Phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam trong giai đoạn hiện nay K20-TCDN-Đ1-Nhóm 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
TIỂU LUẬN
MÔN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
Đề tài:
PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI
PHIẾU VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
Khoá: 20
Lớp: TCDN Đêm 1
Nhóm: 02
TP.Hồ Chí Minh, tháng 02 năm 2012
Phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam trong giai đoạn hiện nay K20-TCDN-Đ1-Nhóm 2
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I. LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ TRÁI PHIẾU VÀ THỊ TRƯỜNG TRÁI
PHIẾU 1
1.1. Thịtrườngtráiphiếu 1
1.1.1. Kháiniệmvềtráiphiếu 1
1.1.2. Sựkhácbiệtgiữatráiphiếuvàcổphiếu 1
1.1.3. Phânloạitráiphiếu 1
a. Căncứvàochủthểpháthành 1
b. Căncứtheotínhchấtchuyểnnhượng 3
1.1.3. Thịtrườngtráiphiếu 3
a. Phânloạithịtrườngtráiphiếu 3
b. Vaitròcủathịtrườngtráiphiếu 4
1.2. Địnhmứctínnhiệmđốivớithịtrườngtráiphiếu 7
1.2.1. Kháiniệmđịnhmứctínnhiệm 7
chúng ta cần phải chuẩn bị tốt các nguồn lực, một trong những nguồn lực đóng vai
trò quan trọng đó là vốn. Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang tăng trưởng
mạnh, nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển là rất lớn. Việc huy động vốn trong và
ngoài nước trong thời gian qua đã đạt những kết quả khả quan. Tuy nhiên, việc huy
động vốn trong nước vẫn chưa thật sự phát triển mạnh, đặc biệt là vốn dài hạn.
Hơn lúc nào hết, nhu cầu vốn đặt ra cho Chính phủ một sự quan tâm đặc biệt
để phát triển. Phát triển thị trường vốn Việt Nam, trong đó thị trường chứng khoán
đóng vai trò chủ đạo, đây là kênh dẫn vốn nhanh để phát triển nền kinh tế đất nước.
Tính đến nay, thị trường chứng khoán Việt Nam đã hoạt động được hơn
mười năm, đã có những bước phát triển cả về quy mô và chất lượng hàng hóa, tiến
tới phù hợp với cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh các hoạt
động mua bán giao dịch cổ phiếu sôi động thì thị trường trái phiếu vẫn chưa thật sự
thu hút được các nhà đầu tư quan tâm. So với thị trường cổ phiếu đã có những phát
triển vượt bậc thì thị trường trái phiếu vẫn còn đang bỏ ngỏ.
Phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam trở thành kênh huy động vốn nhanh
và hiệu quả, giải quyết các nhu cầu vốn cho các dự án đầu tư và bù đắp thâm hụt
ngân sách của Chính phủ, đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ cho quá trình sản xuất và
tái sản xuất mở rộng của các doanh nghiệp cũng như tạo thêm hàng hoá cho thị
trường và nhà đầu tư. Muốn vậy, cần phải phân tích tìm hiểu nguyên nhân kém
phát triển và đưa ra các giải pháp phát triển thị trường trái phiếu – một thị trường
hết sức tiềm năng hiện nay.
Xuất phát từ những nguyên nhân trên, nhóm đã chọn nghiên cứu đề tài:
“PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM TRONG GIAI
ĐOẠN HIỆN NAY ”
Trong phạm vi một bài tiểu luận, với sự hạn chế về thời gian cũng như kiến
thức của nhóm nghiên cứu chắc chắn đề tài nghiên cứu sẽ có những thiếu sót. Vì
Phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam trong giai đoạn hiện nay K20-TCDN-Đ1-Nhóm 2
vậy nhóm nghiên cứu rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu của thầy để
đề tài được hoàn thiện hơn.
Phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam trong giai đoạn hiện nay K20-TCDN-Đ1-Nhóm 2
Cổ phiếu được thanh
toán sau.
Quyền kiểm soát và
biểu quyết
Trái chủ không có quyền Cổ đông có quyền kiểm
soát và tham gia biểu
quyết trong doanh
nghiệp.
Giải thể Trái chủ được ưu tiên thanh
toán trước.
Cổ đông được phân chia
tài sản còn lại theo tỷ lệ
cổ phần nắm giữ.
1.1.3. Phân loại trái phiếu
a. Căn cứ vào chủ thể phát hành
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn Trang 1
Phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam trong giai đoạn hiện nay K20-TCDN-Đ1-Nhóm 2
Trái phiếu được chia thành hai loại chính: trái phiếu Chính phủ (TPCP), trái
phiếu Chính quyền địa phương (TPCQĐP) và trái phiếu doanh nghiệp (TPDN).
