Chủ nghĩa duy ý chí và vai trò của nó đối với triết học phương Tây hiện đại - Pdf 27

0
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
* * * * * * * * * * * * * * * *

TP. HỒ CHÍ MINH - 2015
1
Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học Khoa học xã
hội và Nhân văn, Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. ĐINH NGỌC THẠCH
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:


thực từ đó đưa ra bản thể của tồn tại người, xoáy sâu vào những đau khổ,
những phi lý, những bất công mà con người phải chịu đựng, nhấn mạnh
đến sự khủng hoảng đời sống nội tâm của con người, từ đó đi tìm nguyên
nhân gây nên đau khổ và phương pháp giải thoát con người khỏi đau khổ.
Trên cơ sở vạch trần và phê phán các giá trị suy đồi của xã hội đương thời,
chủ nghĩa duy ý chí không chỉ thể hiện bản chất hư vô và bi quan chủ nghĩa
trong đời sống con người, mà còn hướng đến sự vượt qua những bản chất
này, xây dựng lại những giá trị đích thực cho sự tồn tại người, tồn tại trong
tự do và trưởng thành trong sáng tạo. Với cách tiếp cận và giải quyết các
vấn đề cơ bản của triết học mới mẻ, nhấn mạnh vào phương diện nhân bản
- phi duy lý và yêu cầu triết học phải có tiếng nói phản biện, chủ nghĩa duy
ý chí đã thức tỉnh tư duy phản tư của con người, xây dựng triết học tâm
trạng, mở đường cho triết học đời sống, phân tâm học, chủ nghĩa hiện sinh,
triết học nhân học ra đời và phát triển. Vì vậy, việc tìm hiểu chủ nghĩa duy
ý chí và vai trò của nó đối với triết học phương Tây hiện đại chính là bước
tiếp cận đầu tiên cần thiết để nghiên cứu triết học phương Tây hiện đại
ngoài mác xít sâu sắc và hợp lý hơn.
Nhân loại đã bước vào thế kỷ XXI, những vấn đề triết học nhân bản -
phi duy lý mà chủ nghĩa duy ý chí nêu lên cách đây hơn 150 năm vẫn còn
nguyên giá trị. Câu hỏi: Tại sao con người càng văn minh hơn, thì sự bất
lực, sự vô vọng, nỗi đau khổ của con người lại càng mạnh mẽ hơn? vẫn ám
ảnh loài người mỗi ngày và đòi hỏi phải được giải quyết thỏa đáng không
những về mặt lý luận, mà cả về mặt thực tiễn. Chống chủ nghĩa bi quan và
chủ nghĩa hư vô, phục hồi lại niềm tin cho con người vào các giá trị tốt
đẹp, phát huy sức mạnh sáng tạo giúp con người có thể đương đầu với
những “cú sốc” trong hiện tại và vững bước tới tương lai là thông điệp
3
nhân văn do chủ nghĩa duy ý chí đưa ra và cho đến ngày nay lại càng mang
tính thời sự, tính cấp thiết hơn bao giờ hết.
Ngoài ra, nghiên cứu chủ nghĩa duy ý chí còn nhằm cung cấp nguồn tài

năm 2000, đã xác định ý chí nguyên thủy (Urwill) của A. Schopenhauer
với bản năng sống mãnh liệt, phi lý tính, còn ý chí quyền lực của F.
Nietzsche là học thuyết về sự phê phán và xây dựng giá trị cho con người.
Tác giả G.Deleuze đã phân tích tư tưởng triết học của F. Nietzsche một
cách biện chứng thông qua tác phẩm Nietzsche và triết học của mình do
4
Nxb.Tri thức xuất bản năm 2010, được Nguyễn Thị Từ Huy dịch. B.
Ratxen viết tác phẩm Lịch sử triết học phương Tây nhấn mạnh đến ý chí
luận và chủ nghĩa bi quan của A. Schopenhauer, đồng thời đi sâu nghiên
cứu các nghịch lý và triết học phê phán của F. Nietzsche.
Những tác phẩm triết học cơ bản của A. Schopenhauer có Siêu hình
tình yêu, siêu hình sự chết do Nxb. Kinh Thi, Sài Gòn xuất bản năm 1971,
Hoàng Thiên Nguyễn dịch. Tác phẩm Thế giới như ý chí và biểu tượng
(Mиp кaк вoля и пpeдcтaвлeниe, изд. Литepaтypa, Mинcк, 1998) chia
thành 4 quyển nghiên cứu thế giới biểu tượng và thế giới ý chí giúp hiểu
sâu sắc hơn về ý chí sống, ý chí vũ trụ và có thể hệ thống hóa nội dung ý
chí luận của A. Schopenhauer trong chủ nghĩa duy ý chí.
Những tác phẩm triết học của F. Nietzsche có Triết lý Hy Lạp thời bi
kịch, Nxb. Tân An xuất bản năm1975, Trần Xuân Kiêm dịch, Zarathustra
đã nói như thế - Nxb. Văn học xuất bản năm 1999, Trần Xuân Kiêm dịch.
Bên kia thiện ác, Nxb. Văn hóa thông tin xuất bản 2008, Nguyễn Tường
Văn dịch, Kẻ phản Ki - tô, Nxb. Tri thức xuất bản 2011, Hà Vũ Trọng
dịch,… Hàng loạt những tác phẩm của F. Nietzsche cũng được dịch sang
tiếng Nga do nhà xuất bản ACT xuất bản tại Moscow năm 2004 như Đánh
giá lại mọi giá trị (

