LỜI MỞ ĐẦU
Ngay từ khi ra đời và trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt
Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi công tác
tư tưởng là linh hồn của mọi công tác khác. Tư tưởng đúng đắn, thông suốt,
lập trường tư tưởng vững vàng là yếu tố quan trọng hàng đầu tạo nên sự đoàn
kết, thống nhất trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân.
Bước vào thời kỳ đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác tư
tưởng đã bám sát cuộc sống, góp phần xác lập và phát triển quan điểm đổi
mới, khơi dậy và nhân lên sức sáng tạo, niềm tin của nhân dân, sức mạnh tổng
hợp mới của toàn dân tộc, đưa đất nước vượt qua những khó khăn thử thách,
tạo tiền đề cho thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và
hiện đại hóa đất nước. Công tác tư tưởng đã thể hiện được vai trò to lớn của
mình trong việc chống lại những tư tưởng, luận điệu sai trái, phản động, góp
phần tạo nên sự ổn định chính trị - xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ
nghĩa và những giá trị, truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong bối cảnh toàn
cầu hóa.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn trong lãnh đạo công tác tư
tưởng mà Đảng ta đạt được thì một số tiêu cực về tư tưởng đang biểu hiện
phức tạp và nghiêm trọng hơn, tiềm ẩn các nguy cơ trực tiếp gây mất ổn định
chính trị. Tình trạng suy thóa về chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống trong
bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa được khắc phục có
hiệu quả đã làm giảm sức chiến đấu của Đảng và lòng tin của nhân dân với
Đảng và Nhà nước. Trong Đảng đã phát sinh một số vấn đề tư tưởng, tâm
trạng bức xúc đáng lo ngại, ảnh hưởng đến tính đồng thuận trong xã hội ta.
Đặc biệt trong những năm gần đây, tình trạng xung đột sắc tộc,
tôn giáo diễn ra nhiều nơi trên thế giới. Bên cạnh đó, các nước lớn dùng thủ
đoạn “diễn biến hòa bình” hoặc can thiệp trực tiếp nhằm thay đổi chế độ
chính trị ở một số quốc gia, dân tộc. Thực trạng đó là mối đe dọa nghiêm
trọng đến an ninh chính trị, độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gai của các
thế giới hiện thực. “Vũ khí của phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự
phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể đánh đổ bằng lực lượng
vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm
nhập vào quần chúng”.[1]
Công tác tư tưởng và công tác lý luận là hai mặt của một vấn đề, không
thể tác rời. Khi nó về mối quan hệ này Lênin cho rằng, công tác tư tưởng và
công tác lý luận không có mục đích tự thân, vừa phải phục vụ cho công tác tư
tưởng vừa tiến hành trên cơ sở công tác lý luận. Công tác tư tưởng và công
tác lý luận, có mối quan hệ biện chứng nên không thể coi nhẹ mặt nào.
Bất kỳ một đảng cách mạng nào cũng phải coi cả hai công tác đó là
nhiệm vụ quan trọng, cần phải tiến hành đồng thời. Lênin nói “Không thể là
một nhà lãnh đạo tư tưởng mà lại khôngblàm công tác lý luận nói trên, cũng
như không thể là một nhà lãnh đạo tư tưởng mà lại không hướng công tác đó
theo những nhu cầu của sự nghiệp, mà lại khômh tuiyên truyền trong công
nhân những kết luận của lý luận đó”[2]
C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng : các hệ thống lý luận tạo thành “ bối
cảnh xã hội” và “cơ sở lý luận” của các phong trào thực tiễn. Vai trò định
hướng, dẫn đường của công tác lý luận cũng được V.I. Lê Nin nêu rõ: “Chỉ
Đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm
tròn vai trò chiến sĩ tiền phong”[3]
Với vai trò như vậy công tác tư tưởng, lý luận có ảnh hưởng rất lớn đến
sự thành bại của cách mạng, như C.Mac và Ph.Ăngghen khảng định: “…mỗi
sai lầm phạm phải, mỗi thất bại đều là hậu quả không thể tách khỏi của những
luận điểm lý luận, không chính xác của cương lĩnh ban đầu”[4]
Công tác tư tưởng, lý luận không chỉ đóng vai trò định hướng dẫn
đường, là cơ sở của các hoạt động thực tiễn, mà còn là sức mạnh góp phần cải
biến hiện thực. Lênin chỉ rõ: Tư tưởng trở thành sức mạnh khi nào tư tư tưởng
thâm nhập vào quần chúng.
