Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức trong giai đoạn hiện nay - Pdf 35

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

LÊ CÔNG LƯƠNG

ĐỔI MỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
ĐỐI VỚI CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG TRÍ THỨC
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước
Mã số : 62 31 02 03

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS. TS Phan Hữu Tích
2. TS Hoàng Mạnh Đoàn

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu,
kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn
đầy đủ theo quy định.
Tác giả luận án


MỤC LỤC
1

MỞ ĐẦU

và phương thức
Chương 3:

CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG TRÍ THỨC VÀ ĐỔI MỚI SỰ
LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG
TRÍ THỨC - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM

60

3.1. Thực trạng đội ngũ trí thức và công tác vận động trí thức ở nước
ta hiện nay
3.2.

Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức thực trạng, nguyên nhân, kinh nghiệm

Chương 4:

60
79

NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG, YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP
CHỦ YẾU TIẾP TỤC ĐỔI MỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
ĐỐI VỚI CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG TRÍ THỨC ĐẾN NĂM 2025

116

4.1. Những nhân tố tác động và yêu cầu tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo
của Đảng đối với công tác vận động trí thức

116

Chủ nghĩa xã hội

GD&ĐT

Giáo dục và Đào tạo

KH&CN

Khoa học và công nghệ

KH&KT

Khoa học và kỹ thuật

KTTT

Kinh tế tri thức

KT-XH

Kinh tế - xã hội

LHH

Liên Hiệp hội

MTTQ

Mặt trận Tổ quốc


khoa học, kỹ thuật, trực tiếp tham gia vào việc nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân
lực cho đất nước. Đánh giá về xu thế phát triển này, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XI đã khẳng định: “Kinh tế tri thức phát triển mạnh, do đó, con người và tri thức
càng trở thành nhân tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia” [50, tr.97]. Nối tiếp
truyền thống của dân tộc, vận dụng những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về trí thức, trong sự nghiệp đổi mới Đảng Cộng sản Việt Nam
luôn quan tâm lãnh đạo công tác vận động đội ngũ trí thức. Đảng đã ban hành nhiều
nghị quyết, chỉ thị để lãnh đạo công tác vận động trí thức, điển hình là Nghị quyết
số 27-NQ/TW, về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HÐH
(2008). Quan điểm, chủ trương đúng đắn của Đảng chậm được cụ thể hóa vào tình


2
hình thực tế, chưa tạo ra được những chính sách đồng bộ đủ mạnh để gắn kết khoa
học công nghệ với giáo dục đào tạo và sản xuất kinh doanh, phục vụ sự phát triển
của đời sống xã hội. Đảng bộ, chính quyền các cấp có lúc, có nơi chưa thấy hết vai
trò, vị trí của trí thức trong sự phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH), đặc biệt trong
phát triển khoa học, công nghệ, giáo dục, văn hóa. Trong công tác quy hoạch đào
tạo, bồi dưỡng sử dụng, đãi ngộ đối với trí thức còn thiếu tính chiến lược, chưa
được xem như là một bộ phận cấu thành của chiến lược con người, chiến lược phát
triển KT - XH nên chưa tạo ra được một đội ngũ trí thức có cơ cấu đồng bộ, hợp lý
đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH. Sự quan tâm chỉ đạo đầu tư xây dựng các tổ
chức của trí thức chưa đúng mức, cả về tổ chức cũng như kinh phí hoạt động…
Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, các thế lực thù địch với chiến lược “diễn
biến hòa bình” đang tăng cường các hoạt động chống phá cách mạng nước ta, phá
hoại khối đoàn kết toàn dân, chia rẽ dân với Đảng, đặc biệt chúng tập trung lôi kéo,
lợi dụng trí thức nhằm hạ thấp, làm lu mờ vai trò lãnh đạo của Đảng. Tình hình đó
đòi hỏi chúng ta phải tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác
dân vận nói chung và công tác vận động trí thức nói riêng. Ngày 03/6/2013, Hội
nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, đã ra Nghị quyết số 25NQ/TW về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận

- Xác định mục tiêu, yêu cầu và đề xuất các giải pháp tiếp tục đổi mới sự
lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức đến năm 2025.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác vận động trí thức trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức là một vấn
đề rất rộng và phức tạp. Luận án chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận về
trí thức và công tác vận động trí thức; nghiên cứu thực trạng đổi mới nội dung,
phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức từ năm 1986 đến
nay, trong đó tập trung chủ yếu vào giai đoạn 2000 đến 2013. Luận án cũng đề cập
đến những nhân tố tác động và những yêu cầu đặt ra đối với đổi mới sự lãnh đạo
của Đảng đối với công tác vận động trí thức, từ đó đề ra những giải pháp để tiếp tục
đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức trong giai đoạn từ
nay đến năm 2025.


