đoạn cao nhất, giai đoạn tột cùng, được Hêghen gọi là tinh thần tuyệt đối.
Hêghen đã có công nêu ra những phạm trù, quy luật cơ bản của phép biện chứng.
Nhưng phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng duy tâm, vì vậy Mác gọi đó
là phép biện chứng lộn ngược đầu xuống đất, vì đó cũng chỉ là quy luật của sự phát
triển của “ý niệm tuyệt đối” mà thôi. Mặc dù vậy, ông vẫn là người đầu tiên trình
bày toàn bộ giới tự nhiên và lịch sử dưới dạng một quá trình không ngừng vận động
và biến đổi, phát triển và cố gắng vạch ra mối liên hệ bên trong của sự vận động và
phát triển ấy. C.Mác và Ăng ghen đã phê phán một cách triệt để tính chất phản khoa
học và thần bí của “ý niệm tuyệt đối” trong triết học Hêghen; đồng thời hai ông đánh
giá cao và tiếp thu “hạt nhân hợp lý” trong phép biện chứng của Hêghen để xây
dựng và phát triển học thuyết về phép biện chứng duy vật của mình.
18 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Giáo dục và Đào tạo – Giáo trình Triết học (Dùng cho học viên cao học
và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học), NXB Lý luận chính
trị, Hà Nội – Năm 2006
2. C. Mác. Tư Bản Luận. Bài của bản in lần thứ hai.
3. Lênin. Ba nguồn và ba phần thiết lập của chủ nghĩa Mác.
4. Tiểu ban Triết học, Triết học (Phần I & II, dùng cho học viên cao học và
nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học), LHNB Trường ĐH
Kinh tế TP.HCM, 2010.
5. http://phuctriethoc.blogspot.com/2012/06/triet-hoc-co-ien-uc.html


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status