Người luôn nhấn mạnh, lý luận phải gắn với thực tiễn, học đi đôi với hành,
nói đi đôi với làm, xây đi đôi với chống… Tuyệt đối tránh tình trạng “lý luận
suông”, “nói suông” trong cán bộ, đảng viên, nhất là trong các cán bộ lãnh
đạo.
Như vậy “công tác tư tưởng là hoạt động có mục đích của một gai
cấp , một chính đảng nhằm hình thành, phát triển, truyền bá hệ tư tưởng
trong quần chúng, thúc đẩy quần chúng hành động vì lợi ích của chủ thể tư
tưởng. Công tác tư tưởng dưới Chủ nghĩa Xã hội là hành động có mục đích
của Đảng cộng sản, nhằm hình thành, phát triển, truyền bá hệ tư tưởng Xã
hội Chủ nghĩa thành hệ tưởng chi phối, thống trị trong đời sống tinh thần xã
hội. Hình thành, phát triển, truyền bá cương lĩnh, đường lối, chính sách của
Đảng trong xã hội, cổ vũ, động viên mọi người hành động chủ động, tích cực,
sáng tạo vì lý tưởng, mục tiêu Xã hội Chủ nghĩa, đấu tranh chống lại những
luận điệu sai trái, phản động, bảo vệ Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ
CHí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, giữ gìn phát huy bản sắc dân
tộc”.[6]
II. Thực trạng công tác tư tưởng của Đảng.
1. Một số cán bộ, đảng viên suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng,
chính trị, đạo đức và lối sống.
Trong Đảng xuất hiện hiện tượng xa rời, phai nhạt lý tưởng cách
mạng, chủ nghĩa cá nhân và tư tưởng cơ hội, thực dụng có chiều hướng tăng.
Hiện tượng quan liêu, mất dân chủ gây bất bình trong nhân dân diễn ra nhiều
nơi, làm xáo trộn đời sống chính trị - xã hội nông thôn, điển hình là vụ Thái
Bình năm 1997. Theo kết quả điều tra thống kê vào năm 2006 – 2007, số
người được hỏi chó rằng nạn tham nhũng là vấn đề bức xúc nhất chiếm 89%,
và trong đó có 83% là cán bộ hưu trí, đảng viên.[7]
Sự suy thoái đạo đức trở thành mối lo của toàn xã hội, theo kết quả điều
tra vào năm 1997 có đến 43,07% ý kiến cho rằng sa sút, trong khi đó có
giành thắng lợi, là phương pháp “chuyển hóa hòa bình”, “biến đổi hòa bình”,
“cách mạng nhung”, “cách mạng phố”…Trong chiến lược này, hoạt động tư
tưởng – văn hóa được coi là “mũi đột phá”.
Ra sức xuyên tạc lịch sử, truyền bá các quan điểm sai trái, làm
rối loạn tư tưởng, truyền bá các quan điểm sai trái, làm khủng hoảng niềm tin
là những thủ đoạn của những kẻ thù địch. Chúng coi đây là là mũi nhọn chọc
sâu, tạo ra sự chống đối từ nội bộ xã hội ta để phá ta từ bên trong phá ra. Bọn
chúng thông qua các tổ chức phi chính phủ, các hình thức hợp tác về kinh tế,
văn hóa, giáo dục, khoa học…để thâm nhập, làm chuyển hóa tư tưởng,
chuyển hóa chính trị, mua chuộc cán bội, cài nội gián, móc nối những với
những người bất mãn, cơ hội chính trị, những người nắm được bí mật quốc
gia. Đưa học sinh, sinh viên nước ngoài vào Việt Nam học tập, nghiên cứu
với những mục đích đen tối.