4
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam
về trí thức và công tác vận động trí thức.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -Lênin đồng thời sử dụng
các phương pháp nghiên cứu lịch sử - logic, phân tích - tổng hợp, thống kê, so sánh, điều
tra, khảo sát thực tiễn, phương pháp chuyên gia và phương pháp điều tra xã hội học.
5. Những đóng góp mới về mặt khoa học
- Nghiên cứu và đưa ra khái niệm về trí thức và công tác vận động trí thức;

1.1.1. Các công trình nghiên cứu trong nước
Trí thức và công tác vận động trí thức có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự
phát triển của đất nước. Chính vì vậy, ở nước ta đã có nhiều công trình khoa học
nghiên cứu về đội ngũ trí thức và công tác vận động trí thức với nhiều khía cạnh,
quy mô khác nhau, trong đó có một số công trình khoa học đã đề cập đến các nội
dung mà luận án cần nghiên cứu nghiên cứu tham khảo và kế thừa.
1.1.1.1. Sách
- Trí thức Việt Nam thực tiễn và triển vọng, (1995) do Phạm Tất Dong (chủ
biên) [22]: Đây là một công trình nghiên cứu khá công phu, sâu sắc về đội ngũ trí
thức Việt Nam. Từ lý luận đến thực tiễn, tác giả đã đi sâu phân tích quan niệm hiện
đại về “trí thức”, trên cơ sở đó nghiên cứu đội ngũ trí thức Việt Nam qua các thời
kỳ lịch sử của thế kỷ XX. Từ việc nghiên cứu thực trạng về số lượng, cơ cấu… đến
tâm trạng, nguyện vọng của đội ngũ trí thức, tác giả đã đưa ra một số khuyến nghị
nhằm phát triển đội ngũ trí thức nước ta hiện nay.
- Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, do Phạm Tất Dong (chủ biên) [24]: Trên cơ sở nghiên cứu khái quát
tình hình CNH, HĐH đất nước và một số yêu cầu đặt ra về nguồn lực trí tuệ; tác giả
đã khẳng định vai trò của đội ngũ trí thức trong CNH, HĐH, trong phát triển lực
lượng sản xuất, trong sáng tạo văn hóa, phát huy bản sắc dân tộc, trong lãnh đạo,
quản lý và điều hành sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Với thái độ tôn trọng trí thức,
tác giả khẳng định, trong nền kinh tế thị trường, “sản phẩm lao động của trí thức là
một loại hàng hóa đặc biệt, nó có thể mất đi hoặc bị chiếm đoạt mà không ai biết,
song nó cũng có thể được lưu thông và trả giá xứng đáng như bao thứ hàng quý
hiếm khác” [24, tr.330]. Đây chính là khởi nguồn cho sự đổi mới tư duy khi xem


6
tiền lương và các loại phụ cấp của trí thức như những chính sách đầu tư có lợi nhất
để mua lại “chất xám” - một loại sản phẩm đặc biệt trong nền kinh tế thị trường.
- Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước (1995) của