Trái phiếu chính phủ và trái phiếu chính quyền địa phương
Là chứng khoán nợ do Chính phủ hoặc Chính quyền địa phương phát hành
nhằm mục đích bù đắp thiếu hụt ngân sách và tài trợ các dự án xây dựng các cơ sở
hạ tầng, công trình phúc lợi công cộng trung ương và địa phương. Khoản nợ này
được Chính phủ dùng ngân sách quốc gia để thanh toán. Xuất phát từ nhu cầu chi
tiêu của Chính phủ hay Chính quyền địa phương, có thể phát hành trái phiếu: ngắn
hạn, trung hạn hay dài hạn. Có các loại trái phiếu tiêu biểu:
- Trái phiếu kho bạc: là trái phiếu nợ trung, dài hạn từ 5 đến 30 năm hay hơn
nữa, do kho bạc phát hành khi huy động vốn để bổ sung bù đắp ngân sách…
- Trái phiếu đô thị: là trái phiếu dài hạn từ 10 đến 30 năm do Chính phủ hay
Chính quyền địa phương phát hành nhằm huy động vốn tài trợ cho các dự án đầu
sang một số lượng nhất định cổ phiếu thường với chỉ số và thời gian chuyển đổi đã
được xác định. Đây là loại trái phiếu rất hấp dẫn và dễ bán hơn, thường được nhiều
công ty cổ phần áp dụng.
- Trái phiếu thu nhập (income bonds): là loại trái phiếu mà lợi tức được trả
tùy thuộc vào lợi nhuận của công ty và không cao hơn lãi suất ghi trên trái phiếu.
Đây là loại chứng khoán lai tạp giữa trái phiếu và cổ phiếu thường, nó có phần ưu
tiên về lợi nhuận hơn cổ phiếu có nghĩa là trái chủ nhận được lãi trước khi cổ đông
nhận cổ tức.
- Trái phiếu lãi suất chiết khấu (discount bonds): là loại trái phiếu được trả
lãi ngay khi phát hành, được khấu trừ vào vốn mua trái phiếu.
- Trái phiếu lãi suất thả nổi (floating rate bonds): là loại trái phiếu có lãi
suất được điều chỉnh theo từng thời không kỳ cho phù hợp với lãi suất trên thị
trường (lãi suất tín dụng) hoặc bị chi phối bởi giá, chẳng hạn như chỉ số bán lẻ.
Đây là loại trái phiếu được bảo hiểm, chống lại được phần nào lạm phát và sự gia
tăng của lãi suất tín dụng ngân hàng. Như vậy, công ty phát hành và nhưng người
đầu tư có thể được bảo vệ phần nào trước rủi ro lãi suất.
- Trái phiếu có thể thu hồi (callable bonds): là trái phiếu có quy định điều
khoản cho phép công ty mua lại trái phiếu trước khi đến hạn, thường theo giá “gia
tăng để giảm bớt nợ”.
b. Căn cứ theo tính chất chuyển nhượng
Trái phiếu vô danh
Trái phiếu vô danh là loại trái phiếu không ghi tên người chủ trái phiếu cả trên
trái phiếu và cả trên sổ người phát hành. Người cầm giữ trái phiếu là người sở hữu
trái phiếu.
Trái phiếu ghi danh
Trái phiếu ghi danh là loại trái phiếu có ghi tên và địa chỉ người sở hữu cả
trên trái phiếu và sổ người phát hành.
1.1.3. Thị trường trái phiếu
Thị trường trái phiếu là 1 bộ phận của thị trường vốn dài hạn, thực hiện cơ
chế chuyển vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát hành, qua đó thực hiện chức
hụt. Chính phủ rất cần nguồn tài chính để giải quyết nhu cầu vốn cho các dự án đầu
tư và bù đắp thiếu hụt ngân sách quốc gia. Tài trợ bằng cách in tiền rất dễ triển
khai nhưng thường để lại hậu quả khó lường cả trước mắt lẫn lâu dài, cả cho mọi
thành phần kinh tế, dân cư và Chính phủ. Vì vậy Chính phủ phải huy động vốn
thông qua việc phát hành trái phiếu. Tùy theo mục đích sử dụng, Chính phủ có thể
phát hành trái phiếu nội tệ hay ngoại tệ và với các kỳ hạn khác nhau.
Thị trường TPCP phát triển giúp Chính phủ thực hiện chính sách
tiền tệ.
Trên thị trường vốn, trái phiếu là một hàng hóa quan trọng, đặc biệt là TPCP với
đặc tính ít rủi ro nhất đã trở thành hàng hóa chủ đạo trên thị trường, góp phần hình
thành lãi suất trên thị trường.
Trái phiếu do Chính phủ phát hành thu hút một khối lượng vốn tiền mặt
trong lưu thông từ các tầng lớp dân cư, tổ chức kinh tế và định chế tài chính trung
gian. Vốn này được đưa vào sử dụng cho nhu cầu đầu tư phát triển, tạo ra của cải
hàng hóa cho xã hội. Nhờ vậy, mà cân đối tiền hàng được điều chỉnh tích cực, tăng
tốc độ vòng quay vốn, giảm áp lực cầu tiền mặt của nền kinh tế, ổn định môi
trường tiền tệ, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính trong
nước.