Lợi dụng các hoạt động tôn giáo, dân tộc để can thiệp vào nội
bộ nước ta, lợi dụng các diễn đàn công khai để tuyên truyền “tự do”, “dân
chủ”, “dân quyền”, tuyên truyền những quan điểm cá nhân ích kỷ, lối sống
thực dụng, suy đồi, vu cáo Đảng ta vi phạm dân chủ, nhân quyền để tạo cớ
can thiệp vào nước ta. Cuối năm 2005, có 53 đài phát thanh và truyền hình,
370 tờ báo và tạp chí tiếng Việt tuyên truyền chống phá Việt Nam. Các thế
lực thù địch tung một số lượng lớn tài liệu, sách, báo, truyền đơn, băng đĩa có
nội dung phản động, đồi trị vào nước ta. Chúng lợi dụng những thư từ góp ý,
những cuộc thảo luận, những tranh luận trong nội bộ ta để xuyên tạc, cắt xén,
nhào nặn theo ý chúng rồi đưa lên Internet, tổ chức gặp gỡ, phỏng vấn, ve vãn
những đối tượng họ cho là có thể lôi kéo được, trịt để khai thác các thông tin
từ những phần tử cơ hội chống Đảng, chống chủ nghĩa xã hội.
Các tổ chức phản động người Việt sống lưu vong ở nước ngoài
tiếp tục sử dụng chiêu bài chống tham nhũng, đòi dân chủ, nhân quyền để
tuyên truyền, kích động chia rẽ nội bộ ta, tìm mọi cách câu kết, móc nối với
kém của Đảng và Nhà nước.
+ Kích động, chia rẽ nội bộ, tung ra luận điệu trong Đảng, trong
Trung ương, Bộ Chính tri, có phe này, phái kia, nội bộ mất dân chủ, mất đoàn
kết. Bịa đặt, xuyên tạc lịch sử, vu cáo, bôi nhọ cán bộ, kể cả cán bộ cao cấp
của Đảng, thậm chí bôi nhọ Bác Hồ…vv
3. Trong dư luận nổi lên một số tình hình về nội bộ của Đảng.
Sở dĩ xảy ra vấn đề nay là vì có một số vụ việc trong Đảng tuy
đã được Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị xem xét, xử lý và kết
luận, nhưng trong Đảng vẫn còn những ý kiến khác nhau. Do nhiều vấn đề
phức tạp, lại thiếu thông tin chính thức nên trong một số đơn, thư của cán bộ,
đảng viên góp ý, phê bình ra kiến nghị với Đảng có phần thiếu bình tĩnh, thiếu
chính xác, có trường hợp mang tính suy diễn. Một số đơn thư đưa lên mạng
đã bị bọn phản động lợi dụng khai thác thông tin để bôi nhọ Đảng, lợi dụng
để xuyên tạc, gieo rắc hoài nghi trong dư luận và đã kích sự lãnh đạo của
Đảng.
4. Tình hình tôn giáo, dân tộc và nội bộ nhân dân có nhiều phức
tạp.
Ở nước ta dù có sự nhất trí về chính trị và đồng thuận xã hội
ngày càng tăng, và đại bộ phận nhân dân đồng tình lên án, bác bỏ luận thuyết
“một dân tộc – một quốc gia”. Đồng thời tích cực đấu tranh làm thất bại âm
mưu thành lập cái gọi là “ Vương quốc Mông” ở Tây Bắc, Nhà nước “Đềga
độc lập” ở Tây Nguyên. Tuy nhiên, trước những thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân
tộc và tôn giáo phá hoại khối đoàn kết dân tộc các thế lực thù địch, một bộ
phận nhân dân các dân tộc thiểu số có trình độ nhận thức kém, bị kẻ thù lôi
kéo, dụ dỗ và biểu tình, gây bạo loạn, điển hình là cuộc bạo loạn chính trị ở
Tây Nguyên năm 2001 và 2004.
Cùng với những sai phạm, khuyết điểm của chính quyền các
cấp chậm sửa chữa giải quyết, đã làm phát sinh mâu thuẫn xã hội gây nên tình
chí, phát thanh, truyền hình, văn hóa…còn thiếu nhạy cảm chính trị, bộc lộ xu
hướng “thương mại hóa”, xa rời tôn chỉ, mục đích.
