tiểu luận cao học đã sửa lịch sử học thuyết kinh tế thời kỳ quá độ trình bày lý luận của lê nin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội quá trình nhận thức và vận dụng lý luận này trong việc lựa chọn con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội - Pdf 36

LỜI MỞ ĐẦU
C.Mác và Ph.Ăngghen cũng dự báo trên những nét lớn về những đặc
trưng cơ bản của xã hội mới, đó là: có lực lượng sản xuất xã hội cao, chế độ
sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất được xác lập, chế độ người bóc người bị thủ
tiêu, sản xuất nhằm thỏa mãn nhu cầu của mọi thành viên trong xã hội , nền
sản xuất được tiến hành theo một kế hoạch thống nhất trên phạm vi toàn xã
hội, sự phân phối sản phẩm bình đẳng, sự đối lập giữa thành thị và nông thôn,
giữa lao động trí óc và lao động chân tay bị xóa bỏ...
Để xây dựng xã hội mới có những đặc trưng như trên cần phải trải qua
hai giai đoạn: Giai đoạn thấp (giai đoạn đầu) và giai đoạn sau (giai đoạn cao).
Sau này Lênin gọi giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội và giai đoan sau là chủ
nghĩa cộng sản. C.Mác gọi giai đoạn đầu xã hội chủ nghĩa là thời kỳ quá độ
chính trị lên giai đoạn cao của xã hội cộng sản.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách mạng toàn
diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Thời kỳ này ở các nước có
trình độ phát triển kinh tế xã hội khác nhau có thể diễn ra với khoảng thời
gian dài ngắn khác nhau. Đối với những nước đã trải qua chủ nghĩa tư bản
phát triển ở trình độ cao khi tiến lên xã hội chủ nghĩa thời kỳ quá độ có thể
tương đối ngắn. Những nước trải qua giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản ở
trình độ trung bình, đặc biệt là những nước có nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu
thì thời kỳ quá độ tương đối khó khăn, phức tạp.
Ở nước ta thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được bắt đầu từ năm
1945 ở miền Bắc và năm 1975 trên phạm vi cả nước sau khi cuộc cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân đã hoàn toàn thắng lợi, đất nước hòa bình và thống
nhất quá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Sau khi chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, Đảng ta vẫn
quyết định nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua tư bản chủ nghĩa. Nước ta
tiến lên xã hội chủ nghĩa bỏ qua tư bản chủ nghĩa là tất yếu khách quan, do nó
1



- Một là, CNTB và CNXH khác nhau về bản chất. CNTB được xây
dựng trên cơ sở chế độ tư hữu TBCN về các tư liệu sản xuất; dựa trên chế độ
áp bức và bóc lột. CNXH được xây dựng trên cơ sở chế độ công hữu về tư
liệu sản xuất chủ yếu, tồn tại dưới 2 hình thức là nhà nước và tập thể; không
còn các giai cấp đối kháng, không còn tình trạng áp bức, bóc lột. Muốn có xã
hội như vậy cần phải có một thời kỳ lịch sử nhất định.
- Hai là, CNXH được xây dựng trên nền sản xuất đại công nghiệp có
trình độ cao. Quá trình phát triển của CNTB đã tạo ra cơ sở vật chất - kỹ thuật
3


nhất định cho CNXH, nhưng muốn có cơ sở vật chất – kỹ thuật đó cần phải có
thời gian tổ chức, sắp xếp lại. Đối với những nước chưa từng trải qua quá
trình CNH tiến lên CNXH , TKQĐ cho việc xây dựng cơ sở vật chất – kỹ
thuật cho CNXH có thể kéo dài với nhiệm vụ trọng tâm của nó là tiến hành
CNH XHCN.
- Ba là, các quan hệ xã hội của CNXH không tự phát nảy sinh trong
lòng CNTB, chúng là kết quả của quá trình xây dựng và cải tạo XHCN. Sự
phát triển của CNTB dù đã ở trình độ cao cũng chỉ có thể tạo ra những điều
kiện, tiền đề cho sự hình thành các quan hệ xã hội XHCN, do vậy cũng cần
phải có thời gian nhất định để xây dựng và phát triển các quan hệ đó.
- Bốn là, công cuộc xây dựng CNXH là một công việc mới mẻ, khó
khăn và phức tạp, cần phải có thời gian để giai cấp CN từng bước làm quen
với những công việc đó.
TKQĐ lên CNXH ở các nước có trình độ phát triển kinh tế - xã hội
khác nhau có thể diễn ra với khoảng thời gian dài, ngắn khác nhau. Đối với
những nước đã trải qua CNTB phát triển ở trình độ cao thì khi tiến lên
CNXH, TKQĐ có thể tương đối ngắn. Những nước đã trải qua giai đoạn phát
triển CNTB ở mức độ trung bình, đặc biệt là những nước còn ở trình độ phát
triển tiền tư bản, có nền kinh tế lạc hậu thì TKQĐ thường kéo dài với rất

