phát triển giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ và kinh tế tri thức trong giai đoạn hiện nay - Pdf 16

Chuyên đề:
PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐÀO TẠO,
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ KINH TẾ TRI THỨC
I. PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LÀ QUỐC SÁCH HÀNG
ĐẦU
1. Vị trí, vai trò của giáo dục và đào tạo
Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội
nhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa quan trọng,
quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước. Giáo dục ngày càng có
vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ người Việt Nam
mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội.
Giáo dục và đào tạo góp phần tạo nên một thế hệ người lao động có tri thức,
có đạo đức, có bản lĩnh trung thực, có tư duy phê phán, sáng tạo, có kỹ năng sống,
kỹ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng nghề nghiệp để làm việc hiệu quả trong môi
trường toàn cầu hóa vừa hợp tác vừa cạnh tranh. Thông qua các hoạt động giáo
dục, các giá trị văn hóa tốt đẹp được phát triển ở người học, giúp người học hoàn
thiện tố chất cá nhân, phát triển hài hòa các mặt trí, đức, thể, mỹ. Nội dung, phương
pháp và môi trường giáo dục sẽ góp phần duy trì, bảo tồn và phát triển nền văn hóa
Việt Nam.
Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã xác định: Phát triển giáo dục và đào
tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nghị quyết Đại hội XI tiếp tục xác định: “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh
nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan
trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam. Phát triển
giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng
đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển”.
Tại Đại hội XI, Đảng ta tiếp tục xác định con người, nhân tố con người là
một trong năm quan điểm phát triển: “ phát huy tối đa nhân tố con người; coi con
người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển”; là một trong
ba khâu đột phá chiến lược: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân

thông tin đại chúng đã xây dựng các chuyên mục phục vụ giáo dục - đào tạo. Hợp
tác quốc tế về giáo dục - đào tạo bước đầu được mở rộng
Công bằng xã hội trong giáo dục đã được cải thiện, đặc biệt tăng cơ hội học
tập cho trẻ em gái, trẻ em người dân tộc, con em các gia đình nghèo và trẻ em
khuyết tật. Việc miễn, giảm học phí, cấp học bổng và các chính sách hỗ trợ khác đã
tạo điều kiện cho đại bộ phận con em các gia đình nghèo, diện chính sách được học
tập, trước hết ở các cấp học phổ cập.
2
Công tác quản lý giáo dục đã có nhiều chuyển biến. Công tác quản lý chất
lượng đã được chú trọng với việc tăng cường hệ thống đánh giá và kiểm định chất
lượng. Việc phân cấp quản lý giáo dục cho các địa phương và sở giáo dục được đẩy
mạnh. Công nghệ thông tin được ứng dụng mạnh mẽ trong quản lý ngành.
Những thành tựu của giáo dục nước ta đã khẳng định vai trò quan trọng của
giáo dục trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất
nước. Nhờ những thành tựu của giáo dục và các lĩnh vực xã hội khác mà chỉ số
phát triển con người (HDI) của nước ta theo bảng xếp loại của Chương trình phát
triển Liên hiệp quốc trong những năm gần đây có những tiến bộ đáng kể. Những
thành tựu của giáo dục đã và đang góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế-xã
hội, giữ vững an ninh chính trị của đất nước trong hơn 20 năm đổi mới, tạo điều
kiện cho đất nước tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế.
* Nguyên nhân của các thành tựu:
Sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ và chính quyền
các cấp. Sự quan tâm, tham gia đóng góp của các tổ chức kinh tế-xã hội và toàn dân
đối với giáo dục đã góp phần quyết định cho sự thành công của sự nghiệp giáo dục.
Sự ổn định chính trị, những thành quả phát triển kinh tế, cải thiện đời sống
nhân dân của thời kỳ đổi mới đã tạo môi trường với các điều kiện thuận lợi cho
phát triển giáo dục. Đầu tư cho giáo dục trong tổng chi ngân sách nhà nước đã liên
tục tăng qua các năm.
Lòng yêu nước, yêu người, yêu nghề, sự nỗ lực của đội ngũ nhà giáo và
quyết tâm đổi mới của ngành giáo dục đào tạo đã góp phần quan trọng thực hiện