rộng của khái niệm trí thức, tác giả đã chỉ rõ: Trí thức là những người không chỉ có
trình độ học vấn cao mà điều quan trọng nhất là họ thực sự lao động bằng trí tuệ có
tính sáng tạo, có những cống hiến nhất định, hữu ích cho xã hội và phải được xã hội
kiểm định chất lượng thông qua hoạt động thực tiễn. Đây là sự đổi mới tư duy về trí
thức, từ chỗ chỉ coi trọng bằng cấp đến chỗ thừa nhận và đòi hỏi năng lực lao động
thực tế thông qua sự đánh giá khách quan của xã hội.
- Cộng đồng và đội ngũ trí thức người Việt Nam ở một số nước Đông Âu
những năm đầu thế kỷ XXI, do Nguyễn An Hà chủ biên [58]. Cuốn sách gồm ba
phần đã trình bày khái quát thực trạng, những nhân tố tác động và quan điểm chính
sách của Đảng và Nhà nước ta đối với cộng đồng người Việt và đội ngũ trí thức
người Việt ở một số nước Đông Âu những năm đầu thế kỷ XXI.
- Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, của Bùi Thị Ngọc
Lan [84]. Trong công trình này, trên cơ sở nghiên cứu, phân tích một cách khá công
phu về vị trí, vai trò và thực trạng nguồn lực trí tuệ của đất nước, tác giả đã tập
trung xây dựng hệ thống các giải pháp thiết thực, cấp bách nhằm phát huy có hiệu
quả nguồn lực này trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.
1.1.1.2. Luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ
- Động lực của trí thức trong lao động sáng tạo ở nước ta hiện nay, Luận án
phó tiến sĩ Triết học của Phan Thanh Khôi [81]. Luận án tập trung nghiên cứu
những vấn đề lý luận và thực tiễn lao động sáng tạo của đội ngũ trí thức, từ đó đề ra
phương hướng và giải pháp để phát huy tinh thần lao động sáng tạo của đội ngũ trí
thức trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của đất
nước nhiều vấn đề liên quan đến động lực của trí thức trong lao động sáng tạo cũng
có những biến đổi.
- Vai trò của trí thức thủ đô Hà Nội trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, Luận án tiến sĩ Triết học của Nguyễn Xuân Phương [124]. Luận
án đã phân tích thực trạng và vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức thủ đô Hà Nội
từ đó đưa ra được những nhiệm vụ và giải pháp để phát huy tiềm năng trí tuệ của
đội ngũ trí thức trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.


Dưới góc nhìn của lịch sử, tác giả đã phân tích rõ những thành công cùng như
những khuyết điểm, hạn chế của Đảng trong lãnh đạo xây dựng đội ngũ trí thức,


9
một lực lượng quan trong trong liên minh công - nông - trí. Trên cơ sở phân tích
nguyên nhân và rút ra những bài học kinh nghiệm, tác giả đã đưa ra những giải pháp
để phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng đối với trí thức nhằm phát huy cao nhất tiềm
năng trí tuệ của đội ngũ trí thức trong xây dựng và bảo vệ đất nước.
- Xây dựng đội ngũ tri thức tại Thành phố Hồ Chí Minh trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Luận án tiến sĩ Triết học của Trương Văn
Tuấn [140]. Luận án phân tích, làm rõ khái niệm, đặc điểm và vai trò của trí thức
đối với sự phát triển xã hội; quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về trí thức. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH;
Tính tất yếu của việc xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức ở Thành phố Hồ Chí
Minh trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Những thành tựu, hạn chế và
những yếu tố tác động đến trí thức và công tác xây dựng và phát triển đội ngũ trí
thức; Một số vấn đề đặt ra đối với việc xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức
Thành phố Hồ Chí Minh trong sự nghiệp CNH, HĐH. Luận án xác định mục tiêu,
phương hướng và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm xây dựng và phát triển đội
ngũ trí thức ở Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020.
- Đảng vận động trí thức trong đấu tranh giải phóng dân tộc từ năm 1930
đến năm 1945, Luận án tiến sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam của Đặng Thị
Minh Phượng [125]. Luận án đã đề cập đến quá trình chuyển biến, phát triển nhận
thức trong tư duy về vận động trí thức và một số kinh nghiệm có ý nghĩa lý luận,
thực tiễn và cũng là yếu tố tạo nên sự thành công của công tác vận động trí thức của
Đảng từ năm 1930 đến năm 1945. Luận án khẳng định: Đường lối cứu nước đúng
đắn của Đảng là nhân tố quyết định thành công của công tác vận động trí thức và
phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

góc độ khác nhau.
1.1.1.3. Đề tài khoa học
- Đề cương báo cáo tình hình đội ngũ trí thức và công tác trí thức của Đảng
của Nguyễn Đình Tứ [142] đã đánh giá một cách tổng quát tình hình đội ngũ trí
thức Việt Nam sau 10 năm đổi mới và trình bày những quan điểm của Đảng ta về trí
thức và những giải pháp để xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ mới.
- Đề tài khoa học cấp nhà nước “Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai
đoạn 2011 -2020”, Mã số KX.04/06-10, do Đàm Đức Vượng làm Chủ nhiệm [146].


