MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn hoá là một trong bốn lĩnh vực quan trong của xã hội - một thành tố
tất yếu của sự phát triển. Do vậy, việc xây dựng, phát huy nền văn hoá Việt Nam
tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc đồng thời với giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối
sống đã trở nên cấp thiết và vô cùng quan trọng, đặc biệt trong giai đoạn hiện
nay. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khoá VIII của Đảng đã khẳng định:
Phải xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn
hoá dân tộc. Đến Đại hội IX, Đảng ta một lần nữa nhấn mạnh “Tăng trưởng kinh
tế đi đôi với phát triển văn hoá và giáo dục, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc, làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân”.
Lào cai là một tỉnh miền núi với nhiều dân tộc anh em sinh sống. Cùng
với cả nước thực hiện tốt Nghị quyết của các kỳ Đại hội, trong thời gian qua,
hoạt động xã hội hoá văn hóa ở thành phố Lào Cai phát triển mạnh cả về số
lượng cũng như chất lượng của các loại hình, mang đến cho nhân dân cuộc sống
và diện mạo mới, đặc biệt là vấn đề kinh tế, chính trị xã hội, người dân từ trung
tâm thành phố đến đồng bào các xã, vùng sâu, vùng xa được tham gia, tiếp cận
với hoạt động này một cách tích cực. Điều này góp phần nâng cao dân trí cho
đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh Lào Cai nói chung và đồng bào thành phố
lào Cai nói riêng.
Tuy nhiên, hoạt động xã hội hoá văn hoá ở Lào Cai đang là một vấn đề
được các cấp uỷ đảng quan tâm. Đó là sự phát triển ồ ạt, không đồng bộ, nhiều
khi chồng chéo, mạng lưới cơ sở hạ tầng yếu không đáp ứng với sự phát triển
đó, đội ngũ cán bộ thiếu chuyên môn, nghiệp vụ dẫn đến công tác quản lý còn
hạn chế, một số cấp uỷ, chính quyền chưa quan tâm đến các loại hình xã hội hoá
các hoạt động văn hoá, đặc biệt là sự quản lý của hệ thống văn hoá ở các xã,
1
phường vùng sâu, vùng xa. Vì vậy, chưa phát huy hết được vai trò của các loại
5. Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung
tiểu luận gồm 02 chương.
3
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
XÃ HỘI HOÁ HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1.
Các khái niệm
1.1.1. Văn hóa
Đảng ta đã xác định lấy phát triển văn hóa làm nền tảng, là động lực cho
sự phát triển. Chính vì vậy công tác lãnh đạo và quản lý hiện nay lại cần thiết
hơn bao giờ hết để thúc đẩy phát triển văn hóa vì lợi ích dân tộc. Nghiên cứu
hoạt động quản lý văn hóa ta phải tìm ra một khái niệm văn hóa phù hợp. Hiện
nay đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa.
Văn hóa được hiểu theo nghĩa chung nhất là toàn bộ các giá trị, sáng tạo
của con người và xã hội để đáp ứng các nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần
của con người. Văn hóa đánh dấu trình độ phát triển của con người và xã hội
trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Ở một phương diện khác văn hóa là giá
trị, là kết quả của hoạt động con người và xã hội trong quá trình ứng xử đối với
môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của
cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo
đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh
hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng
khát vọng vươn tới cái chân, thiện, mỹ.
1.1.2. Xã hội hoá các hoạt động văn hoá
Hoạt động văn hoá không chỉ còn là của riêng ngành văn hoá mà được sự
tham gia của nhiều ngành và mọi tầng lớp nhân dân. Xã hội càng phát triển nhu
cầu văn hoá của con người càng cao. Văn hoá có tác động lớn trong sự phát
triển, trong chiến lược xây dựng con người. Qua thực tiễn nhiều nước trên thế
giới cho thấy, trong phát triển nếu như không cân bằng giữa phát triển kinh tế
với phát triển văn hoá thì sẽ rơi và tình trạng khủng hoảng trong đời sống tinh
5
thần của xã hội. Không phải ngẫu nhiên mà UNNESCO đề ra thập kỷ quốc tế
phát triển văn hoá và Việt Nam là nước hưởng ứng tích cực. Điều quan trọng
hiện nay là chúng ta phải biến những nhận thức này trở thành hiện thực trong
cuộc sống. Xã hội hoá các hoạt động văn hoá là một trong những biện pháp tích
cực để đưa văn hoá vào mọi lĩnh vực hoạt động trong đời sống xã hội, thúc đẩy
vai trò của nó trong phát triển.