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn Trang 4
Phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam trong giai đoạn hiện nay K20-TCDN-Đ1-Nhóm 2
Ngân hàng trung ương (NHTƯ) theo sự ủy quyền của Bộ Tài chính thường
phát hành loại trái phiếu ngắn hạn để thực hiện nghiệp vụ thị trường mở. Khi
NHTƯ cần rút bớt khối lượng tiền tệ trong lưu thông về thì NHTƯ bán tín phiếu
ra, ngược lại khi cần thiết phải đưa tiền vào lưu thông thì NHTƯ mua tín phiếu về.
Mục đích góp phần thực hiện chính sách tài chính quốc gia khắc phục tình hình
lạm phát, bảo đảm được khối lượng tiền tệ trong lưu thông một cách hợp lý.
Thị trường trái phiếu phát triển làm cho thị trường vốn hoàn thiện
và đa dạng hơn.
Thị trường trái phiếu có quy mô và độ sâu để hỗ trợ tốt hơn nhu cầu vốn
đầu tư dài hạn trong nền kinh tế, góp phần tạo ra một cấu trúc thị trường vững chắc
đều có những thế mạnh riêng, tùy theo tình hình cụ thể của nền kinh tế và của
doanh nghiệp, để từ đó doanh nghiệp đưa ra quyết định phương thức tài trợ tối ưu
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn Trang 5
Phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam trong giai đoạn hiện nay K20-TCDN-Đ1-Nhóm 2
nhất. Tuy nhiên, các doanh nghiệp ở Việt Nam thường huy động bằng cách vay
ngân hàng hoặc phát hành cổ phiếu hơn là phát hành trái phiếu. Phát hành trái
phiếu với các ưu điểm:
- Thứ nhất, phát hành trái phiếu đảm bảo cho doanh nghiệp được sử dụng
một nguồn vốn ổn định và dài hạn, trong khi vay ngân hàng thường là ngắn hạn
hơn. Mặc dù trong một số dự án đặc biệt, ngân hàng thương mại cũng có thể cho
doanh nghiệp vay với thời hạn dài hơn, nhưng với các dự án lớn ngân hàng lại bị
giới hạn đầu tư. Cụ thể, khi doanh nghiệp tài trợ vốn bằng phát hành trái phiếu
không bị hạn chế về quy mô miễn là doanh nghiệp có phương án sử dụng số vốn
huy động một cách hợp lý, có tính khả thi và có khả năng hoàn trả lãi và gốc cho
những người đi vay. Trái lại, phương thức vay ngân hàng, số vốn tối đa doanh
nghiệp được vay lại phụ thuộc vào vốn tự có của ngân hàng cho vay, nếu số vốn
doanh nghiệp cần huy động quá lớn, việc cho vay phải được tiến hành qua phương
thức đồng tài trợ phức tạp hơn nhiều. Mặt khác, doanh nghiệp phát hành trái phiếu
còn có ưu điểm về thời hạn vay hơn các khoản vay ngân hàng, các doanh nghiệp
hoàn toàn tự do trong việc xác định thời hạn vay. Nếu các doanh nghiệp chú tâm
đến kênh huy động vốn này thì sẽ có lợi thế lớn cho các doanh nghiệp trong nước
đủ sức cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài trong tương lai.
- Thứ hai, trong trường hợp doanh nghiệp cần vốn nhưng ngại phát hành cổ
phiếu rộng rãi vì sợ phát hành thêm cổ phiếu sẽ làm pha loãng quyền sở hữu trong
doanh nghiệp, hoặc doanh nghiệp có dự án tốt, nhưng không muốn phát hành cổ
phiếu, vì không muốn lợi nhuận của mình bị chia đều cho các nhà đầu tư khi phải
trả cổ tức cao theo hiệu quả kinh doanh… thì phát hành trái phiếu là một giải pháp
tối ưu. Vì thế, doanh nghiệp không sợ bị thao túng mà lợi tức chia sẻ cũng chỉ hạn
chế trong phạm vi lãi suất trái phiếu khi phát hành. Ngoài ra, trái phiếu là công cụ
huy động vốn có thời hạn nên trách nhiệm của doanh nghiệp đối với trái chủ sẽ kết
Thị trường trái phiếu góp phần làm đa dạng hoá các sản phẩm tài chính,
cung cấp cho các nhà đầu tư ngày càng nhiều lựa chọn để đa dạng hóa danh mục
đầu tư phù hợp với những khẩu vị rủi ro khác nhau. TPCP với độ an toàn cao
nhưng lãi suất không hấp dẫn bằng TPDN. Bên cạnh đó, đầu tư vào cổ phiếu sẽ
đem lại cho nhà đầu tư tỷ suất lợi nhuận cao hơn tương ứng với mức rủi ro cao
hơn. Thị trường trái phiếu với các loại trái phiếu và kỳ hạn khác nhau tạo thêm cho
nhà đầu tư lựa chọn phương án đầu tư phù hợp.