3.Nội dung của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Thời kỳ quá độ lên CNXH là một quá trình được tiến hành trên tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội, là 1 quá trình khó khăn và phức tạp.
- Trên lĩnh vực kinh tế: thực hiện việc sắp xếp, bố trí lại các lực lượng
sản xuất hiện có của xã hội; cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản
xuất mới theo hướng tạo ra sự phát triển cân đối của nền kinh tế, bảo đảm
phục vụ ngày càng tốt đời sống nhân dân lao động. Việc sắp xếp, bố trí lại các
lực lượng sản xuất của xã hội nhất định không thể theo ý muốn nóng vội, chủ
quan mà phải tuân theo tính tất yếu khách quan của các quy luật kinh tế, đặc
biệt là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất.

5


Đối với những nước chưa trải qua quá trình CNH TBCN, tất yếu phải
tiến hành CNH XHCN nhằm tạo ra được cơ sở vật chất – kỹ thuật của CNXH.
Nhiệm vụ trọng tâm của những nước này trong TKQĐ là phải tiến hành CNH,
HĐH nền kinh tế theo định hướng XHCN. Quá trình CNH-HĐH XHCN diễn
ra ở các nước khác nhau với những điều kiện lịch sử khác nhau có thể được
tiến hành với những nội dung cụ thể và hình thức, bước đi khác nhau. Nước ta
quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN, chưa trải qua quá trình CNH TBCN,
nên trong thời gian qua, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh CNH, HĐH, tạo nền
tảng để đi lên CNXH; bên cạnh đó là chủ trương phát triển kinh tế thị trường
định hướng XHCN cũng là để giải phóng sức sản xuất, tiến tới một nền sản
xuất lớn.
=> Đặc điểm kinh tế cơ bản nhất của thời kỳ quá độ là sự tồn tại nền
kinh tế nhiều thành phần và tương ứng với nó có nhiều giai cấp, tầng lớp xã
hội khác nhau nhưng vị trí, cơ cấu và tính chất của giai cấp trong xã hội đã
thay đỗi một cách sâu sắc. Sự tồn tại của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là

đặc thù mà giai đoạn xã hội XHCN trên con đường phát triển của hình thái kinh
tế - xã hội CSCN chỉ có thể đạt được trên cơ sở hoàn thành các nội dung đó.
4. Khả năng quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa
Phân tích tính chất và đặc điểm của chủ nghĩa tư bản trong thới kỳ tự
do cạnh tranh, C.Mác và Ph. Ăngghen đã nêu ra khả năng quá độ lên chủ
nghĩa cộng sản ở các nước lạc hậu khi cách mạng vô sản ở các nước Tây Âu
giành được thắng lợi.
Khi phân tích đặc điểm của chủ nghĩa tư bản trong thời kỳ độc quyền,
phát triển ra quy luật phát triển không đều về kinh tế và chính trị của chủ
nghĩa tư bản, V.I.Lênin rút ra kết luận quan trọng về khả năng thắng lợi của
chủ nghĩa xã hội ở một số nước riêng lẻ chứ không thể thắng lợi cùng một lúc
ở tất cả cả nước. Khi chủ nghĩa xã hội thắng lợi ở một nước, thì nhân loại bắt
đầu bước vào thời đại mới- thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi
toàn thế giới. Trong điều kiện đó, các nước lạc hậu có thể quá độ lên chủ
nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Theo V.I.Lênin, điều kiện để
một nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là:

7


-Thứ nhất, điều kiện bên trong, có Đảng cộng sản lãnh đạo giành được
chính quyền và sử dụng chính quyền nhà nước công, nông, trí thức liên minh
làm điều kiện tiên quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội.
-Thứ hai, điều kiện bên ngoài, có sự giúp đỡ của giai cấp vô sản của
các nước tiên tiến đã giành thắng lợi trong cách mạng vô sản.
Các nước lạc hậu có khả năng quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế
độ tư bản chủ nghĩa nhưng không phải là quá độ trực tiếp, mà phải qua con
đường gián tiếp với một loạt những bước quá độ thích hợp, thông qua “chính
sách kinh tế mới”. Chính sách kinh tế mới là con đường quá độ gián tiếp lên
chủ nghĩa xã hội, được áp dụng ở Liên Xô từ mùa xụân 1921 thay cho “chính