epeoцeнкa вceгo цeннoгo), Về các nhà triết học(O
филocoфax), Vừng hồng (Ympeнняя зapя), Khoa học vui vẻ (Beceлaя
нayka), … Riêng tác phẩm Ý chí quyền lực (The will to power) của F.
Nietzsche dịch sang tiếng Anh xuất bản năm 1968 tại New York với 4

và phát triển của chủ nghĩa duy ý chí. Thứ hai, phân tích nội dung tư
tưởng cơ bản của chủ nghĩa duy ý chí, trong đó nhấn mạnh đến thế giới
như ý chí và biểu tượng của A.Schopenhauer, thế giới như ý chí quyền lực
của F.Nietzsche. Thứ ba, nêu lên những giá trị, những hạn chế của chủ
nghĩa duy ý chí, phân tích vai trò mở đường của chủ nghĩa duy ý chí đối
với sự ra đời và phát triển của triết học đời sống, phân tâm học, triết học
hiện sinh và chủ nghĩa hậu hiện đại, đồng thời rút ra những bài học từ việc
nghiên cứu chủ nghĩa duy ý chí.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án thuộc chuyên ngành Lịch sử triết học. Đối tượng nghiên cứu
của luận án là chủ nghĩa duy ý chí và vai trò của nó đối với triết học
phương Tây hiện đại. Phạm vi nghiên cứu của luận án về cơ sở tư liệu là
các tác phẩm, công trình nghiên cứu khoa học, bài viết của chính những đại
biểu thuộc chủ nghĩa duy ý chí và của những nhà nghiên cứu chủ nghĩa duy
ý chí. Về nội dung là những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành và
phát triển chủ nghĩa duy ý chí, nội dung của chủ nghĩa duy ý chí, vai trò
của chủ nghĩa duy ý chí đối với triết học phương Tây hiện đại, giá trị, hạn
chế và những bài học lịch sử rút ra từ việc nghiên cứu chủ nghĩa duy ý chí.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp
luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Các
nguyên tắc tính khách quan, nguyên tắc tính lịch sử - cụ thể, nguyên tắc
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, nguyên tắc mâu thuẫn, phương pháp
đi từ trừu tượng đến cụ thể, phương pháp tiếp cận bằng học thuyết hình thái
kinh tế - xã hội được sử dụng như là những phương pháp chung trong việc
6
thực hiện luận án. Ngoài ra, luận án còn được thực hiện dựa trên những
phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp lịch sử và lôgic, phân
tích và tổng hợp, so sánh và đối chiếu, loại suy, chứng minh, mô tả, đặc
biệt phương pháp văn bản học.

trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, khoa học – kỹ thuật, tư tưởng, âm
nhạc và văn học. Xét trên lĩnh vực kinh tế, phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa đã từng bước xác lập và phát triển mạnh mẽ. Điều này được thể hiện
thông qua cuộc cách mạng công nghiệp, mà từ đó trình độ của lực lượng
7
sản xuất được nâng lên một bước mới. Sự thay đổi của lực lượng sản xuất
kéo thay sự thay đổi quan hệ sản xuất và sự rung chuyển không ngừng
trong tất cả những quan hệ xã hội. Đồng thời, những cuộc khủng khoảng
kinh tế với quy mô ngày càng sâu, rộng dẫn đến cuộc sống con người bị
đày đọa trong đau khổ triền miên, bất tận. Xét trên lĩnh vực chính trị, từ
cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789) đến công xã Pari (1871) vẫn là thời kỳ
chính trị phức tạp, rối ren, đan xen quyền lực của chế độ phong kiến với
chế độ tư sản trong xã hội. Sự phát triển của chủ nghĩa đế quốc cũng khác
nhau: chủ nghĩa đế quốc Anh được gọi là chủ nghĩa đế quốc thực dân Anh,
chủ nghĩa đế quốc Pháp gọi là chủ nghĩa đế quốc chuyên cho vay nặng lãi,
còn chủ nghĩa đế quốc Đức chỉ là Đế quốc tư sản Junke. Sự phát triển của
không đồng đều này dẫn đến quan hệ giữa các nước đế quốc luôn nằm
trong tình trạng căng thẳng, buộc phải gấp rút tăng cường quân đội, dùng
vũ lực để mở ra con đường bá quyền thế giới làm cho rất nhiều người bị lôi
cuốn vào guồng máy chiến tranh bất chấp ý muốn chủ quan của họ, dẫn
đến cuộc sống của con người thường xuyên rơi vào đau khổ, khốn cùng.
Xét trên lĩnh vực khoa học – kỹ thuật, ngoài ba học thuyết khoa học tự
nhiên nổi tiếng giữa thế kỷ XIX là định luật bảo toàn và chuyển hóa năng
lượng, thuyết tế bào và thuyết tiến hóa, thì tiếp theo là những phát minh về
sóng ánh sáng, sóng điện từ, tia X đã làm lung lay các quan điểm siêu hình
về thế giới, tính bất ổn, biến đổi liên tục của các dạng vật chất, các nguồn
năng lượng trong thế giới làm cho bức tranh về thế giới của chủ nghĩa duy
vật máy móc, siêu hình mặc dù đạt được đỉnh cao vào thế kỷ XIX, nhưng
cũng dần dần bị bác bỏ. Xét trên lĩnh vực lý luận tư tưởng, văn hóa diễn ra
sự hoàn thiện tư tưởng kinh tế - chính trị học cổ điển Anh, phát triển tư

chọn phục vụ cho cái thiện hay cái ác. Sự lựa chọn của chính con người
quyết định số phận của con người. Điều này tạo nên hình tượng Siêu nhân
của F. Nietzsche gắn với tính tự do, tự chủ và độc đáo sau này. Ấn Độ giáo
cống hiến những tư tưởng “Ý chí như là Brahman”, bản chất tế vi của linh
hồn, thế giới ảo (maya), sức mạnh nhiệt tình (tapas) và dục tính như khởi
nguồn vạn vật, nhận thức cao nhất là nhận thức bằng trực giác (intuition),
thực nghiệm tâm linh để đi đến giải thoát của con người trở thành cơ sở lý
luận quan trọng cho sự hình thành tư tưởng triết học của chủ nghĩa duy ý
chí. Phật giáo với tư tưởng vô minh, bể khổ, Niết bàn đã khơi dậy tính phi
duy lý, chủ nghĩa bi quan và con đường giải thoát cho con người bằng đạo
đức học khổ hạnh trong chủ nghĩa duy ý chí.
1.2.2. Tiền đề lý luận từ triết học phương Tây
Plato với học thuyết ý niệm (idea) và “Truyện ngụ ngôn về Cái hang”
trở thành cơ sở lý luận để xây dựng thế giới như ý chí và biểu tượng của
A. Schopenhauer, nhưng ý niệm của Plato được xây dựng theo hướng duy
lý, còn ý chí ở A. Schopenhauer là phi duy lý. Ngoài ra, những ý tưởng
trong “Bữa tiệc rượu” của Plato đã gợi mở cho A. Schopenhauer phát triển
siêu hình tình yêu của mình sau này. I. Kant với tư tưởng triết học về thế
giới “vật tự thân”(ding an sich) và thế giới hiện tượng, về tính thường
nghiệm và siêu nghiệm của không gian, thời gian được áp dụng cho học
thuyết về thế giới của A. Schopenhauer. J.G. Fichte xem cái Tôi mà tự nó
sản sinh ra nó là cái Tôi tuyệt đối, tồn tại trước cả tự nhiên và con người,
9
sáng tạo ra thế giới trờ thành mẫu Người lý tưởng, Con người viết hoa, mà
F. Nietzsche hay sử dụng cho Siêu nhân của mình.
1.3. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHỦ
NGHĨA DUY Ý CHÍ
1.3.1. Chủ nghĩa duy ý chí nửa đầu thế kỷ XIX trong tư tưởng triết
học của A. Schopenhauer
A. Schopenhaeur - triết gia đặt nền tảng cho chủ nghĩa duy ý chí