Xã hội hoá các hoạt động văn hoá có nghĩa là biến các hoạt động văn
hoá trở thành của toàn xã hội, được xã hội quan tâm và nuôi dưỡng.
Công tác xã hội hoá các hoạt động văn hoá đã có trong xã hội trước đây,
như trong các ngày hội làng, nhân dân thường đóng góp tiền của và tích cực
tham gia các hoạt động trong ngày hội, phường Tuồng, phường Chèo được mời
về làng diễn, được nhân dân nuôi dưỡng. Ai hát hay thì được thưởng tiền…
nhân dân vừa hưởng thụ vừa sáng tạo, tuy các hoạt động ở mức sơ khai, chưa có
sự tổ chức, hướng dẫn chặt chẽ. Trong cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao
cấp, chúng ta cũng đề ra phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, song
nhiều nơi ỷ lại vào bao cấp nên chưa phát huy được hiệu quả. Cơ chế thị trường
thôi thúc chúng ta sang tạo ra nhiều hình thức để xã hội hoá, nhiều địa phương
đã cho nhiều hình thức hay, phong phú trong lĩnh vực này.
hiện xã hội hoá hoạt động văn hoá.
Hai là, xã hội hoá hoạt động văn hoá là xây dựng cộng đồng trách nhiệm
của tầng lớp nhân dân để tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế - xã hội thuận
lợi cho sự phát triển văn hoá, trên cơ sở đó nâng cao quyền tổ chức và điều
hành các hoạt động văn hoá theo hướng đa dạng chủ thể hoạt động, tổ chức và
quản lý văn hoá.
Quan điểm này tập trung nhấn mạnh mối quan hệ hai chiều giữa chủ thể các tầng lớp nhân dân với văn hoá. Một mặt, nhấn mạnh tính cộng đồng trách
nhiệm của các chủ thể, mặt khác, chỉ ra các nhu cầu về quyền được tổ chức,
quản lý của các chủ thể đối với các loại hình hoạt động văn hoá cụ thể, về yêu
7
cầu đa dạng chủ thể này như là một hệ quả tất yếu của quá trình xã hội hoá hoạt
động văn hoá.
Thực hiện quan điểm này sẽ góp phần tạo ra diện mạo mới cho sự phát
triển văn hoá, đặc biệt ở tính đa dạng, phong phú, sự năng động và sáng tạo
trong tổ chức các hoạt động văn hoá. Thay thế cho quan niệm cũ về một chủ thể
duy nhất được quyền tổ chức, quản lý mọi hoạt động và sinh hoạt văn hoá đã trở
nên lỗi thời là sự xuất hiện những gương mặt chủ thể mới với những nỗ lực tìm
tòi trong tổ chức và quản lý văn hoá, tạo nên sự phát triển đa dạng của văn hoá,
đáp ứng nhu cầu tinh thần ngày càng phong phú, muôn vẻ của các tầng lớp nhân
dân.
Ba là, xã hội hoá hoạt động văn hoá là mở rộng các nguồn lực đầu tư,
khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong toàn xã hôị, phát
huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân để phát triển sự nghiệp xây
dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Mở rộng các nguồn đầu tư cho văn hoá là kết quả của quá trình thực hiện
xã hội hoá, điều mà trong một thời gan dài trước đây, do cơ chế quan liêu bao
cấp và do quan niệm không đúng về quan hệ giữa vai trò chỉ đạo, quản lý của
Mặt khác, việc tăng cường và nâng cao này lại phải nhằm phát huy cho
được các lực lượng xã hội tham gia hoạt động văn hoá, tạo điều kiện tốt nhất cho
các chủ thể văn hoá sáng tạo, tổ chức và quản lý các loại hoạt động văn hoá. Vai
trò của Nhà nước còn thể hiện ở nhiệm vụ tiếp tục củng cố xây dựng các cơ sở
văn hoá nhà nước đủ mạnh để giữ vai trò chủ đạo và định hướng, đồng thời
không giảm bớt phần ngân sách nhà nước chi cho văn hoá, mà Nhà nước cần tìm
thêm các ngồn thu để tăng kinh phí và tỷ lệ ngân sách cho các hoạt động văn
hoá, xây dựng các văn bản pháp quy để điều chỉnh, điều hành các hoạt động xã
hội hoá, các quyền lợi và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động
văn hoá.