11
Đề tài đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vị trí, vai trò, đặc điểm của đội ngũ trí
thức Việt Nam trong công cuộc đổi mới và trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước,
trong đó, có tham khảo kinh nghiệm xây dựng và sử dụng đội ngũ trí thức ở một số
nước phát triển; Đánh giá đúng thực trạng đội ngũ trí thức Việt Nam và chính sách
của Đảng và Nhà nước đối với đội ngũ trí thức qua hơn 20 năm đổi mới và hiện
nay; Dự báo xu hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam đến năm 2020. Đề xuất
mục tiêu, quan điểm, phương hướng, giải pháp cơ bản xây dựng đội ngũ trí thức
giai đoạn 2011-2020; Kiến nghị những nội dung cụ thể về xây dựng đội ngũ trí thức
Việt Nam đến năm 2020, phục vụ trực tiếp cho việc xây dựng chiến lược phát triển
KT - XH Việt Nam giai đoạn 2011-2020; chiến lược phát triển và trọng dụng nhân
tài quốc gia Việt Nam; trình Trung ương xem xét để bổ sung, phát triển Cương lĩnh
năm 1991 và dự thảo các văn kiện Đại hội XI của Đảng.
- Đề tài cấp bộ “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với trí thức
nước ta hiện nay” do Ngô Huy Tiếp làm Chủ nhiệm đề tài [134]. Nhóm tác giả làm
rõ những vấn đề lý luận về nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng; khái quát
được về thực trạng, mục tiêu, phương hướng và giải pháp đổi mới đối với đội ngũ
trí thức Việt Nam, từ đó làm rõ được một số vấn đề về đổi mới phương thức lãnh
đạo của Đảng đối với đội ngũ trí thức trong giai đoạn hiện nay.
- Đề tài khoa học cấp Nhà nước: “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng

tiếp tục khẳng định quan điểm của Đảng đối với trí thức, mong muốn trí thức phát
huy hơn nữa tinh thần yêu nước, thi đua lao động sáng tạo, góp phần xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc.
- Mấy vấn đề cần đổi mới tạo động lực và điều kiện để trí thức nước ta phát
huy tài năng trí tuệ (1995) và nhận thức về vấn đề trí thức [2,3] của Nguyễn Đức
Bách. Bài viết đã đề cập đến một số vấn đề lý luận về trí thức, sự cần thiết phải đổi
mới tư duy, tạo điều kiện để trí thức phát huy vai trò của mình trong quá trình CNH,
HĐH, hội nhập, phát triển kinh tế tri thức.
- Trí thức Việt Nam với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của Nguyễn
Văn Khánh [75]. Dưới góc độ sử học, tác giả đã phân tích những cống hiến đóng góp
to lớn của trí thức Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.
- Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa của Phùng Hữu Phú [123]. Trong bài viết tác giả đã đưa ra khái niệm chung về trí


13
thức, đánh giá tình hình đội ngũ trí thức nước ta và công tác xây dựng đội ngũ trí thức
của Đảng và Nhà nước ta. xác định mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ và các giải
pháp xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam ngang tầm với yêu cầu,
nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới của Trường Lưu [94]. Trong bài viết tác giả
đã đề cập đến vai trò vị trí của trí thức trong lịch sử nhân loại; Trí thức Việt Nam và sứ
mệnh của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;
Thực trạng và một số vấn đề đặt ra đối với đội ngũ trí thức nước ta hiện nay và đề ra
một số nhiệm vụ, giải pháp cơ bản xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam đáp ứng đòi hỏi
cấp thiết của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
- Phạm Tất Dong, Tác động của KTTT và sự phát triển đội ngũ trí thức Việt
Nam [25]. Dưới góc độ của một người nhiều năm làm công tác khoa giáo tác giả đã
thể hiện một tầm nhìn sâu sắc về những tác động, những thuận lợi, thời cơ và thách
thức của kinh tế trí thức, từ đó chỉ ra sự cấp thiết cần phải xây dựng và phát huy vai