10
Trong thời kỳ này, A. Schopenhaeur viết rất nhiều các chuyên đề, tiểu
luận văn nghệ có nội dung gần gũi với đời sống con người. Chúng đặt con
người đối diện ngay với những vấn đề bức xúc nhất của cuộc sống như
định mệnh, tình yêu, tương quan giữa lý tưởng và thực tế, cái chết, tự sát,
nỗi đau khổ chung, hạnh phúc, sự bất tử, thuyết duy linh, bản năng tính
dục, … nên dễ dàng đi vào lòng độc giả.
1.3.2. Chủ nghĩa duy ý chí nửa sau thế kỷ XIX trong tư tưởng triết
học của F.Nietzsche
F. Nietzsche - triết gia tạo dựng bước phát triển mới trong chủ nghĩa
duy ý chí
F. Nietzsche (1844 – 1900) sinh ra trong gia đình mục sư theo phái
Luther, nên từ bé ông đã bộc lộ lòng mộ đạo, tư chất rất thông minh, say
mê lịch sử, giỏi về ngôn ngữ học, đặc biệt thuần thục tiếng Latinh và tiếng
Hy Lạp, từng làm giáo sư giảng dạy Ngữ văn cổ điển tại trường Đại học
Basel, từng phục vụ trong quân đội, đi rất nhiều nơi để cảm nhận đời sống,
say mê thơ ca của Goethe, tràn đầy cảm xúc mãnh liệt với âm nhạc của
L.Beethoven, và đặc biệt bị hấp dẫn bởi triết học của A.Schopenhauer.
Cuộc đời của F. Nietzsche đầy tâm trạng với những khối mâu thuẫn cao độ
trong sự nghiệp, tình bạn, tình yêu, niềm tin tôn giáo, … nên tư tưởng triết
học của ông có cái nhìn nội tâm sâu lắng và mặc khải xuất thần. Ôm trọn
những bi kịch tinh thần của thời đại, cuộc đời của F. Nietzsche ba phần tư
là đau khổ, một phần tư còn lại là kiệt sức và ông qua đời tại Weimar khi
mới 56 tuổi.
Thời kỳ trước năm 1883: tiếp thu và phê phán các giá trị lưu truyền
Xuất phát từ ngôn ngữ và văn hóa học, F. Nietzsche đã xây dựng bản
thể triết học siêu hình nghệ thuật và nghiên cứu triết lý Hy Lạp thông qua
lăng kính nhân cách và đời sống nội tâm của các triết gia. Ngoài mục đích
tạo ra một trào lưu tư tưởng mới trong khối tam giác (A. Schopenhaeur -
R.Wagner - F.Nietzsche), F.Nietzsche đã xây dựng khái niệm “thần Apolo

con người đầy rẫy những nỗi đau khổ, trên nền tảng tư tưởng triết học duy
tâm phương Tây và triết học tôn giáo phương Đông, cộng với trí tuệ, tài
năng, tâm hồn nhạy cảm của hai nhà triết học nước Đức A.Schopenhauer
và F.Nietzsche, chủ nghĩa duy ý chí đã ra đời, hình thành và phát triển theo
hai giai đoạn cơ bản là giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX với ý chí luận duy
tâm khách quan của A.Schopenhauer và giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX với
ý chí luận duy tâm chủ quan của F.Nietzsche, mà mục đích chung là mở ra
một hướng đi mới cho triết học trên nền tảng nhân văn – phi duy lý nhằm
giải thoát con người khỏi biển đời đầy biến động, loạn lạc, chém giết, chiến
tranh, bóc lột, tàn nhẫn, vô lối, đau khổ.

Chương 2
NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY Ý CHÍ
2.1.BẢN THỂ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA DUY Ý CHÍ
2.1.1. Quan niệm về ý chí trong lịch sử triết học
Trên phương diện tâm lý, ý chí được hiểu như sự khát khao, sự ham
muốn, sự đam mê, nguyện vọng trên phương diện hành vi của con người, ý
chí hiểu như sự nỗ lực, nghị lực, sức mạnh, sức sống trên phương diện triết
12
học, ý chí được hiểu như là động lực, xung năng, xung lực. Và với cách
tiếp cận triết học, thì có thể định nghĩa ý chí là xung năng nội tại thôi thúc
chủ thể hành động để hoàn thành mục tiêu xác định hoặc bất định.
Trong lịch sử triết học, Plato xem ý chí là phương diện cảm xúc tâm lý
của con người, ý chí nằm trong lồng ngực con người là phần thứ hai của
linh hồn, bao gồm những đam mê và nghị lực, hoạt động theo nguyên tắc
giận dữ tạo ra sức mạnh, nên người có ý chí đúng đắn là người cần có tính
can đảm. Thánh Augustin hướng tự do ý chí của con người đến bản nguyên
đầu tiên bất diệt là ý chí Thượng đế; Dunt Scotus đề cao ý chí hơn lý trí,
nhưng họ đều công nhận nền tảng để nhận thức ý chí của Thượng đế là đức
tin. I. Kant là người không chấp nhận điều trên, ông xem ý chí chính là bản