9
Năm nội dung trên đây có quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo thành hệ thống
quan điểm cơ bản về xã hội hoá hoạt động văn hoá. Tất nhiên, do thực tiễn đang
vận động, nhiều hoạt động đang ở giai đoạn thể nghiệm, nên các quan điểm trên
chưa thể coi là hoàn chỉnh. Thời gian qua, nó vừa có vai trò định hướng, chỉ đạo
hoạt động thực tiễn, vừa được chính thực tiễn bổ sung, điều chỉnh và làm phong
phú hơn. Việc tổng kết xã hội hoá hoạt động văn hoá chính là nhằm mục tiêu chỉ
ra đồng thời cả hai nội dung trên.
1.3.
Vai trò của xã hội hóa hoạt động văn hóa hiện nay
Để khẳng định vai trò, tầm quan trọng của công tác xã hội hóa hoạt động
văn hóa, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 05/2005 đưa ra một số định hướng
lớn nhằm phát triển xã hội hóa văn hóa như: Tăng cường quản lý Nhà nước các
hoạt động văn hóa; tăng cường đầu tư cho văn hóa, trong đó ưu tiên các vùng
nghèo, miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và bảo tồn, tôn tạo, phát
huy các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể; tiến hành chuyển một số cơ sở
hội, có vai trò thực sự trong các lĩnh vực của đời sống khi nó có chất lượng cao
và đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Ở đây thể hiện rõ quy luật cung và cầu của
cơ chế thị trường. Hoạt động văn hoá chất lượng thấp không đáp ứng được nhu
cầu của xã hội thì không thể tồn tại và cũng không bao giờ xã hội hoá được.
Trong thời kỳ mở cửa, nhiều hình thức hoạt động văn hoá của chúng ta và thế
giới cùng tồn tại, cạnh tranh nhau để phát triển, thì việc đổi mới và nâng cao
chất lượng các hoạt động văn hoá là vấn đề sống còn, là tiền đề của xã hội hoá
hoạt động văn hoá.
11
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XÃ HỘI HOÁ HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ
Ở TP LÀO CAI HIỆN NAY
2.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến xã hội hóa hoạt động văn hóa ở thành phố
Lào Cai
2.1.1. Điều kiện tự nhiên thành phố Lào Cai
Thành phố Lào Cai là một thành phố biên giới phía bắc, một đô thị loại 3,
tỉnh lỵ của tỉnh Lào Cai. Thành phố được thành lập vào năm 2004 trên cơ sở sáp
nhập hai thị xã Lào Cai và Cam Đường. Thành phố Lào Cai có Cửa khẩu Quốc
tế Lào Cai là nơi giao thương quan trọng ở phía bắc Việt Nam với phía
nam Trung Quốc. Là địa đầu của đất nước, thành phố Lào Cai là cửa ngõ quan
trọng mở cửa thị trường Việt Nam với các tỉnh phía tây nam Trung Quốc và cả
các tỉnh nằm sâu trong nội địa Trung Quốc. Toàn thành phố Lào Cai gồm 17
đơn vị hành chính trực thuộc. trong đó có 12 phường và 5 xã.
Thành phố Lào Cai giáp các huyện Mường Khương, Bảo Thắng, Bát
Xát, Sa Pa cùng của tỉnh Lào Cai. Với diện tích tự nhiên: 22.150 ha và 102.000
dân số, trong đó dân số nội thành là 79.960 người, dân số ngoại thành 22.040
người. Thành phố Lào Cai là đô thị loại 3, nằm ở vùng Tây Bắc của Tổ Quốc,
mưa nhiều nên ngoài việc tạo những thuận lợi về giao thông, tạo cảnh quan
hướng ra sông Hồng còn có nhiệm vụ điều hòa không khí cho thành phố.