Đối với nhà đầu tư, trái phiếu có tính ổn định và chứa đựng ít rủi ro hơn cổ
phiếu. Trái phiếu luôn có một thời hạn nhất định và khi đáo hạn trái chủ được nhận
lại vốn góp ban đầu của mình. Thu nhập chủ yếu của trái phiếu là tiền lãi, đây là
khoản thu cố định. Khi đầu tư vào TPDN, trái chủ nhận tiền lãi không phụ thuộc
vào tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phát hành, đặc điểm này
không giống với cổ đông chỉ nhận được cổ tức khi doanh nghiệp kinh doanh có lãi.
Thêm một đặc điểm nữa, nếu công ty bị giải thể hoặc phá sản thì trái chủ được ưu
tiên trả nợ trước các cổ đông. Vì vậy đây là dạng đầu tư phù hợp với các nhà đầu
tư có khẩu vị đầu tư không thích mạo hiểm.
1.2. Định mức tín nhiệm đối với thị trường trái phiếu
1.2.1 Khái niệm định mức tín nhiệm
Định mức tín nhiệm (ĐMTN) là đánh giá về khả năng thực hiện thanh toán
đúng hạn một nghĩa vụ tài chính của một tổ chức phát hành các công cụ nợ.
ĐMTN là gồm cả đánh giá định tính và định lượng về sức mạnh tín dụng của tổ
chức phát hành. Tổ chức phát hành có thể là các doanh nghiệp, chính quyền địa
phương và quốc gia trong trường hợp phát hành nợ của chính phủ. ĐMTN đối với
các công cụ thị trường trái phiếu và thị trường tiền tệ được thực hiện phổ biến ở
các thị trường tài chính phát triển.
Định mức tín nhiệm gồm cả đánh giá định tính và định lượng, đây là hai tiêu
chí cơ bản của việc đánh giá ĐMTN. Bao gồm các yếu tố về: tình hình và triển
vọng phát triển kinh tế đất nước, các yếu tố rủi ro vĩ mô, chính sách của nhà nước
có ảnh hưởng đến ngành và đến công ty; đặc điểm của (các) ngành kinh tế mà công
ty đang tham gia, triển vọng phát triển của ngành trong nền kinh tế quốc dân, tác
thuật chuyên nghiệp, đủ nguồn lực tài chính, tiếp cận các thông tin tài chính tin cậy
về người phát hành, và các thủ tục hoạt động nội bộ đưa đến công tác định mức
nhất quán và tin cậy.
- Một nguyên tắc quan trọng khác đối với hoạt động của các tổ chức ĐMTN
là đảm bảo tính bảo mật thông tin. Để cung cấp một phương pháp định mức tín
nhiệm chính xác đối với các rủi ro tín dụng, các tổ chức ĐMTN thường yêu cầu
các thông tin chi tiết, đặc biệt là các thông tin về tình hình hoạt động và tài chính
của tổ chức phát hành. Thông thường, những thông tin đầu vào đòi hỏi đối với việc
định mức tín nhiệm là thông tin nội bộ, ở mức chi tiết và toàn diện hơn các thông
tin công bố công khai; do đó tính bảo mật là tối quan trọng.
1.2.3. Sự cần thiết cho việc xây dựng hệ thống ĐMTN trong nước
Trên thế giới, hoạt động ĐMTN xuất hiện từ rất lâu với sự ra đời của công ty
ĐMTN đầu tiên là Moody’s và đến nay đã trở thành công ty ĐMTN lớn nhất thế
giới, có mặt ở trên 100 quốc gia. Ngoài ra, còn phải kể đến những công ty như
Standard & Poor, Moody’s, Fitch… đang là những cái tên quen thuộc trong ngành
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn Trang 8
Phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam trong giai đoạn hiện nay K20-TCDN-Đ1-Nhóm 2
ĐMTN. Ngày nay, hầu hết ở các quốc gia có thị trường tài chính phát triển đều tồn
tại ít nhất một tổ chức định mức tín nhiệm. Việc ĐMTN đối với các chứng khoán
nợ là một hoạt động không thể thiếu được trên thị trường vốn nói chung và thị
trường trái phiếu nói riêng.
Thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn non trẻ, trong đó thị trường trái
phiếu chủ yếu là TPCP. Để tạo cơ chế khuyến khích cho TTCK nói chung và
TTTP nói riêng phát triển thì sự tồn tại và phát triển của các tổ chức ĐMTN là điều
kiện cần thiết. Việc hình thành và phát triển các tổ chức ĐMTN trong nước mang
lại những lợi ích cho thị trường vốn nói chung và thị trường trái phiếu nói riêng:
- ĐMTN như một chứng chỉ ISO về tình trạng tài chính, sẽ giúp cho nhà
phát hành tìm kiếm tài trợ từ nhiều nhà đầu tư hơn. Tổ chức ĐMTN trong nước
đóng góp một cách tích cực và to lớn vào việc huy động nguồn lực một cách hiệu
quả cho các tổ chức phát hành. Một kết quả xếp hạng tín nhiệm tốt sẽ chứng tỏ vị
Phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam trong giai đoạn hiện nay K20-TCDN-Đ1-Nhóm 2
là doanh nghiệp vừa và nhỏ, việc thuê các tổ chức xếp hạng tín nhiệm từ nước
ngoài sẽ rất tốn kém vì mức phí rất cao. Trong khi Việt Nam hoàn toàn chưa có
một tổ chức ĐMTN chuyên nghiệp, có uy tín. Do vậy, phải có tổ chức ĐMTN tầm
quốc gia là yêu cầu cấp thiết.
Mặc dù các tổ chức ĐMTN quốc tế chuyên nghiệp hơn, các dịch vụ do tổ
chức ĐMTN quốc tế cung cấp có chất lượng cao nhưng tổ chức ĐMTN trong nước
cũng có những lợi thế nhất định. Trên thực tế, các tổ chức ĐMTN trong nước có
thể có kinh nghiệm hơn về các điều kiện trong nước, do vậy các tổ chức ĐMTN
trong nước có thể có những phương pháp xác định rủi ro tín dụng phù hợp hơn các
tổ chức ĐMTN quốc tế. Bên cạnh đó, nếu được thành lập thì các tổ chức ĐMTN
trong nước có sẽ có khả năng cung cấp các dịch vụ với quy mô nhỏ, nhất là trong
điều kiện các doanh nghiệp ở Việt Nam hầu hết với quy mô vừa và nhỏ, các doanh
nghiệp này thường không đủ khả năng thuê các tổ chức ĐMTN quốc tế. Việc phát
triển tổ chức ĐMTN trong nước sẽ tạo điều kiện cho thị trường trái phiếu doanh
nghiệp phát triển.
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn Trang 10
Phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam trong giai đoạn hiện nay K20-TCDN-Đ1-Nhóm 2
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM
2.1. Cơ sở pháp lý cho quá trình phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam
Lâu nay, nguồn vốn vay hoạt động kinh doanh của DN vẫn dựa vào kênh tín
dụng ngân hàng là chính và một phần nhỏ từ phát hành cổ phiếu. Song nguồn vốn
của các tổ chức tín dụng không phải vô hạn, thị trường cổ phiếu lại đang gặp khó
khăn, huy động vốn bằng trái phiếu sẽ là một sự lựa chọn cần thiết.
Với cơ chế lãi suất thả nổi từ đầu năm 2011, đến nay, lãi suất cho vay của
NHTM đã leo lên trên 20%. Với mức này, khó doanh nghiệp nào có lãi bù đắp
được chi phí vay. Ngòai ra hệ thống nguồn vốn ngân hàng Việt Nam khó có khả
năng cung ứng nguồn vốn có kỳ hạn dài. Ước đoán thời điểm hiện nay, cơ cấu
nguồn vốn trung và dài ở khu vực ngân hàng chỉ chưa tới 15% tổng nguồn. Các
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn Trang 11
Phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam trong giai đoạn hiện nay K20-TCDN-Đ1-Nhóm 2
phủ, nhu cầu nắm giữ đa dạng các sản phẩm đầu tư của nhà đầu tư trên thị trường
vốn ngày càng cao; các NHTM và công ty chứng khoán cung cấp các dịch vụ trung
gian tài chính giúp phân phối trái phiếu của DN đến tay nhà đầu tư một cách hiệu
quả; sự tham gia tích cực của VBMA và các công ty tư vấn luật và công ty định
hạng tín nhiệm đang góp phần tích cực vào sự phát triển đúng hướng giúp DN tiếp
cận vốn hiệu quả thông qua phát hành trái phiếu.
Việc phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp lớn, hoạt động hiệu quả trên
thị trường thời gian qua như HUD, Vinaconex, Sông Đà, Vincom… đã thu hút sự
quan tâm rất lớn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Điều này chứng tỏ nhu
cầu nắm giữ các loại trái phiếu có chất lượng của nhà đầu tư là rất lớn.
Bên cạnh đó, các trung gian tài chính (ngân hàng thương mại và các công ty
chứng khoán) ngày càng phát triển về số lượng cũng như chất lượng dịch vụ cung
ứng, qua đó đã giúp doanh nghiệp tối thiểu hóa chi phí huy động vốn và tạo thêm
kênh phân phối hiệu quả trái phiếu doanh nghiệp đến các nhà đầu tư .