sản một cách vô thức, nhưng thống trị toàn bộ thế giới. Điều này thể hiện
chân lý bất diệt của bản thể người, nó tồn tại nhờ sự nối tiếp của các thế hệ
tương lai và nhờ chủng loại.
Ba đặc trưng cơ bản của ý chí quyền lực trong tư tưởng triết học của
F. Nietzsche
Đặc trưng thứ nhất, ý chí quyền lực là ý chí tồn tại vì tự do đích thực.
Xuất phát từ việc phê phán ý chí vũ trụ của A.Schopenhauer mang bản chất
hư vô, dường như chúng thống trị vạn vật, nhưng thực ra là không thống trị
cái gì, F. Nietzsche đòi hỏi giải phóng ý chí quyền lực ra khỏi căn bệnh hư
vô, trở thành ý chí tự do đích thực biểu hiện thông qua sự muốn được tự
do, hành động theo khả năng muốn và khả năng tạo ra sự khác biệt.
Đặc trưng thứ hai, ý chí quyền lực là xung năng nội tại tăng trưởng
không ngừng trong chủ thể nhằm xóa tan sự suy đồi, sự vô hồn của thế giới
đem đến sinh khí sống động cho nó. Xung năng nội tại muốn tăng trưởng
không ngừng, thì ý chí quyền lực phải thực hiện những cuộc đấu tranh: đấu
tranh chống những giá trị ngoại lai tồn tại trong chính mình một cách liên
tục, thường xuyên, bền bỉ; đấu tranh với những sức mạnh xa lạ bên trong
cũng như bên ngoài bản thân chủ thể; chuyển hóa của các nguồn sức mạnh
đến sáng tạo và trưởng thành.
Đặc trưng thứ ba, ý chí quyền lực là sự hân hoan sáng tạo của chủ thể
với những điều kiện là ý chí quyền lực phải tồn tại tự do, phải có khả năng
muốn và khả năng tạo ra sự khác biệt. Còn con đường để ý chí quyền lực
sáng tạo một cách hân hoan là suy tư, chọn lọc, quyết định và hành động.
Đây là quá trình F. Nietzsche muốn nâng con người trần trụi với thực tại
khốn cùng lên thành con người siêu việt căng tràn sức sống và niềm vui.
2.2. NHẬN THỨC LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA DUY Ý CHÍ
2.2.1. Nhận thức luận trên nền tảng thế giới như là biểu tượng và ý
chí
A.Schopenhauer xây dựng nhận thức luận trên nền tảng thế giới
như là biểu tượng

hiện bằng kết quả hoạt động sáng tạo của người nghệ sĩ, hoạt động trí tuệ
của các nhà thông thái và hoạt động tu hành đạo đức khổ hạnh của đại đa
số tín đồ Phật giáo.
2.2.2. Nhận thức luận trên nền tảng thế giới như là ý chí quyền lực
Vấn đề giá trị của chân lý trong ý chí quyền lực
F.Nietzsche xem vấn đề chân lý chỉ là ý chí khát vọng chân lý của con
người. Ý chí này thể hiện mạnh mẽ nhất ở các triết gia, ông cho rằng thế
giới đời đời vẫn cần đến chân lý, cho nên nó đời đời cần đến triết gia,
những người nắm bắt tương lai bằng sự sáng tạo “nhận thức của họ là khả
năng kiến thiết, khả năng kiến thiết của họ là xây dựng luật tắc, ý chí khát
vọng chân lý của họ ấy là – ý chí khát vọng quyền lực”
2
. F.Nietzsche đưa
ra một tiến trình phi duy lý để đi đến chân lý vì đằng sau nó là những phán
định về giá trị, đằng sau những giá trị là những đòi hỏi của bản năng. Vì
vậy, sức mạnh hoạt động nhận thức của con người là sức mạnh hoạt động
của cái bản năng, của ý chí vô thức phi duy lý.
Tư duy bằng sức mạnh bản năng: trực giác và sáng tạo

2

Friedrich Nietzsche (2008), Bên kia thiện ác, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội,
Nguyễn Tường Văn dịch, tr.180.
15
F. Nietzsche xem bản năng cao hơn trí năng, cao hơn ý thức, nhờ đó
mới có những sáng tạo nghệ thuật, nhờ đó chủ - khách thể mới đồng nhất,
bản chất đích thực của đời sống mới hiện ra. Tư duy bằng bản năng chỉ liên
quan đến vấn đề giá trị đặt trong mối liên hệ với đời sống con người. Chính
tư duy bằng sức mạnh của bản năng, thậm chí là bản năng phi duy lý nhằm
mở rộng trực giác mãi mãi mới có thể nâng cao tầm nhận thức của con