Bởi vì:
- Một là, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa là phù hợp với quy
luật khách quan của lịch sử. Loài người đã phát triển qua các hình thái kinh
tế- xã hội: công xã nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ
nghĩa. Sự biến đổi của các hình thái kinh tế- xã hội là quá trình lịch sử tự
nhiên và hình thái kinh tế- xã hội sau cao hơn, tiến bộ hơn hình thái kinh tếxã hội trước nó. Sự biến đổi của các hình thái kinh tế- xã hội nói trên đều tuân
theo quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất.
Cho dù ngày nay, chủ nghĩa tư bản đang nắm nhiều ưu thế về vốn, khoa
học, công nghệ và thị trường, đang cố gắng điều chỉnh trong chừng mực nhất
định quan hệ sản xuất để thích nghi với tình hình mới, nhưng không vượt ra
khỏi những mâu thuẫn vốn có của nó, đặc biệt là mâu thuẫn giữa tính chất xã
hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân
tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Mâu thuẫn này không những không dịu
đi mà ngày càng phát triển gay gắt và sâu sắc. Sự phát triển mạnh mẽ của lực
lượng sản xuất và xã hội hóa lao động làm cho các tiền đề vật chất, kinh tế, xã
hội ngày càng chín muồi cho sự phủ định chủ nghĩa tư bản và sự ra đời của xã
hội mới - chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa tư bản không phải là tương lai của loài
người. Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ
nghĩa xã hội.
- Hai là, phát triển theo con đường chủ nghĩa xã hội không chỉ phù hợp
với xu thế của thời đại, mà còn phù hợp với đặc điểm của cách mạng Việt
9


Nam: cách mạng dân tộc, dân chủ gắn liền với cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ trước hết là giải phóng dân tộc, giành độc
lập, tự do, dân chủ... đồng thời nó là tiền đề để “ làm cho nhân dân lao động
thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no, và
sống một đời hạnh phúc”, nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã

tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại
đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học công nghệ để
phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”.
Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa thực chất là phát triển theo con đường
“rút ngắn” quá trình lên chủ nghĩa xã hội. Nhưng “rút ngắn” không phải là đốt
cháy giai đoạn, duy ý chí, coi thường quy luật, như muốn xóa bỏ nhanh sở
hữu tư nhân và các thành phần kinh tế “phi chủ nghĩa xã hội” hoặc coi nhẹ
sản xuất hàng hóa,... Trái lại, phải tôn trọng quy luật khách quan và biết vận
dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của đất nước, tận dụng thời cơ và khả năng
thuận lợi để tìm ra con đường, hình thúc, bước đi thích hợp. Phát triển theo
con đường “rút ngắn” là phải biết kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã
đạt được ở chủ nghĩa tư bản không chỉ về lực lượng sản xuất mà cả về quan
hệ sản xuất, cơ sở kinh tế và kiến trúc thượng tầng, như Lênin đã nói về chủ
nghĩa xã hội ở nước Nga với kỹ thuật hiện đại trong các tơrớt của Mỹ và nghệ
thuật quản lý trong ngành đường sắt ở Đức
Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa nhưng không thể thực hiện quá độ trực
tiếp lên chủ nghĩa xã hội mà phải qua con đường gián tiếp, qua việc thực hiện
hàng loạt các hình thức quá độ. Sự cần thiết khách quan và vai trò tác dụng
của hình thức kinh tế quá độ được Lênin phân tích sâu sắc trong lý luận về
chủ nghĩa tư bản nhà nước. Thực hiện các hình thức kinh tế quá độ, các khâu
trung gian... vừa có tác dụng phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất, vừa
cần thiết để chuyển từ các quan hệ tiền tư bản lên chủ nghĩa xã hội, nó là
hình thúc vận dụng các quy luật kinh tế phù hợp với điều kiện cụ thể.
Tóm lại, xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở
nước ta tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là quá
trình rất khó khăn, phức tạp, tất yếu “phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài
11