chưa đáp ứng được mục tiêu giáo dục. Còn có những nội dung trong chương trình
giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo không thiết thực, nặng về lý thuyết, nhẹ
về thực hành, chưa gắn với yêu cầu xã hội, chưa phù hợp với nhu cầu và khả năng
học tập của mọi đối tượng học sinh. Phương pháp dạy học về cơ bản vẫn theo lối
truyền thụ một chiều, đòi hỏi người học phải ghi nhớ máy móc, không phát huy
được tư duy phê phán, tư duy sáng tạo và tinh thần tự học ở người học.
Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục chưa đáp ứng được nhiệm vụ
giáo dục trong thời kỳ mới. Còn thiếu quy hoạch tổng thể đào tạo đội ngũ nhà giáo
từ mầm non đến đại học dẫn đến tình trạng đội ngũ nhà giáo vừa thừa, vừa thiếu,
vừa không đồng bộ về cơ cấu. Ở các trường cao đẳng, đại học, số giảng viên có
trình độ thạc sỹ và tiến sỹ còn quá ít. Phương thức đào tạo trong các nhà trường sư
phạm chậm đổi mới, chất lượng đào tạo còn thấp dẫn đến tình trạng trình độ
chuyên môn và nghiệp vụ của một bộ phận nhà giáo chưa đáp ứng được yêu cầu
nâng cao chất lượng.
Bên cạnh sự nỗ lực của tuyệt đại bộ phận, một số nhà giáo còn có biểu hiện
vi phạm đạo đức lối sống, làm ảnh hưởng xấu tới uy tín của người thầy trong xã
hội. Công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ nhà
giáo còn thiếu hiệu quả. Các chế độ chính sách đối với nhà giáo chưa thỏa đáng,
chưa tạo được động lực phấn đấu vươn lên trong bản thân mỗi người thầy.
4
Cơ sở vật chất kỹ thuật nhà trường còn thiếu thốn và lạc hậu, nhất là ở vùng
sâu, vùng xa; thư viện, phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn và các phương tiện
dạy học còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở các trường đại học.
* Nguyên nhân của những yếu kém là:
Quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu chưa thực sự được quán triệt
đúng mức ở các cấp quản lý và chỉ đạo giáo dục. Công tác quản lý giáo dục - đào
tạo có những mặt yếu kém, bất cập. Cơ chế quản lý của nghành giáo dục - đào tạo
chưa hợp lý.
Tác động cuả kinh tế thị trường ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo
dục. Tư duy giáo dục chậm đổi mới, chưa thích ứng với nền kinh tế thị trường định

Những định hướng cụ thể, đó là:
- Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo
dục, đào tạo. Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương
pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc
biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức,
lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách
nhiệm xã hội. Đề cao trách nhiệm của gia đình và xã hội phối hợp chặt chẽ với nhà
trường trong giáo dục thế hệ trẻ. Đầu tư hợp lý, có hiệu quả xây dựng một số cơ sở
giáo dục, đào tạo đạt trình độ quốc tế.
- Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hoá đầu đàn; đội ngũ
doanh nhân và lao động lành nghề.
- Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, đào tạo trên tinh thần tăng cường
tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục, đào tạo. Hoàn thiện cơ chế,
chính sách xã hội hoá giáo dục, đào tạo trên cả ba phương diện : động viên các
nguồn lực trong xã hội; phát huy vai trò giám sát của cộng đồng; khuyến khích các
hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện để người
dân được học tập suốt đời. Nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo dục - đào
tạo.
4. Giải pháp phát triển giáo dục và đào tạo trong những năm tới
1- Tǎng cường các nguồn lực cho giáo dục - đào tạo
Đầu tư cho giáo dục - đào tạo lấy từ nguồn chi thường xuyên và nguồn chi
phát triển trong ngân sách nhà nước. Tǎng dần tỷ trọng chi ngân sách cho giáo dục
- đào tạo.
Tích cực huy động các nguồn lực ngoài ngân sách, nghiên cứu ban hành
chính sách đóng góp phí đào tạo từ các cơ sở sử dụng lao động, huy động một phần
lao động công ích để xây dựng trường sở. Khuyến khích các đoàn thể, các tổ chức
kinh tế, xã hội xây dựng quỹ khuyến học, lập quỹ giáo dục quốc gia. Phát hành xổ
số kiến thiết để xây dựng trường học.
6