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - văn hóa xã hội thành phố Lào Cai
Lào Cai có 25 dân tộc trong đó thành phố có 16 dân tộc; dân tộc kinh
chiếm 64%; dân tộc thiểu số chiếm 36%. Vì vậy bản sắc dân tộc Lào Cai rất đa
dạng và phong phú. Các dân tộc thiểu số ở Lào Cai đều có truyền thống văn hoá
giàu bản sắc, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, trở thành vốn quí để Lào Cai xây
dựng một nền văn hoá đa dạng về sắc thái. Tuy vậy do trình độ dân trí còn thấp
13
và không đồng đều nên vẫn còn tàn dư của các phong tục, tập quán lạc hậu tập
chung rải rác ở các phường đặc biệt là các xã vùng cao.
Về kinh tế tỉnh đã thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội
giai đoạn 2005-2010, 2011-2015 trong những năm qua, mặc dù phải đối mặt với
những khó khăn và thách thức to lớn, nhưng nhờ nắm vững chủ trương, đường
lối của Đảng, vận dụng thực hiện tốt các chính sách của nhà nước phù hợp với
đặc điểm của tỉnh nên thành phố Lào Cai đã phát huy mạnh được nội lực, khơi
dậy tiềm năng của các thành phần kinh tế, khai thác có hiệu quả các lợi thế thúc
đẩy phát triển kinh tế xã hội của địa phương, kinh tế tăng trưởng cao và ổn định,
có tính chất đột phá trong nhiều lĩnh vực. Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội được
tập trung đầu tư, có bước phát triển vượt bậc, tạo nền tảng quan trọng cho giai
đoạn tới. Lĩnh vực thương mại - dịch vụ có bước phát triển tương đối nhanh.
Các ngành dịch vụ có bước chuyển dịch tích cực theo hướng đáp ứng tốt hơn
các nhu cầu về sản xuất, kinh doanh và phục vụ đời sống dân cư. Kinh tế cửa
khẩu, du lịch tiếp tục được khẳng định là ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố.
Trong những năm qua lĩnh vực văn hoá - xã hội của thành phố đạt được
nhiều thành tựu quan trọng, đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân được cải
thiện rõ rệt: công tác giáo dục - đào tạo có những chuyển biến tích cực quy mô
giáo dục tăng nhanh nhất là các xã vùng cao, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân
của nhân dân.
Ba là, thành phố cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp
tham gia đầu tư và phát triển trong lĩnh vực văn hóa (trên 400 cơ sở dịch vụ văn
hóa: Kinh doanh - phát hành văn hóa phẩm, karaoke,...); góp phần đáp ứng đa
dạng nhu cầu vui chơi giải trí, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân thành
phố.
Năm là, các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập đã chuyển sang hoạt động
theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính theo Nghị định số
15
43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối
với đơn vị sự nghiệp công lập. Có 3 đơn vị tự đảm toàn bộ kinh phí hoạt động
thường xuyên là Trung tâm Triển lãm và Mỹ thuật, Trung tâm Tổ chức biểu
diễn, Trung tâm Phát hành phim và chiếu bóng. Các đơn vị sự nghiệp công lập
còn lại chưa có các dịch vụ văn hóa tự cân đối thu chi. Tổng thu sự nghiệp và
dịch vụ của các đơn vị sự nghiệp công lập văn hóa chiếm tỷ trọng thấp so tổng
kinh phí hoạt động; cụ thể: Năm 2012, tổng kinh phí hoạt động của các đơn vị
sự nghiệp văn hóa công lập cấp thành phố (12 đơn vị) là 35,4 tỷ đồng, trong đó
kinh phí thu sự nghiệp và dịch vụ văn hóa 8,6 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 24,3%
(không đạt chỉ tiêu Nghị quyết 14/2006/NQ-HĐND).