tin, yêu và hy vọng. Phê phán quốc gia xây dựng trên nền văn hóa lý tính
16
theo một lối mòn chung, một khuôn khổ chung đã xóa nhòa mọi bản sắc
riêng biệt của từng con người và từng dân tộc.
2.3.2.Giải thoát cho con người trong chủ nghĩa duy ý chí
Giải thoát con người khỏi ý chí vũ trụ trong triết học A.
Schopenhauer
Xuất phát từ mệnh đề đời là bể khổ và quan niệm con người đau khổ là
do ý chí vũ trụ bắt nó phải quay cuồng trong vòng sinh tử bất tận, nên
A. Schopenhauer khẳng định chỉ khi ý chí không còn những xung động
ham muốn, thì con người được cứu rỗi, tức là lúc ấy con người đã bước
qua được tồn tại thể nghiệm để thâm nhập vào tồn tại đích thực. Tuy nhiên,
ông phủ nhận những cách thức cứu rỗi con người bằng sự thụ động lười
suy nghĩ, bằng bệnh điên và bằng tự sát, đồng thời nhấn mạnh hơn đến ý
nghĩa cao cả của giải thoát bằng nghệ thuật duy mỹ và đạo đức khổ hạnh.
Nghệ thuật duy mỹ giúp cho con người vươn lên trên bầu không khí
nặng nề của thế tục, thoát ra khỏi sự áp chế của các dục vọng, chỉ cho con
người thấy cái bất diệt, cái phổ biến ở đằng sau cái phù du, cá biệt. Những
cấp bậc nghệ thuật đi từ thấp đến cao: thứ nhất là kiến trúc và thủy lực; thứ
hai là hội họa; thứ ba là điêu khắc; thứ tư là văn học; cuối cùng là âm nhạc.
Việc thực hiện chủ nghĩa khổ hạnh là tiêu diệt lòng ích kỷ trong con
người với hai giai đoạn là tự nguyện đồng khổ và tu hành khổ hạnh. Khi
con người đi đến hoàn thành chiến công của tình yêu thương, thì thế giới
biểu tượng biến mất, họ bắt đầu cảm nhận được bản thân mình như là chính
mình. Sau đó bước đến tu hành khổ hạnh thể hiện bằng việc thiện chí, nhẫn
nại vô hạn với mọi thứ xung quanh; đối xử lại với cái ác bằng cái thiện và
tình yêu; từ chối mọi đam mê ham muốn; từ bỏ mọi của cải, nhà cửa, người
thân, cô độc sâu sắc và hoàn toàn trong sự chiêm nghiệm tĩnh mịch, trong
sự quên thân tự nguyện, trong sự tự hành hạ chậm rãi,cuối cùng là cái chết
tự nguyện. Chính cái chết này rũ bỏ được xiềng xích của ý chí và giúp con

sống con người là vô nghĩa. Hơn nữa, ý chí còn là chất keo gắn kết giữa
các yếu tố vật chất trơ ì, năng nề với các yếu tố tinh thần sống động, thanh
thoát, thông qua ý chí và nhờ ý chí mà thế giới thống nhất, mà con người
có được sự tự do trong hoạt động hăng say sáng tạo của mình.
Phản ánh thực trạng xã hội suy đồi và cất lên tiếng nói nội tâm mạnh
mẽ, chủ nghĩa duy ý chí tuy đứng trên lập trường thế giới quan duy tâm,
nhưng đã nêu lên những vấn đề mới và cố tìm ra cách giải quyết chúng phù
hợp, tính đặc sắc của chủ nghĩa duy ý chí thể hiện bằng quá trình chuyển từ
chủ nghĩa hư vô đi đến học thuyết giá trị, từ chủ nghĩa bi quan đã đi đến
chủ nghĩa lạc quan nhằm mang lại cuộc sống tự do cho con người.
18
Chương 3
NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA DUY Ý CHÍ
VÀVAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI
TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY HIỆN ĐẠI
3.1. NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA DUY Ý
CHÍ
3.1.1. Những giá trị của chủ nghĩa duy ý chí
Thứ nhất, chủ nghĩa duy ý chí đã vượt qua được những lối mòn của tư
duy truyền thống trong vấn đề xây dựng bản thể luận mới, lấy ý chí làm
trọng tâm, xoáy sâu vào bản thể nội tâm của con người, làm sáng tỏ thêm