Có chính sách sử dụng và đãi ngộ đúng giá trị nguồn nhân lực được đào tạo.
Trọng dụng người tài. Khuyến khích mọi người, nhất là thanh niên say mê học tập
và tu dưỡng.
3- Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục - đào tạo và tǎng cường
cơ sở vật chất các trường học
7
Rà soát lại và đổi mới sách giáo khoa, tǎng cường giáo dục kỹ thuật tổng hợp
và nǎng lực thực hành ở bậc học phổ thông, kỹ nǎng hành nghề ở khối đào tạo.
Tǎng cường giáo dục tư tưởng - đạo đức, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí minh vào nhà trường phù hợp với lứa tuổi và với từng bậc
học. Coi trọng hơn nữa các môn khoa học xã hội và nhân vǎn.
Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động xã hội, vǎn hoá - thể thao phù
hợp với lứa tuổi và với yêu cầu giáo dục toàn diện.
Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo. Từng bước áp dụng các
phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy - học, bảo đảm
điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học.
Ban hành chuẩn quốc gia về trường học. Thay thế, bổ sung cơ sở vật chất và
các thiết bị cho các trường dạy nghề, trung học chuyên nghiệp và đại học.
4- Đổi mới công tác quản lý giáo dục
Cần đổi mới mạnh mẽ quản lý nhà nước về giáo dục. Coi việc phát triển và
nâng cao chất lượng giáo dục, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và nâng cao năng
lực quản lý Nhà nước về giáo dục - đào tạo là một chỉ tiêu phấn đấu xây dựng đảng
bộ trong sạch vững mạnh.
Tǎng cường công tác dự báo và kế hoạch hoá sự nghiệp giáo dục. Đưa giáo
dục vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và từng địa
phương. Có chính sách điều tiết quy mô và cơ cấu đào tạo cho phù hợp với nhu cấu
phát triển kinh tế - xã hội.
Quy định lại chức nǎng, nhiệm vụ các cơ quan quản lý giáo dục - đào tạo
theo hướng tập trung làm tốt chức nǎng quản lý nhà nước, xây dựng, hoàn thiện các
chính sách, cơ chế về giáo dục đào tạo, kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện các

động, làm chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của các quốc gia và làm thay đổi
sâu sắc mọi mặt đời sống xã hội loài người.
Đảng ta đã có một số nghị quyết về khoa học và công nghệ như Nghị quyết
37 của Bộ Chính trị (khoá IV), Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị (khoá VI), Nghị
quyết 01 của Bộ Chính trị và Nghị quyết Trung ương 7 (khoá VII). Việc thực hiện
các nghị quyết này đã bước đầu nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ của đất
nước, thúc đẩy việc đưa các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời
sống, góp phần đưa nước ta ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo ra
những tiền đề cần thiết để bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá.
Các kỳ Đại hội của Đảng đã từng bước nâng cao và cụ thể hóa tư duy, coi
khoa học là động lực của sự phát triển. Tư duy, đường lối, chính sách đó là hoàn
toàn đúng đắn, phù hợp xu thế phát triển của thời đại, đã chi phối cách thức, con
đường đi tới Chủ nghĩa xã hội của Việt Nam.
2. Thực trạng phát triển khoa học công nghệ ở nước ta hiện nay
a. Thành tựu
9
Trong hơn 20 năm đổi mới, nhất là từ sau Nghị quyết Trung ương 2 khóa
VIII, khoa học và công nghệ có nhiều tiến bộ, cụ thể là:
Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ được đẩy
mạnh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều kết luận khoa học đã
được dùng làm cơ sở để soạn thảo các nghị quyết, hoạch định các chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước, góp phần vào thành công của công cuộc đổi mới.
Đầu tư cho khoa học, công nghệ được tăng lên, Các ngành khoa học và công
nghệ gắn bó hơn với sản xuất và đời sống. Nhiều thành tựu khoa học và công nghệ
mới đã được ứng dụng, góp phần rất quan trọng vào việc nâng cao năng suất, chất
lượng và hiệu quả trong các ngành sản xuất nông nghiệp, y tế, bưu chính viễn
thông, giao thông vận tải, xây dựng, năng lượng, dầu khí, hàng tiêu dùng, hàng xuất
khẩu , xây dựng và củng cố quốc phòng - an ninh.
Khoa học tự nhiên có những thành tựu trong nghiên cứu, điều tra điều kiện