Tổ chức đấu tranh chống lại các luận điệu sai trái, vu cáo, xuyên
tạc, âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch còn thiếu
chủ động, kịp thời, sắc bén. Nhiều cấp ủy chưa quan tâm chỉ đạo, chưa giành
công sức, phương tiện và cán bộ thảo đáng cho cuộc đấu tranh ngày càng
quyết liệt trên mặt trận tư tưởng.
•
Nguyên nhân khách quan.
Các thế lực thù điịch tăng cường chiến tranh tâm lý, đẩy mạnh
các hoạt động “diễn biến hòa bình”, ra sức kích động các phần tử cơ hội chính
trị, bộ phận cực đoan trong một số tôn giáo, các phần tử chống đối trong một
số dân tộc thiểu số….tăng cường gây rối, phát tán tài liệu vu cáo Đảng ta vi
phạm quyền dân chủ, nhân quyền. Chúng ra sức tác động vào giới trí thức,
văn nghệ sĩ, thanh niên, sinh viên những tư tưởng phản động
Lợ dụng những diễn biến phức tạp ở một số nước trong khối
SNG như Grudia, Ucraina, Cưrơgưaxtan, các thế lực phản động ra sứuc tán
dương cuộc “cách mạng cam”, “cách mạng màu”, gieo rắc tâm lý hoang
mang, dao động trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân.
III. Những chủ trương của Đảng đối với công tác tư tưởng.
Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ : “Để tăng
cường sức chiến đấu và năng lực tổ chức thực tiễn của mình, Đảng phải đổi
mới về mọi mặt, đổi mới tư duy kinh tế, đổi mới tổ chức, đổi mới đội ngũ cán
bộ, đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác”[10]
Để đẩy mạnh công cuộc đổi mới, công tác tư tưởng phải đổi mới toàn
diện và đồng bộ. Đảng ta chỉ rõ, xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư
tưởng và tổ chức là điều kiện đảm bảo lãnh đạo, thực hiện thắng lợi Nghị
quyết VI của Đảng. Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác xây dựng
chủ phải đi đôi với tập trung, kỷ luật, pháp luật với ý thức trách nhiệm cao.
+ Kết hợp chủ nghĩa yêu nước với Chủ nghĩa quốc tế Vô sản và quốc tế
Xã hội chủ nghĩa, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại trong
điều kiện mới.
Trước sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu, cùng với những chuyển
biến phức tạp Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa VI (8 –
1989) ra Nghị quyết về một số vấn đề cấp bách về công tác tư tưởng trước
tình hình trong nuớc và quốc tế hiện nay. Nghị quyết chỉ ra những nguyên
nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng khó khăn ở các nước xã hội chủ nghĩa để rút
ra kinh nghiệm cho Đảng ta phòng và tránh những sai lầm trong lãnh đạo nói
chung, đặc biệt là trong công tác tư tưởng. Nghị quyết đã khẳng định những
thành tựu của công tác tư tưởng, như đã coi trọng hơn việc quán triệt quan
điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước, đi sát thực tế hơn, phát hiện những
nhân tố tích cực, giúp các cơ sở khắc phục khó khăn, kịp thời uốn nắn những
nhận thức không đúng và những biểu hiện dao động về con đường xã hội chủ
nghĩa.
Tháng 3.1990, trước sự khủng hoảng nghiêm trọng ở các nước xã
hội chủ nghĩa, Hội nghị lần 8 Ban Chấp hành Trung ương, khóa VII ra Nghị
quyết về “tình hình các nước xã hội chủ nghãi, sự phá hoại của Chủ nghĩa đế
quốc và nhiệm vụ cấp bách của Đảng ta. Nghị quyết Hội nghị đã phân tích
những nguyên nhân của cuộc khủng hoảng, trong đó nguyên nhân trực tiếp là
“xã rời hoặc từu bỏ những tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” và sự
phá hoại của chủ nghĩa đế quốc là một nguyên nhân trực tiếp. Khắc phục tư
tưởng bi quan, thất vọng, mất lòng tin vào chủ nghĩa xã hội. Khẳng định cuộc
đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ
nghĩa xã hội trước mắt tuy gặp nhiều khó khăn song chắc chắn sẽ tiếp tục phát
triển.