19
Từ ý chí sống của A.Schopenhauer đến xung năng sống (elan vital)
của H.Bergson
H.Bergson xem xung năng sống là sự sống trong một dòng chảy liên
tục, không phân chia, là cội nguồn sâu xa nhất của mọi sự vật sống động,
của mọi sự biến đổi trong thế giới, luôn luôn sáng tạo ra bản thân và sáng
tạo ra sự vật mới.
Thứ nhất, xung năng sống nằm ở trung tâm tiến hóa sáng tạo, nên toàn
bộ quá trình tiến hóa phải được nhìn như sự kéo dài của xung năng sống
không ngừng phát triển và tạo ra những hình thái mới. Sự kéo dài này như
một dòng chảy năng động, luôn phải chịu những thay đổi ngẫu hứng, bất
ngờ, từ đó không ngừng tăng lên, vượt qua rào cản không - thời gian, chiến
thắng tính ì của các dạng vật chất, đi tới sáng tạo nhờ đó thế giới tạo thành.
Thứ hai, xung năng sống là sự phân chia nguồn năng lượng sống ở các
cấp bậc khác nhau: cấp bậc của những nguồn năng lượng tự nhiên; cấp bậc
bản năng của động vật ăn thịt; cấp bậc sức mạnh sáng tạo của con người.
Về sức mạnh sáng tạo tinh thần của con người được H. Bergson giải
quyết thông qua mối quan hệ của bản năng, trí tuệ và trực giác (intuition).
Trực giác là ý thức tự nó suy nghĩ về những đối tượng của nó và mở ra vô
cùng. Trực giác đồng thời phải gắn với trí tuệ sáng suốt, đồng thời phải
vượt qua cả trí tuệ và bản năng. Trực giác phát triển qua bốn bước: bước
một, tập trung chú ý và tương thông với vật thể được cảm nhận, từ đó đạt
được độ khớp của tư duy với bản chất của sự vật; bước hai, trực giác được
hình thành nhờ xung động mãnh liệt của ý chí, tinh thần liên kết chặt chẽ
với ý chí trong quá trình sáng tạo căng thẳng của nó; bước ba, trực giác là
sự sáng tạo ra sự rõ ràng, là suy ngẫm để đi đến ý tưởng rõ ràng; bước bốn,
trực giác là ý thức mở rộng, có nghĩa là tư tưởng của con người tự giãn ra
để ngày càng ăn khớp nhiều hơn với thực tại. Nghiên cứu trực giác là
nghiên cứu: thời gian thuần túy, độ lâu của cảm xúc, ký ức, khối kỷ niệm
đan xen lẫn nhau và sự trải nghiệm đời sống nội tâm đích thực. Có hai loại

S. Freud thừa nhận phân tâm học phát triển được, trước tiên nó đã phải
nhờ sự cống hiến mang tính khai sáng của A. Schopenhauer. S. Freud gọi
A. Schopenhauer là bậc tiền bối của mình. Xem xét mối liên hệ từ ý chí
sống của A. Schopenhauer đến xung năng sống (libido) của S. Freud
chính là nghiên cứu ba vấn đề: libido, tác động của libido đối với đời sống
con người và chuyển hóa libido đến thăng hoa sáng tạo.
Libido vừa là xung năng tính dục nội tại, vừa là xung năng cảm xúc
nằm bên dưới những vận động và những ứng xử có ý thức hoặc vô thức
của con người. Bản chất của libido là tính nguyên thủy và tính bản năng.
Tính nguyên thuỷ của libido được hiểu như là một số lượng năng lượng
tính dục nhất định, tồn tại sẵn trong con người từ lúc lọt lòng cho đến khi
nhắm mắt xuôi tay, do hưng phấn trong cơ thể con người gây nên và nguồn
năng lượng này được bảo toàn. Tính bản năng (instinct) của libido vừa là
tính dục, vừa là xung năng sống gọi là Eros tuân thủ theo nguyên tắc khoái
lạc, đồng thời mặt đối lập của nó là xung năng chết, gọi là Thanatos tuân
theo nguyên tắc cưỡng bức lập lại.
Tác động của libido đối với hoạt động của con người
21
Libido bị dồn nén dồn nén, bị hụt hẫng, bị dừng lại, bị kiệt quệ hoặc bị
tiêu tốn quá mức đều dẫn đến lo hãi. Lo hãi kéo dài dẫn sẽ đến rối loạn tâm
lý, tàn phá tinh thần, dẫn đến bệnh tâm thần. Muốn chữa trị được bệnh tâm
thần để phát triển nhân cách con người bình thường, khỏe mạnh cần hiểu
được cơ chế tâm lý với hai thái cực ý thức và vô thức, cùng với ba tầng là
bỉ ngã (Id), bản ngã (Ego) và siêu ngã (Super - Ego).
Chuyển hóa libido đến thăng hoa sáng tạo và bảo tồn nền văn minh
cho con người.
Libido là nguồn năng lượng có tính chất bảo toàn và chuyển hóa, để
phát triển con người sáng tạo, xã hội văn minh, theo S. Freud phải chuyển
hóa libido từ bản năng sống – xung động vô thức, phi duy lý đến bản năng
chết – xung động bị chế định và phụ thuộc, mang ít nhiều lý tính và đạt