BIDV trong những năm vừa qua luôn là ngân hàng trong nước tiên phong
trên thị trường trái phiếu, cung cấp đầy đủ các dịch vụ về phát hành trái phiếu
chuyên nghiệp cho doanh nghiệp như: tư vấn thu xếp phát hành, bảo lãnh phát
hành, bảo lãnh thanh toán, đại lý đăng ký lưu ký và thanh toán…
Ngoài ra, sự tham gia tích cực của Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam,
các công ty tư vấn luật, kiểm toán và công ty định hạng tín nhiệm quốc tế… đang
góp phần vào sự phát triển đúng hướng của thị trường, tạo cơ hội cho các doanh
nghiệp tiếp cận thị trường trái phiếu một cách hiệu quả
Việc huy động vốn bằng phát hành trái phiếu được xem là phương thức
mang lại nhiều lợi ích như huy động vốn từ các thành phần kinh tế, hạn chế sự phụ
thuộc vào nguồn vốn cấp phát, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, xã
hội hóa việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. Mặt khác, việc phát hành trái phiếu
cũng cung cấp cho thị trường và các nhà đầu tư một công cụ tài chính, giúp đa
dạng hóa danh mục đầu tư và giảm thiểu rủi ro.
(LHG) phát hành 200 tỷ đồng trái phiếu (mệnh giá 1 tỷ đồng) để huy động vốn cho
dự án khu dân cư Long Hậu; CTCP Vincom (VIC) phát hành 1.000 tỷ đồngtrái
phiếu DN, với kỳ hạn trái phiếu là 5 năm
Cùng với phát hành trái phiếu chính phủ khá thành công (khoảng 60 nghìn
tỷ đồng), tình hình phát hành TPDN 6 tháng đầu năm 2010 cho thấy thị trường trái
phiếu ở VN đã khởi sắc, niềm tin NĐT vào DN tăng lên. Các DN có thêm nguồn
vốn trung - dài hạn với lãi suất ổn định và cơ cấu NĐT đa dạng hơn. NH giảm một
phần sức ép cung cấp vốn trung và dài hạn
Năm 2010, khi kinh tế bắt đầu hồi phục, để tài trợ cho các dự án và tăng quy
mô vốn hoạt động trong bối cảnh hệ thống NH không có đủ vốn trung - dài hạn để
đáp ứng, nhiều DN có phương án phát hành trái phiếu và đã thành công.
Tập đoàn Sông Đà là DN phát hành TPDN bằng tiền VND đầu tiên trên thị
trường vốn nợ VN trong năm 2010, với tổng giá trị 1.500 tỷ đồng(tương đương 79
triệu USD); Tập đoàn Điện lực Việt Nam phát hành 2.000 tỷ đồng trái phiếu; TCty
cổ phần XNK và Xây dựng VN (VCG) phát hành 2.000 tỉ đồng; CTCP Long Hậu
(LHG) phát hành 200 tỷ đồng trái phiếu (mệnh giá 1 tỉ đồng) để huy động vốn cho
dự án khu dân cư Long Hậu; CTCP Vincom (VIC) phát hành 1.000 tỷ đồngtrái
phiếu DN, với kỳ hạn trái phiếu là 5 năm
Nhằm tạo hành lang pháp lý cho thị trường trái phiếu, trong năm 2011,
Chính phủ đã ban hành Nghị định 01/2011/NĐ-CP ngày 5/1/2011 về “Phát hành
trái phiếu chính phủ, trái phiếu được chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền
địa phương”. Qua đó, hoạt động phát hành trái phiếu trong năm 2011 đã có sự tăng
trưởng khá ấn tượng so với các năm trước. Có khá nhiều doanh nghiệp công bố
phát hành trái phiếu thành công trong tháng 5/2011 đã thu hút sự quan tâm của
nhiều giới doanh nghiệp như : Công ty CP Chứng khoán TP.Hồ Chí Minh (HCM)
huy động được 50 tỷ đồng (mệnh giá 1 tỷ đồng/trái phiếu) cho một tổ chức nước
ngoài, Công ty CP Chứng khoán Sacombank (SBS) huy động được 185 tỷ đồng
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn Trang 13
Phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam trong giai đoạn hiện nay K20-TCDN-Đ1-Nhóm 2
sau khi chào bán thành công 185.000 trái phiếu chuyển đổi mệnh giá 1 triệu
2.2.2. Phân tích thị trường trái phiếu Việt Nam
a. Trái phiếu chính phủ và tín phiếu kho bạc:
Có gần 400 loại tín phiếu kho bạc và trái phiếu chính phủ khác nhau hiện
đang được mua bán trên trung tâm giao dịch chứng khoán. Lượng trái phiếu chính
phủ phát hành hàng năm tăng mạnh qua các năm, góp phần bù đắp thâm hụt ngân
sách và tài trợ cho các dự án phúc lợi và đầu tư phát triển của chính phủ.