với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất


Qúa độ lên chủ nghĩa xã hội không những phù hợp với quy luật phát
triển lịch sử mà còn phù hợp với nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân
Việt Nam đã chiến đấu, hi sinh không chỉ vì độc lập dân tộc mà còn vì cuộc
sống ấm no, hạnh phúc, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Những yêu cầu ấy chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đáp ứng được. Quyết tâm của
nhân dân sẽ trở thành lực lượng vật chất để vượt qua khó khăn, xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội.
Xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam, một Đảng giàu tinh thần cách mạng và sáng tạo, có đường lối đúng đắn
và gắn bó với nhân dân, có Nhà nước xã hội Chủ nghĩa của dân, do dân, vì
dân ngày càng được củng cố vững mạnh và khối đại đoàn kết toàn dân, đó là
những nhân tố chủ quan vô cùng quan trọng bảo đảm thắng lợi côngcuộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
2- Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH
2.1 Quá trình cách mạng và những bài học kinh nghiệm
Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã có nhiều cố gắng nghiên
cứu, tìm tòi, xây dựng đường lối, xác định đúng mục tiêu và phương hướng
xã hội chủ nghĩa. Nhưng Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm
quy luật khách quan: nóng vội trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ ngay nền
kinh tế nhiều thành phần; có lúc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công
nghiệp nặng; duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, bao
cấp; có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả, tiền tệ, tiền lương.
Công tác tư tưởng và tổ chức cán bộ phạm nhiều khuyết điểm nghiêm trọng.
Tại Đại hội lần thứ VI, Đảng đã tự phê bình và đề ra đường lối đổi mới. Đại
hội VI là cột mốc lịch sử quan trọng trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ
nghĩa của nhân dân ta. Công cuộc đổi mới qua hơn bốn năm đã đạt những
thành tựu bước đầu rất quan trọng. Tình hình kinh tế - xã hội có chuyển biến
tích cực, tạo thế đi lên và khẳng định con đường chúng ta đang đi là đúng.


Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo và góp
14


phần phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng
làm giàu trí tuệ, bản lĩnh chính trị và năng lực tổ chức của mình để đủ sức giải
quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra. Mọi đường lối, chủ trương
của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Phải phòng
và chống được những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự
thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên.
2.2 Qúa độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang diễn ra mạnh
mẽ, cuốn hút tất cả nước ở mức độ khác nhau. Nền sản xuất vật chất và đời
sống xã hội đang trong quá trình quốc tế hóa sâu sắc, ảnh hưởng lớn tới nhịp
độ phát triển lịch sử và cuộc sống các dân tộc. Những xu thế đó vừa tạo thời
cơ phát triển nhanh cho các nước, vừa đặt ra những thách thức gay gắt, nhất là
đối với những nước lạc hậu về kinh tế. Trong quá trình hình thành và phát
triển. Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã đạt những thành tựu to
lớn về nhiều mặt, đã từng là chỗ dựa cho phong trào hòa bình và cách mạng
thế giới, cho phong trào hòa bình và cách mạng thế giới, cho việc đẩy lùi
nguy cơ chiến tranh hạt nhân, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh vì hòa
bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Nhưng, do duy trì quá lâu
những khuyết tật của mô hình cũ của chủ nghĩa xã hội, chậm trễ trong cách
mạng khoa học và công nghệ, nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã lâm vào khủng
hoảng trầm trọng. ở một số nước, đảng cộng sản và công nhân không còn nắm
vai trò lãnh đạo; chế độ xã hội đã thay đổi. Các thế lực đế quốc lợi dụng
những sai lầm và khó khăn đó đẩy mạnh cuộc phản kích quyết liệt nhằm xóa
bỏ các nước xã hội chủ nghĩa. Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa
tư bản đang diễn ra gay gắt. Trước mắt, chủ nghĩa tư bản còn có tiềm năng
phát triển kinh tế, nhờ ứng dụng những thành tựu mới của khoa học và công

thực dân, phong kiến còn nhiều. Các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách
phá hoại chế độ xã hội chủ nghĩa và nền độc lập dân tộc của nhân dân ta.
Nhưng chúng ta cũng có những thuận lợi: chính quyền thuộc về nhân dân,
nước nhà đi vào giai đoạn hòa bình xây dựng. Dân tộc ta là một dân tộc anh
hùng, có ý chí vươn lên mãnh liệt. Nhân dân ta có lòng yêu nước nồng nàn,
16


cần cù lao động và sáng tạo. Chúng ta đã xây dựng được một số cơ sở vật chất
ban đầu. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, cùng với xu thế
quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới là một thời cơ để phát triển. Quá độ lên
chủ nghĩa xã hội trong tình hình đất nước và thế giới như trên, chúng ta phải
tiếp tục nâng cao ý chí tự lực tự cường, phát huy mọi tiềm năng vật chất và trí
tuệ của dân tộc đồng thời mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tìm tòi bước đi,
hình thức và biện pháp thích hợp xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Xã
hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng làm một xã hội: - Do nhân dân
lao động làm chủ. - Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản
xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu. - Có nền
văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. - Con người được giải phóng khỏi
áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc
sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân. - Các
dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ. - Có
quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới. Để
thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh theo con đường xã hội chủ nghĩa,
điều quan trọng nhất là phải cải biến căn bản tình trạng kinh tế - xã hội kém
phát triển, chiến thắng những lực lượng cản trở việc thực hiện mục tiêu đó,
trước hết là các thế lực thù địch chống độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, cần nắm vững
những phương hướng cơ bản sau đây:
- Một là, xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của nhân dân,