Sự sụp đổ chế độ xã hôi chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu
Nhằm tăng cường sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, tạo ra sự nhất trí
trong nhân dân, góp phần giữ vững trận địa trên mặt trận tư tưởng và bảo vệ,
phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, ngày 18-
2-1995, Bộ Chính trị ra nghị quyết sô 09- NQ/TW về một số định hướng lớn
trong công tác tư tưởng hiện nay. Nghị quyết nêu sáu định hướng về công tác
tư tưởng:
+ Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng,
kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta và cách mạng Việt Nam.
+ Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn duy nhất
đúng đắn
+ Chế độ ta là chế độ do nhân dân lao động làm chủ, Nhà nước ta là
nhà nước của nhân dân, do nhân dân vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng
cộng sản.
+ Công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước là nhiệm vụ trung tâm
trong thời kỳ quá độ.
+ Kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường,
có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tăng trưởng
kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội.
+ Phát triển nền văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
kết hợp với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
Sau 10 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, sự lãnh đạo của Đảng đã tạo
ra bước phát triển mới trong công tác tư tưưởng, góp phần bổ sung và phát
triển đường lối đổi mới, cụ thể hóa một bước cương lĩnh chính trị. Tại Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6.1996) khẳng định “con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn”[11]
Những định hướng tư tưởng của Đảng ta tạo ra sự ổn định chính trị, tư
tưởng. Đó là cơ sở quan trọng cho sự phát triển bền vững khi đất nước bước
vào thừoi kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại
tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của Đảng, quán triệt đường lối đổi mới,
phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân và từ Trung ương đến
cơ sở. Đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương pháp công tác tư tưởng, đẩy
mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, góp phần làm rõ hơn nữa đường
đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đồng thời triển khai liên tục và sâu rộng
công tác tuyên truyền giáo dục nhằm phát huy chủ nghĩa yêu nước, phẩm chất
đạo đức cách mạng, năng lực sáng tạo…”[12]
Đứng trước công cuộc đổi mới đất nước của toàn Đảng, toàn quân, toàn
dân ta đã có nhiều thắng lợi to lớn. Tuy nhiên, nội dung giáo dục tư tưởng Hồ
Chí Minh chưa thống nhất và chưa đạt được chiều sâu tư tưởng, lý luận. Cán
bộ, đảng viên chưa gắn việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh với giải quyết
những vấn đề thực tiễn. Việc đấu tranh bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh chưa
chủ động, kịp thời và sắc bén. Trước thực trạng đó, ngày 27-3-2003, Ban Bí
thư Trung ương Đảng ra chỉ thị số 23-CT/TW Về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên
truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới.
Nhằm đẩy mạnh công tác tư tưởng trong thời kỳ mới, ngày 1-8-2007,
Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 16- NQ/TW về công tác tư tưởng, lý luận
và báo chí trước yêu cầu mới. Nghị quyết khẳng định những thành tựu, đồng
thời chỉ ra những hạn chế trong công tác tư tưởng, lý luận trong những năm
đầu thế kỷ XXI. Trung ương Đảng xác định mục tiêu của công tác tư tưửong,
lý luận và báo chí là: Tích cực góp phần vào việc thực hiện thắng lợi Nghị
quyết Đại hội X của Đảng, củng cố tăng cường sự thống nhất về tư tưởng,
chính trị trong Đảng, sự đồng thuận về chính trị và tinh thần trong nhân dân,
giữ vững và mở rộng trận địa tư tưởng của Đảng, bảo vệ và phát triển chủ
nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
IV. Một số thành tựu và hạn chế
1. Thành tựu
Sau hơn 20 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, công tác tư tưởng đã góp
vào chủ nghĩa Mác – Lênin, và chủ nghĩa xã hội, nhưng Đảng ta vẫn sáng
suốt, nhận thức đúng tầm quan trọng của lý luận Mác – Lênin đối với cách
mạng Việt Nam.
Khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ,
chứng tỏ lý luận về một mô hình chủ nghĩa xã hội chung cho tất cả các dân
tộc không còn phù hợp. Trước tình hình đó, Đảng xác định mô hình chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam với sáu đặc trưng cơ bản. Đại hội VII chỉ rõ mô hình
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam sẽ phát triển Chủ nghĩa Mác – Lênin trong điều
kiện mới. Công tác nghiên cứu lý luận đã góp phần làm sáng tỏ con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Công tác tư tưởng đã trực tiếp góp phần hình thành và phát triển
đường lối đổi mới, nổ lực tìm tòi tổng kết thực tiễn, những sáng kiến của nhân
dân để xây dựng những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, củng
cố niềm tin cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân vào lý tưởng độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Công tác tư tưởng đã góp phần quan trọng trong
việc phát triển đường lối, xây dựng những luận cứ khoa học cho những quyết
sách lớn của Đảng và Nhà nước, hình thành những quan điểm của Đảng về
chủ ngghiax xã hội. Khẳng định chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng.
Công tác tư tưởng đã khơi dậy sức sáng tạo của nhân dân, tạo
nên sức mạnh tổng hợp, đưa đất nước vượt qua những thử thách, tạo lập nên
những thành tựu to lớn và rất quan trọng trên các mặt chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội, quốc phòng, đối ngoại. Tích cực vào việc tuyên truyền chủ trương
đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật nhà nước, đưa hệ tư tưởng cách
mạng và khoa học vào giai cấp công nhân và nhân dân lao động, giúp họ
những hiểu biết về quy luật phát triển của xã hội và những tri thức khoa học,
về đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, giúp cho cán bộ,
đảng viên gạt bỏ những tàn dư tư tưởng xấu còn rơi rớt lại cùng những tư
hội chủ nghĩa ở Việt Nam cùng mưu đồ làm “nhạt” Đảng “phai” Đoàn và
“thay máu” Cộng sản của các thế lực thù địch.
Để có được những thành tựu trên là do nhiều nguyên nhân,
nhưng chủ yếu là do nổ lực, phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân
ta. Mặc dù tình hình trong nước và quốc tế diễn biến phức tạp, xong Đảng đã
tỏ rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ sáng
tạo, đề ra đường lối đổi mói đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đất nước. Vì thế,
đã huy động được sức mạnh của cả dân tộc tham gia xây dựng đất nước. Đại
bộ phận cán bộ cán bộ, đảng viên đã phát huy được vai trò tiền phong gương
mẫu, tổ chức động viên nhân dân thực hiện có kết quả các chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước. Đó là kết quả hoạt động năng động, sáng tạo của
các Đảng bộ và nhân dân.
2. Hạn chế
Bên cạnh những thành tựu to lơn mà Đảng ta đạt được trong hơn 20
năm qua, thì vẫn còn những tồn tại và nhiều yếu kém bất cập. Đáng quan tâm
đó là: lý luận chưa đi sâu, đi sát vào cuộc sống, công tác nghiên cứu lý luận
chưa ra khỏi tình trạng lạc hậu, chưa đáp ứng được những đòi hỏi của thực
tiễn đổi mới. Số lượng các bài viết, các công trình nghiên cứu khoa học nhiều,
nhưng tính ứng dụng và hàm lượng khoa học không cao, tác phẩm dịch ra
nhiều hơn là công trình nghiên cứu trong nước. Điều này chứng tỏ trình độ
khoa học lý luận và khoa học xã hội - nhân văn còn hạn chế, tiềm lực nghiên
cứu lý luận còn mỏng, nhiều phê phán nhận xét cái cũ, cái hạn chế là điều rất
cần thiết xong những kiến nghị và giải pháp thì còn quá ít. Chính vậy công tác
nghiên cứu chưa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới.
Trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận nhiều cơ quan khoa học chưa
đặt đúng tầm quan trọng của vấn đề, còn dung hòa, né tránh, ngại đấu tranh.
Sự tham gia của đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên và chưa đông
đảo.
một số vấn đề trong chủ trương và đường lối của Đảng, chưa thường xuyên
làm tốt công tác chính trị, chưa phê phán mạnh và kiên quyết trong đấu tranh
chống chủ nghĩa cá nhân. Tư tưởng có hội, thực dụng, khuynh hướng “thương
mại hóa”, chạy theo những thị hiếu tầm thường. Công tác tư tưởng chưa gắn
với công tác tổ chức, xây dựng cơ chế, chính sách đào tạo cán bộ.
Thụ động trong việc đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái của thế
lực thù địch, mất cảnh giác trước âm mưu “diễn biến hòa bình” của kẻ thù.