ngày càng nhận thức sâu sắc vai trò, tầm quan trọng của phương thức lãnh đạo và
yêu cầu phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và hệ thống
chính trị về hệ thống những hình thức, biện pháp, cách thức lãnh đạo và đã mang lại
những thành tựu quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng, đồng
thời phát huy tốt hơn vai trò của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Tác giả
cũng chỉ rõ những thành tựu và hạn chế trong đổi mới phương thức lãnh đạo của
Đảng đối với Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, từ đó đề ra những giải
pháp để tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.
- Lưu Văn An, Đổi mới nội dung, phương thức cầm quyền của Đảng trong
điều kiện hiện nay [1]. Theo tác giả, trong mỗi giai đoạn cách mạng, năng lực cầm
quyền và nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng là vấn đề luôn mới bởi những
điều kiện cụ thể và nhân tố ảnh hưởng luôn có sự thay đổi. Nâng cao năng lực cầm
quyền của Đảng trong giai đoạn hiện nay là yêu cầu khách quan của sự nghiệp đổi
mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, là giải pháp quan trọng
củng cố vị trí cầm quyền của Đảng, khẳng định sức sống mãnh liệt của CNXH.
- Nhị Lê, Đổi mới và tiếp tục giải quyết những vấn đề đặt ra, không ngừng
hoàn thiện phương thức lãnh đạo trong điều kiện Đảng cầm quyền hiện nay [87].
Tác giả nhận định, thực tiễn phát triển phong phú và phức tạp về quy mô, tốc độ và
chiều sâu sau 70 năm cầm quyền, nhất là gần 30 năm của công cuộc đổi mới cấp


15
bách đòi hỏi phải không ngừng xây dựng, chỉnh đốn nhằm nâng cao năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu của Đảng ngang tầm nhiệm vụ. Một trong những nhiệm vụ
bảo đảm cho Đảng hoàn thành trọng trách đó là phải tiếp tục đổi mới, từng bước
hoàn thiện phương thức lãnh đạo phù hợp với sự vận động của thực tiễn xây dựng
chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện Đảng cầm quyền. Để thực hiện
thành công những quyết sách mới, nhiều nhiệm vụ rất nặng nề, Đảng phải Đổi mới
và hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng, bảo đảm vừa nâng cao vai trò lãnh
đạo của Đảng, vừa phát huy tính chủ động, sáng tạo, tinh thần trách nhiệm của Nhà

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH không chỉ là yêu cầu khách quan của tình hình thanh niên và yêu cầu
phát triển của đất nước, mà còn là yêu cầu chủ quan tự thân của Đảng với vai trò là
lực lượng lãnh đạo xã hội; góp phần quan trọng bảo đảm phát huy tốt nhất mọi
nguồn lực và trí tuệ cho việc bồi dưỡng, đào tạo, hình thành thế hệ thanh niên cách
mạng “vừa hồng, vừa chuyên” của Đảng, phục vụ tốt nhất sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu nước ngoài
1.1.2.1. Sách
- Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước,
do hai tác giả người Trung Quốc Thẩm Vinh Hoa - Ngô Quốc Diện (chủ biên) [72].
Đây là cuốn sách có ý nghĩa tham khảo đối với Việt Nam trong công cuộc đổi mới,
CNH, HĐH đất nước hiện nay. Nội dung cuốn sách là một công trình phân tích một
cách có hệ thống tư tưởng Đặng Tiểu Bình về trí thức, nhân tài, về tôn trọng và phát
triển nhân tài, về giáo dục - đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong
quá trình cải cách, mở cửa. Đặng Tiểu Bình là người đã kết hợp những nguyên lý cơ
bản của chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tiễn Trung Quốc, sáng lập ra lý luận xây
dựng mô hình CNXH đặc sắc Trung Quốc.
- Chiến lược quốc gia nhân tài biến đổi thế giới của Vương Huy Diệu [20].
Tác giả đã trình bày chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Trung
Quốc, phân tích những vấn đề cơ bản về nhân tài, đánh giá tình hình nhân tài Trung
Quốc hiện nay; đề xuất những chủ trương, nội dung, chính sách, đặc biệt là giáo dục
và đào tạo (GD&ĐT) phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước trong
thời kỳ phát triển mới.


17
- Trí thức, lịch sử và cách mạng - Bút ký về cuộc sống của nước Nga hiện
nay của Vladimir Alexanderovits Mau,do Ngân Xuyên dịch [143]. Trong tác phẩm
này tác giả khẳng định: Giới trí thức đã đưa lại cho đất nước một khối lượng cơ bản