Sáu là, thành phố hình thành thiết chế văn hoá cơ sở ở 2.558 làng, tổ dân
phố văn hoá (100%), với sự đóng góp kinh phí của nhân dân để tổ chức và duy
trì phong trào văn hoá; xây dựng 670 Nhà văn hoá thôn, tổ dân phố và mua sắm
trang thiết bị cho các nhà văn hóa được thực hiện từ một phần kinh phí đóng góp
của nhân dân. Kinh phí tổ chức các hoạt động tại nhà văn hoá cơ sở đều huy
động xã hội hóa 100%, kinh phí ngân sách chỉ hỗ trợ trao những giải thưởng
lớn; qua đó đã phục vụ tốt nhu cầu sáng tạo, hưởng thụ văn hoá và giải trí của
nhân dân.
trường trung học phổ thông ngoài công lập giảm từ 32,6% xuống còn 23%.
Hai là, công tác quản lý văn hóa trên địa bàn thành phố còn bất cập cả
trong định hướng phát triển, quy hoạch và chỉ đạo thực hiện. Việc triển khai
thực hiện còn chậm và nhiều lúng túng. Quản lý nhà nước vừa gò bó, vừa buông
lỏng; cơ chế chính sách chưa cụ thể, rõ ràng, thiếu đồng bộ, còn chưa phù hợp
với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các lực lượng xã hội chưa
được tổ chức và phối hợp tốt để chủ động, tích cực tham gia vào quá trình xã hội
hoá.
17
Ba là, trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao, các cơ sở công
lập chiếm tỷ trọng lớn vẫn áp dụng cơ chế quản lý như các cơ quan hành chính
nên đã không phát huy được tính năng động, tự chủ và trách nhiệm. Các cơ sở
ngoài công lập chưa nhiều, cơ sở vật chất còn đơn sơ, nghèo nàn, đội ngũ cán bộ
còn thiếu và yếu. Chất lượng và hiệu quả hoạt động chưa cao, còn có những biểu
hiện tiêu cực, thậm chí có những cơ sở đã vi phạm pháp luật.
Các cơ sở ngoài công lập có thái độ phục vụ tốt, tuy nhiên quy mô các cơ
sở ngoài công lập hầu hết còn nhỏ bé, số lượng dịch vụ còn hạn chế, chất lượng
chuyên môn sâu chưa đạt được như khối công lập, phát triển không đồng đều
giữa các vùng và các lĩnh vực, mới chủ yếu tập trung ở nội thành, nội thị, nơi
đông dân; nhiều đơn vị chạy theo số lượng, lạm dụng kỹ thuật đã phần nào làm
giảm chất lượng dịch vụ cung cấp cho người dân.
Bốn là, một số cơ chế, chính sách được Chính phủ ban hành nhằm khuyến
khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực văn hóa chưa được thành
phố triển khai áp dụng kịp thời, đầy đủ; cụ thể: Các chính sách khuyến khích xã
hội hóa về đất đai, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, cho thuê
nhà và cơ sở hạ tầng, hỗ trợ vốn vay ưu đãi đầu tư, hỗ trợ lãi suất vay đầu tư,
đào tạo nhân lực ... được quy định trong Nghị định số 53/2006/NĐ-CP ngày
25/5/2006 của Chính phủ, Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của
với tiềm năng.
- Các Sở chuyên ngành chưa hoàn thành quy hoạch ngành, quy hoạch
mạng lưới thiết chế văn hóa đến năm 2015, định hướng đến năm 2020; chưa có
kế hoạch phát triển các cơ sở xã hội hóa của từng lĩnh vực; chưa xác định được
danh mục các dự án đầu tư ưu tiên thực hiện xã hội hóa kèm theo các điều kiện
khuyến khích cụ thể để làm cơ sở kêu gọi, thu hút đầu tư.
2.3. Giải pháp tăng cường xã hội hóa hoạt động văn hóa ở
thành phố Lào Cai hiện nay
19
2.3.1. Quan điểm xã hội hóa hoạt động văn hóa của thành
phố Lào Cai hiện nay
Một là, xã hội hoá là mục tiêu, là động lực, là chính sách lâu dài phát triển
sự nghiệp giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể dục - thể thao, thúc
đẩy phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
Hai là, đẩy mạnh xã hội hoá gắn với đổi mới căn bản toàn diện các lĩnh
vực văn hóa; đồng thời tăng cường vai trò của các cấp chính quyền trong việc
cung ứng các dịch vụ văn hóa nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng phục vụ
người dân tốt hơn; tăng cường quản lý để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn
lực xã hội hoá.