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn Trang 14
Phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam trong giai đoạn hiện nay K20-TCDN-Đ1-Nhóm 2
Đvt: tỷ đồng
Kỳ hạn
(năm)
Năm
2005
Năm
2006
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
Năm
2010
Năm
2011
3 tháng
đầu
năm
2012
2
Bảng 2. Tỷ lệ trái phiếu CP trúng thầu qua các năm (Nguồn: www.bond.hnx.vn)
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn Trang 15
Phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam trong giai đoạn hiện nay K20-TCDN-Đ1-Nhóm 2
Tuy lượng trái phếu chính phủ phát hành tăng mạnh nhưng khối lượng trúng
thầu còn thấp so với khối lượng đấu thầu. Tỷ lệ trúng thầu trung bình giai đoạn
2005 đến nay là 49%. Trong đó, năm chính phủ phát hành trái phiếu có tỷ lệ thành
công cao nhất là 2006 với 84% (gọi thầu 9.300 tỷ và trúng thầu 7.815 tỷ đồng). Tỷ
lệ đấu thầu thành công trái phiếu chính phủ còn thấp và không ổn định qua các
năm cho thấy trái phiếu chính phủ chưa thật sự hấp dẫn với các nhà đầu tư.
Hình 1. Tỷ lệ trúng thầu trái phiếu chính phủ qua các năm
Bên cạnh việc phát hành trái phiếu trong nước, Chính phủ Việt Nam còn tiến
hành phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế. Năm 2005 là năm đầu tiên Chính
phủ Việt Nam phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế và đã rất thành công. Năm
2005, Chính phủ Việt Nam phát hành trái phiếu tại New York đã thành công rất
mỹ mãn khi các nhà đầu tư quốc tế đặt mua với số tiền lên tới 4,5 tỷ USD, cao gấp
6 lần trị giá chào là 750 triệu USD với lãi suất 7,125%/năm. Đến năm 2007, Việt
Nam phát hành 1 tỷ USD trái phiếu Chính phủ ra thị trường quốc tế với kỳ hạn mở
rộng 10-30 năm cũng rất thành công. Số tiền thu được dành cho Tập đoàn Dầu khí
Việt Nam, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, Tổng công ty Sông Đà và Tổng công
ty Lắp máy Việt Nam vay lại để thực hiện đầu tư các dự án Nhà máy lọc dầu Dung
Quất, Dự án mua tàu vận tải, Dự án Thủy điện Xê Ca Mản 3 và Nhà máy thủy điện
Hủa Na. Là một nền kinh tế mới phát triển nên VN có mức tăng trưởng kinh tế
mạnh, luôn ở mức trên dưới 10%. Mức tăng trưởng này lớn gấp nhiều lần so với
nhiều cường quốc kinh tế. Bên cạnh đó mức lãi suất khá hấp dẫn ở con số trên dưới
7% khiến trái phiếu quốc tế do VN phát hành luôn là mối quan tâm đầu tư của
nhiều tổ chức quốc tế.
Trái phiếu quốc tế do Việt Nam phát hành luôn thành công rất rực rỡ song
TPCP bằng ngoại tệ phát hành trong những đợt gần đây, đặc biệt trong năm 2009
đều không thu được kết quả như mong muốn. Đợt phát hành thứ nhất vào tháng
3/2009, 3 lần đấu thầu chỉ huy động được 230,11 triệu USD trong tổng số 300 triệu
phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, là trái phiếu đô thị TP.HCM. Phát
hành trái phiếu đô thị là một trong những kênh huy động vốn hiệu quả của Thành
phố Hồ Chí Minh trong các năm qua nhằm cân đối nguồn vốn cho nhu cầu đầu tư
phát triển hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội của thành phố. Năm 2003 - 2007,
thành phố đã huy động được 10.000 tỷ đồng trái phiếu đáp ứng nhu cầu phát triển
của Thành phố.
Riêng năm 2009 là năm đầu tiên thành phố phát hành trái phiếu đô thị cho
các công trình có nguồn thu. Cụ thể là cho dự án Khu đô thị mới Thủ Thiêm với kế
hoạch phát hành là 14.000 tỷ đồng. Tính đến cuối tháng 11/2009, khối lượng trái
phiếu phát hành là 1.540 tỷ đồng, đạt 38.5% so với kế hoạch, với loại kỳ hạn 3
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn Trang 17
Phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam trong giai đoạn hiện nay K20-TCDN-Đ1-Nhóm 2
năm theo phương thức bảo lãnh. Khối lượng trái phiếu còn lại theo kế hoạch sẽ
được tiếp tục triển khai phát hành vào thời điểm thích hợp trong năm 2010.