- Thực trạng và xu hướng biến đổi của nhóm xã hội trí thức trong quá trình
phát triển kinh tế xã hội ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Luận án tiến sĩ Khoa
học Chính trị của In pon nhôt xa vông [73]. Luận án đã nghiên cứu thực trạng đội
ngũ trí thức nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, chỉ ra được những mặt mạnh.
Mặt tồn tại hạn chế và những đóng góp của nhóm trí thức trong quá trình phát triển
của đất nước Lào, đồng thời đưa ra những dự báo về xu hướng biến đổi và vai trò
của đội ngũ trí thức trong phát triển kinh tế xã hội.
- Đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo của hệ thống chính trị ở Cộng hòa Dân
chủ Nhân dân Lào hiện nay, Luận án tiến sĩ Khoa học Chính trị của Khăm Phăn
Vông Pha Chăn [76]. Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc
đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo trong hệ thống chính trị ở nước Cộng hòa Dân chủ
Nhân dân Lào, luận án xác định quan điểm, phương hướng và đề xuất giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo của hệ thống
chính trị đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân
Lào hiện nay.
1.1.2.3. Bài viết về xây dựng đội ngũ trí thức, đào tạo thu hút nhân tài
Ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển cao trên thế giới hiện nay như: Anh,
Pháp, Đức, Hoa Kì, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore... đều khẳng định
vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức, nguồn lực trí tuệ đối với sự phát triển KT XH và tiến bộ xã hội. Vì thế, khi xây dựng chiến lược phát triển khoa học - công
nghệ, giáo dục - đào tạo, các quốc gia này đều gắn với chiến lược xây dựng, phát
triển nguồn nhân lực tài năng. Nhận thức sâu sắc vai trò của giáo dục - đào tạo là
động lực, là chìa khóa cho sự phát triển KT - XH , các quốc gia nói trên đều rất
quan tâm việc đầu tư trọng điểm vào chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo gắn
với chiến lược trí thức, nhân tài. Sau đây là một số tài liệu nghiên cứu về xây dựng
đội ngũ trí thức, phát triển giáo dục, khoa học và công nghệ (KH&CN) qua các
chuyến đi nghiên cứu thực tế ở nước ngoài.


19
- “Về tình hình đội ngũ trí thức Trung Quốc và hoạt động của CAST” của


20
1.2. NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH LUẬN ÁN CẦN THAM
KHẢO VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.2.1. Những giá trị của các công trình luận án cần tham khảo
Từ tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước và quốc tế về trí thức với
nhiều công trình nghiên cứu công phu, cho thấy tính chất đặc biệt quan trọng của vấn
đề này đối với tiến trình phát triển của mỗi quốc gia. Giá trị khoa học của khối lượng
lớn những tài liệu, công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về trí thức và vận động
trí thức đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả luận án nghiên cứu về vấn đề đổi mới sự
lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức ở nước ta hiện nay. Tổng quan
các công trình nghiên cứu đó, tác giả nhận thấy các công trình nghiên cứu của các tác
giả trong nước và nước ngoài đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn về trí
thức và công tác trí thức của một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam, cụ thể là:
Một là, các công trình khoa học kể trên đã đề cập đến những vấn đề về lý
luận, vạch ra một hệ thống các phương pháp tiếp cận về về trí thức và công tác vận
động trí thức. Đáng chú ý là những quan điểm xem trí thức như một lực lượng xã
hội, một nhóm xã hội - nghề nghiệp được nhận diện và phân định bởi phương thức,
tính chất lao động trí óc, sáng tạo và phức tạp. Trong những năm gần đây, các công
trình nghiên cứu khi quan niệm về trí thức thường chú trọng nhấn mạnh tiêu chí
trách nhiệm và hiệu quả đóng góp cho sự phát triển xã hội từ từ đặc thù lao động trí
tuệ, lao động sáng tạo và tư duy phản biện xã hội của trí thức.
Hai là, các công trình khoa học nêu trên đã nghiên cứu về vai trò, đặc điểm,
tầm quan trọng của đội ngũ trí thức trong xây dựng và phát triển đất nước nói chung
và trong công cuộc đổi mới, CNH, HĐH đất nước.
Ba là, một số công trình khoa học đã nghiên cứu thực trạng đội ngũ trí thức
và vấn đề xây dựng, phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, đặc biệt là các ngành khoa
học, các chuyên gia đầu ngành trong giai đoạn hiện nay.
Bốn là, một số công trình khoa học cũng đã tập trung nghiên cứu công tác vận

có công trình nào trực tiếp đi sâu luận giải sâu về vấn đề đổi mới sự lãnh đạo của
Đảng đối với công tác vận động trí thức trong giai đoạn hiện nay.
Thông qua việc khai thác, kế thừa kết quả nghiên cứu từ các công trình khoa
học trong và ngoài nước có liên quan, với phương pháp tiếp cận liên ngành triết học
- chính trị - xã hội - xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước, luận án bổ sung nhận
thức, quan niệm có tính hệ thống về trí thức và công tác vận động trí thức, xây dựng
luận cứ khoa học đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status