động mù quáng, không có sự tham gia của ý thức hay tư duy, nhưng tự do
phải bắt nguồn từ trong cái sức sống mãnh liệt đó, tuy nhiên triết học hiện
sinh của J.P. Sartre còn đòi hỏi tồn tại của con người phải được xem như
một nhân cách có năng lực phản tư và chịu trách nhiệm về hoạt động của
mình, như chủ thể hướng lai.
Áp dụng ý chí sống, ý chí quyền lực nghiên cứu xã hội con người,
M.Scheler cho rằng chính từ ba khát vọng sống đầu tiên: sự đòi ăn, tình
dục và ham muốn quyền lực cần xây dựng các hình thức xã hội thỏa mãn
khát vọng của con người để hạn chế những xung động phi duy lý và tác
động tiêu cực của chúng. Ông xem các hình thức xã hội tương ứng với
những khát vọng đó là nền kinh tế, chế độ hôn nhân và thể chế nhà nước.
Nhìn chung, chủ nghĩa hiện sinh đã khắc họa sinh động và trung thực
hình ảnh con người cô đơn, đau khổ bị “tha hóa”, “bị nuốt chửng”, “bị
đánh mất bản sắc cá nhân”, nhưng không phải là con người cam chịu, mà
trong họ tiềm ẩn sự “nổi loạn”, sự “quẫy đạp”, dám liều lĩnh, dám chịu
trách nhiệm để sống, để tìm lại bản sắc cá nhân mình và đi đến tự do, còn
con đường đưa con người đến tự do thực sự, thì những nhà triết học nhân
bản - phi duy lý giải quyết chưa triệt để.
3.2.4. Chủ nghĩa duy ý chí với triết học văn bản của chủ nghĩa hậu hiện
đại
Trong tác phẩm Chủ nghĩa hậu hiện đại, tác giả Trần Quang Thái
khẳng định: “Trước sự đa dạng góc độ tiếp cận triết học, chủ nghĩa hậu
hiện đại kế thừa truyền thống phi duy lý Đức xuất phát từ ý chí luận
Schopenhauer (voluntarism) đến chủ nghĩa hư vô Nietzsche (nihilism),
hiện tượng luận Husserl, và siêu hình học Heidegger (metaphysics). Trong
hành trình này, tư tưởng của Nietzsche, Husserl và Heidegger tạo nên dấu
ấn đáng kể lê diện mạo của chủ nghĩa hậu hiện đại”
3
.
Thứ nhất, triết học hậu hiện đại tiếp tục truyền thống phi duy lý

hậu hiện đại đối với việc đề cao âm nhạc và văn học trong quá trình cảm
nhận giá trị, ý nghĩa, mục đích, tính vĩnh cửu của con người. Đời sống con
người không chỉ có khoa học và lý tính như chân lý vĩnh cửu, bất biến, phổ
quát, bản ngã của con người cũng không phải là một cái gì đó nội tại, kiên
cố, đồng nhất, mà chúng là bản năng, là nghệ thuật, là đam mê sáng tạo.
3.2.5. Những bài học lịch sử rút ra từ việc nghiên cứu chủ nghĩa duy ý
chí
Thứ nhất, dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng để
nhận thức về ý chí và giải quyết vấn đề tác động của ý chí đối với đời sống
con người trên cơ sở khách quan, khoa học.
Thứ hai, giải quyết mềm dẻo, biện chứng mối quan hệ giữa duy lý
(rationalis) và phi duy lý (irrationalis) trong quá trình phát huy tính năng
động, sáng tạo của ý chí.
Thứ ba, đi sâu nghiên cứu sức mạnh của những động lực vô hình ẩn
sau những quyết định của con người nhằm hướng tới giải quyết một cách
hiệu quả những biểu hiện của sức mạnh phi duy lý trong xã hội.

4
Friedrich Nietzsche (1968), The will to power, A Division of Ran dom House,
New York, tr.342.
24
Thứ tư, xây dựng và phát huy sức mạnh ý chí của con người Việt Nam
luôn phải dựa trên nền tảng của những mục tiêu nhân đạo.
Kết luận chương 3
Chủ nghĩa duy ý chí có ảnh hưởng sâu đậm đến những trào lưu triết
học nhân bản phi duy lý phương Tây hiện đại. Với sự mở đường của nó,
việc nghiên cứu sức mạnh tiềm năng của con người được mở rộng. Đồng
thời, thông qua nghiên cứu những sức mạnh này cũng đã thể hiện những lo
âu, trăn trở của các nhà triết học nhân bản - phi duy lý về vấn đề tồn tại của
con người và phát triển tương lai loài người. Cho đến tận ngày nay, vấn đề


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status