3.1. Phát triển lực lượng sản xuất, coi công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kì quá độ nhằm xây
dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội:.
Ngày nay, cơ sở vật chất - kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội phải thể hiện
được những thành tựu tiên tiến nhất của khoa học và công nghệ, đặc biệt là
công nghệ thông tin và công nghệ sinh học. Chỉ khi lực lượng sản xuất phát
triển đến trình độ cao mới tạo ra được năng suất lao động cao trong toàn bộ
nền kinh tế quốc dân, nhờ đó những mục tiêu và tính ưu việt của chủ nghĩa xã
hội mới được thực hiện ngày càng tốt hơn trên thực tế.
18


Qúa độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, khi đất
nước ta chưa có tiền đề về cơ sở vật chất - kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội do
chủ nghĩa tư bản tạo ra; do đó phát triển lực lượng sản xuất nói chung, công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nói riêng trở thành nhiệm vụ trung tâm của suốt thời
kì quá độ. Nó có tính chất quyết định đối với thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở
nước ta.
Nhiệm vụ không kém phần quan trọng khác của phát triển lực lượng
sản xuất, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là phát triển nguồn
lực con người - lực lượng sản xuất cơ bản của đất nước, yếu tố cơ bản của
tăng trưởng kinh tế, tạo đội ngũ lao động có khả năng sáng tạo, tiếp thu, sử
dụng, quản lí có hiệu quả các thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại. Vì vậy,
phải phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của con người Việt
Nam, coi phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và
động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là “ quốc sách hàng đầu” trong
chiến lược phát triển đất nước.
3.2. Xây dựng từng bước quan hệ sản xuất mới theo đinh hướng xã
hội chủ nghiã:
Chế độ công hữu tư liệu sản xuất chủ yếu là đặc trưng của quan hệ sản

ngày càng nâng cao hiệu quả của quan hệ kinh tế quốc tế.
Toàn cầu hoá kinh tế và cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại tạo ra
những thách thức và nguy cơ cần phải đề phòng, khắc phục; mặt khác, tạo ra
cho nước ta những cơ hội, thuận lợi cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước theo con đường “ rút ngắn”. Đó là thu hút các nguồn vốn từ bên
ngoài, nhập được các loại công nghệ hiện đại và những kinh nghiệm quản lí
tiên tiến ... nhờ đó, khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong nước, đẩy mạnh
tốc độ phát triển kinh tế, thu hẹp khoảng cách lạc hậu so với các nước khác.
Đó là sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Để mở rộng và nâng cao hiệu quả quan hệ kinh tế quốc tế, phải nâng
cao sức cạnh tranh quốc tế, khai thác thị trường thế giới, tối ưu hoá cơ cấu
xuất - nhập khẩu, đa dạng hoá quan hệ kinh tế với các tổ chức và các quốc gia
trong khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, phải xử lí đúng mối quan hệ giữa mở
rộng kinh tế quốc tế với độc lập tự chủ, bảo vệ an ninh kinh tế quốc gia, giữ
gìn bản sắc văn hoá dân tộc với kế thừa, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại ...
20


KẾT LUẬN
Thời kỳ quá đo lên chủ nghĩa xã hội là một thời kỳ lịch sử tất yếu trên
con đường phát triển của hình thái kinh tế - xã họi cộng sản chủ nghĩa. Đó là
thời kỳ lịch sử có đặc điểm riêng với nội dung kinh tế, chính trị, văn hóa và xã
hội đặc thù mà giai đoạn xã hội xã hội chủ nghĩa trên con đườngphát triển của
hình thái kinh tế - xã hội công sản chủ nghĩa chỉ có được trên cơ sở hoàn
thành các nội dung đó.
Đảng và nhà nước ta với mục tiêu kết thúc thời kỳ quá độ là: “Xây
dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc
thượng tầng về chính trị và tư tưởng, văn hóa phù hợp làm cho nước ta trở
thành nước xã họi chủ nghĩa phồn vinh “. Và trong giai đoạn hiện nay, sau khi
kết thúc chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ, chúng ta bắt đầu bước vào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status