Bên cạnh đó, trong nước một số phần tử xấu lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc
để gây rối, hay phát tán những tài liệu mật của Đảng và Nhà nước cho các
phần tử cơ hội và các thế lực phản động nước ngoài. Điều hết sức nguy hiểm
hiện nay là “tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,
lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên” rất nghiêm trọng. Tình
trạng lãng phí quan liêu phổ biến, điều đó đã và đang gây bất bình trong dư
luận xã hội, làm suy giảm uy tín của Đảng.
Công tác tư tưởng chậm đổi mới, tuyên truyền giáo dục một chiều từ
trên xuống, thiếu sự đối thoại, tranh luận, thảo luận đi đến thống nhất. Chưa
làm cho cán bộ, đảng viên cũng như nhân dân hiểu và nhận thức rõ những
thành tựu to lớn, đáng tự hào của đất nước, chưa tạo được sức mạnh xã hội cổ
vũ cho những xu hướng tích cực, chưa tạo ra những phong trào hành động
tích cực…Một số phương tiện thông tin đại chúng thiếu nhạy bén chính trị,
chưa làm tốt chức năng là vũ khí sắc bén của công tác tư tưởng văn hóa, có
biểu hiện xa rời sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý Nhà nước.
Trong hoạt động văn hóa - nghệ thuật, xuất hiện xu hướng hạ thấp chức
năng giáo dục, từng bước xa rời các chức năng cao quý của văn học, nghệ
thuật cách mạng. Công tác nghiên cứu lý luận còn lạc hậu, chưa đáp ứng
những đòi hỏi của thực tiễn đang vận động hết sức mau lẹ và phức tạp, công
tác lãnh đạo, quản lý các hoạt động lý luận chưa đáp ứng được đòi hỏi của
thực tiễn.
Công tác tư tưởng chỉ thực sự phát huy vai trò, tác dụng khi biết khơi
dậy trách nhiệm pháp lý, đạo đức của mọi công dân.Vì thế, không ngừng xây
dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật, cũng như chuẩn mực đạo đức xã hội là
rất quan trọng và có tác dụng hổ trợ mạnh mẽ cho công tác tư tưởng.
Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân phát triển, công bằng và
dân chủ hóa xã hội từng bước được thực hiện rộng rãi là cơ sở vật chất và tinh
thần vững chắc đối với việc củng cố niềm tin, nâng cao tính tích cực chính trị
của Đảng, phát huy vai trò tác dụng của công tác tư tưởng.
Đấu tranh tư tưởng, lý luận , nội dung và phương pháp đấu tranh mang
tính gáin tiếp, tăng cường lập luận logic, khoa học chặt chẽ và khơi gợi cùng
những dẫn chứng thực tế cụ thể, sát thực, để đêm lại kết quả cao hơn so với
đấu tranh mang tính trực diện.
2. Một số giải pháp.
Nâng cao hơn nữa nhận thức cán bộ, đảng viên về vị trí vai trò của
công tác tư tưởng đối với công cuộc đổi mới hiện nay, nâng cao trách nhiệm
của mỗi cán bộ, đảng viên trong công tác tư tưởng như yêu cầu cầu Nghị
quyết Trung ương lần thứ 5 khóa X. Đây là vấn đề quyết định sự thành công
của công tác tư tưởng trong tình hình mới. Tuy nhiên vấn đề tư tưởng chỉ có
thể được giải quyết trong một xã hội hài hòa, công bằng về các lợi ích vật chất
lẫn tinh thần, tiến bộ và dân chủ.
Nâng cao vai trò, trách nhiệm của các tổ chức cơ sở Đảng chính quyền,
đoàn thể trong công tác tư tưởng đối với nhân dân nói chung và các thành
viên đoàn thể nói riêng. Bên cạnh đó cần định kỳ mở các lớp bồi dưỡng ngắn
hạn nhằm nâng cao trìng độ, năng lực của đội ngũ làm công tác tư tưởng ở
các cấp.
Công tác tư tưởng cần tập trung giải quyết những thắc mắc, bức xúc
nhất của người dân như: tăng giá, tham nhũng, vi phạm pháp luật, sự sa sút
đạo đức của cán bộ, công chức.