Việc phát hành thành công trái phiếu đô thị TP.HCM không những mở ra
một kênh huy động vốn mới, có những ưu điểm là có thể có thời hạn dài và ổn
định, mức chi phí vốn hợp lý, góp phần đáng kể trong việc huy động vốn cho đầu
tư phát triển hạ tầng đô thị, đồng thời khắc phục một số hạn chế trong việc huy
động tín dụng từ các ngân hàng của chính quyền địa phương mà còn có ý nghĩa
lớn về mặt thực hiện chủ trương thí điểm phát hành trái phiếu của chính quyền địa
phương theo cơ chế "tự vay, tự trả" ở nước ta, mở ra triển vọng nâng cao tính tự
chủ trong quản lý ngân sách đầu tư của chính quyền địa phương.
c. Trái phiếu doanh nghiệp:
Dường như các DN Việt Nam khi nào “bí” tiền thì mới nghĩ đến phát hành
trái phiếu. Điều này làm trái phiếu của DN không có tên trên bản đồ tài chính và
không có chỉ số tham chiếu. Sự thiếu hụt này còn cản trở lớn đối với việc phát triển
thị trường trái phiếu doanh nghiệp.
Nhìn vào cơ cấu vốn, dễ dàng nhận thấy các doanh nghiệp Việt Nam đang
dựa vào hai nguồn chính là tín dụng ngân hàng và phát hành cổ phiếu. Dường như
các doanh nghiệp mới chỉ quan tâm đến thị trường trái phiếu trong vài năm gần
mua cổ phiếu của Nhà máy xi măng Cẩm Phả với mức giá ưu đãi. Trong một thị
trường tài chính phát triển. trái phiếu thường có thời hạn từ trên 20 năm cho đến 30
năm.
Lãi suất trái phiếu doanh nghiệp đều là trả lãi sau, với phương thức trả lãi
hàng năm (coupon), lãi suất cố định. Riêng Tổng công ty Sông Đà và EVN phát
hành trái phiếu có lãi suất thả nổi, được điều chỉnh căn cứ vào lãi suất Trái phiếu
Chính Phủ hoặc lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Về cơ bản. lãi suất
trái phiếu doanh nghiệp đều cao hơn lãi suất đấu thấu trái phiếu chính phủ.
So sánh với lãi vay ngân hàng, có thể thấy lãi suất này vẫn thấp hơn so với
lãi suất vay ngân hàng ( trung bình 10%-12%/năm đối với dự án vay trung dài
hạn).
Ngoài lãi vay, các doanh nghiệp phát hành còn phải trả một khoản phí hay
hoa hồng cho các dịch vụ tư vấn bảo lãnh phát hành và bảo hành thanh toán, gọi là
chi phí phát hành. Chi phí này có thể tăng lên rất cao, phụ thuộc vào khả năng trả
nợ của doanh nghiệp phát hành, nó có thể làm tăng lãi suất thực lên tới 12% hay
13% hàng năm. Khả năng trả nợ càng thấp, chi phí phát hành càng cao. Đây cũng
là một trong những rào cản chính đối với việc phát hành trái phiếu của các doanh
nghiệp nhỏ và vừa ở Việt nam hiện nay.
So sánh với lãi suất trái phiếu chính phủ cùng kỳ hạn, có thể thấy, lãi suất
trái phiếu của các doanh nghiệp phát hành có xu hướng biến động cùng chiều.
Khoảng chênh lệch giữa lãi suất trái phiếu chính phủ và lãi suất doanh nghiệp
khoảng 2.5% đến 3%, phản ánh mức chênh lệch rủi ro của hai trái phiếu này. Trên
thực tế, còn tùy thuộc vào từng thời điểm phát hành và kỳ hạn của từng loại trái
phiếu, mà mức chênh lệch này có thực sự phán ánh rủi ro của hai loại trái phiếu
này hay không. Ví dụ, năm 200, khi Vinashin phát hành trái phiếu. kỳ hạn 5 năm.
lúc đó. lãi suất trái phiếu Chính phủ cùng kỳ hạn là 8.5%, nhưng lãi suất trái phiếu
của Vinashin “không được phép” cao hơn lãi suất trái phiếu Chính phủ
(8.4%/năm). Để tăng tính hấp dẫn của trái phiếu, Vinashin đã thay đổi hình thức
trả lãi thành trả lãi trước, dẫn đến lãi suất thực của trái phiếu xấp xỉ 8.9%.
Bên cạnh huy động vốn từ phát hành trái phiếu trong nước, các doanh
lợi suất TPCP giảm dần. tuy vậy kết thúc năm vẫn đứng ở mức cao. hơn thế nữa xu
thế tăng có dấu hiệu quay trở lại. Nhìn chung. diễn biến lợi suất TPCP của cả năm
2011 là: "tăng mạnh đầu năm – lập đỉnh và giảm từ giữa năm – tăng nhẹ trở lại vào
cuối năm”. Kết thúc năm 2011. tình hình vẫn chưa có thay đổi khi lợi suất ngắn
hạn vẫn cao hơn dài hạn. Đây là chỉ báo rõ ràng chứng tỏ thị trường vẫn chưa quay
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn Trang 20