Ba là, xã hội hóa không chỉ đơn thuần là huy động vốn mà còn là tạo điều
kiện để toàn xã hội, mọi người dân quan tâm, được tham gia đóng góp, quản lý,
kiểm tra, giám sát đối với các hoạt động trong các lĩnh vực này.
Bốn là, xã hội hoá phải đảm bảo công bằng trong việc tiếp cận các nguồn
lực chung của thành phố đối với mọi đối tượng xã hội; đảm bảo quyền lợi cơ
bản của mọi người dân, trợ giúp người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, hỗ
trợ phát triển các vùng sâu, vùng xa và thực hiện công bằng xã hội.
Năm là, xã hội hoá hoạt động văn hóa nhưng không giảm chi ngân sách
Nhà nước mà tiếp tục tăng chi cho các lĩnh vực này trên cơ sở chất lượng dịch
các mục tiêu ưu tiên, các chương trình quốc gia phát triển giáo dục, y tế, văn
hoá, thể dục thể thao; hỗ trợ các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít
người; ưu đãi các đối tượng chính sách và trợ giúp người nghèo trên cơ sở đổi
mới chế độ miễn, giảm phí theo hướng công khai, hợp lý và cấp trực tiếp tới đối
tượng thụ hưởng.
Hai là, cụ thể hóa các lĩnh vực ưu đãi đầu tư đối với văn hóa dân tộc; lĩnh
vực sản xuất, dịch vụ khác cần khuyến khích; lĩnh vực đào tạo, công tác sưu tầm
nghiên cứu bảo tồn các di sản văn hóa dân tộc; Có cơ chế hỗ trợ đối với các tư
21
nhân đã tham gia xã hội hóa các hoạt động văn hóa như các đoàn nghệ thuật tư
nhân, bảo tàng tư nhân; cơ chế thu hút sự đầu tư trong việc xây dựng các công
trình văn hóa, tu bổ, khai thác, sử dụng các di tích thắng cảnh... Có cơ chế ưu đãi
đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; khu
kinh tế đặc thù; lĩnh vực đầu tư văn hóa có điều kiện.
Ba là, có chính sách thuế, phí, lệ phí khuyến khích đầu tư: Thuế thu nhập
doanh nghiệp; thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; thuế nhập khẩu; phí,
lệ phí của các cơ sở ngoài công lập. Chính sách về vốn, tín dụng và bảo lãnh.
Chính sách khuyến khích và ưu đãi cho chuyên gia đầu ngành nước ngoài.
Doanh nghiệp hỗ trợ cho văn hóa được tính vào chi phí hợp lý của doanh nghiệp
khi xác định thuế thu nhập.
Bốn là, ưu đãi về sử dụng đất; giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng
mắc về đất đai, giải phóng mặt bằng để đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án; cho
phép các tổ chức, cá nhân đã được cấp quyền sử dụng đất lâu dài được cho nhà
đầu tư nước ngoài thuê lại đất trong thời hạn cấp quyền sử dụng đất và các ưu
đãi khác về xuất nhập cảnh, cung cấp điện nước, hoa hồng, chiết khấu.
22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. PGS, PTS Lê Như Hoa: Xã hội hoá hoạt động văn hoá. Nxb Văn hoá
Thông tin. Hà Nội – 1996
2. PGS, TS Đinh Xuân Dũng: Mấy cảm nhận về văn hoá. Nxb CTQG. Hà
Nội – 2004.
3. PGS, TS Phạm Duy Đức: Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 –
2020, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010.
4. Học viện Báo chí – Tuyên truyền: Giáo trình Quản lý hoạt động văn hóa
tư tưởng, Hà Nội, 2011.
5. Học viện Báo chí – Tuyên truyền: Giáo trình Lý luận văn hóa, Hà Nội,
2010.
6. Một số tài liệu, quyết định, văn bản của tỉnh Lào Cai và của thành phố
Lào Cai.
24