tiềm năng sẵn có, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển trong thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, còn thua kém so với nhiều nước trong khu vực.
Trình độ công nghệ thấp, chậm được đổi mới trong nhiều ngành sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ và trong quản lý. Sản phẩm nghiên cứu khoa học và công nghệ
trong nước chưa nhiều, tỷ lệ ứng dụng vào sản xuất và đời sống còn thấp. Tình
trạng nhập khẩu các thiết bị, công nghệ lạc hậu, không đồng bộ, kém hiệu quả ảnh
hưởng xấu đến năng suất lao động và môi trường sinh thái.
Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ tuy tăng về số lượng, nhưng tỷ lệ trên
số dân còn thấp so với các nước trong khu vực, chất lượng chưa cao, còn thiếu
nhiều cán bộ đầu ngành, chuyên gia giỏi, đặc biệt là các chuyên gia về công nghệ.
Số đông cán bộ có trình độ cao đều đã lớn tuổi, đang có nguy cơ hẫng hụt cán bộ.
Không ít cán bộ khoa học và công nghệ chuyển đi làm việc khác hoặc bỏ nghề, gây
nên sự lãng phí chất xám nghiêm trọng.
Cơ cấu và việc phân bố cán bộ khoa học và công nghệ chưa cân đối, còn
nhiều bất hợp lý. Nông thôn và miền núi còn thiếu nhiều cán bộ khoa học và công
nghệ.
Cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho nghiên cứu khoa học quá nghèo nàn,
lạc hậu; thông tin khoa học và công nghệ quá thiếu và không kịp thời.
Hệ thống tổ chức các cơ quan nghiên cứu - triển khai tuy đã được sắp xếp
một bước, nhưng vẫn còn trùng lắp, chưa đồng bộ, thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa
nghiên cứu, giảng dạy với thực tiễn sản xuất - kinh doanh và với quốc phòng - an
ninh; giữa các ngành khoa học, giữa khoa học tự nhiên và công nghệ với khoa học
xã hội và nhân văn. Tinh thần hợp tác giữa các nhà khoa học, giữa các cơ quan
nghiên cứu khoa học còn yếu.
* Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế:
1. Các cấp uỷ đảng, các cấp chính quyền chưa thật sự coi phát triển khoa học
và công nghệ là quốc sách hàng đầu, chưa tập trung trí tuệ, công sức cho sự lãnh
đạo, chỉ đạo các hoạt động khoa học và công nghệ. Nhiều chủ trương đúng đắn về
11
khoa học và công nghệ trong các văn kiện của Đảng chậm được thể chế hoá về mặt

nghệ là một trong những nội dung quan trọng để phát triển đất nước, đồng thời đề
ra những định hướng để phát triển khoa học – công nghệ.
Định hướng chung của chiến lược khoa học và công nghệ từ nay đến năm
2020 là:
12
- Phát triển mạnh khoa học, công nghệ làm động lực đẩy nhanh quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế tri thức; góp phần tăng nhanh năng
suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, sự phát triển nhanh, bền
vững của đất nước; nâng tỉ lệ đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp vào tăng
trưởng. Thực hiện đồng bộ 3 nhiệm vụ chủ yếu: nâng cao năng lực khoa học, công
nghệ; đổi mới cơ chế quản lý; đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng.
- Phát triển năng lực khoa học, công nghệ có trọng tâm, trọng điểm, tập trung
cho những ngành, lĩnh vực then chốt, mũi nhọn, đảm bảo đồng bộ về cơ sở vật
chất, nguồn nhân lực. Nhà nước tăng mức đầu tư và ưu tiên đầu tư cho các nhiệm
vụ, các sản phẩm khoa học, công nghệ trọng điểm quốc gia, đồng thời đẩy mạnh xã
hội hoá, huy động mọi nguồn lực, đặc biệt là của các doanh nghiệp cho đầu tư phát
triển khoa học, công nghệ.
Đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý, tổ chức, hoạt động khoa học, công nghệ,
xem đó là khâu đột phá để thúc đẩy phát triển và nâng cao hiệu quả của khoa học,
công nghệ. Thực hiện đồng bộ chính sách đào tạo, thu hút, trọng dụng, đãi ngộ
xứng đáng nhân tài khoa học, công nghệ.
- Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng; phát triển đồng bộ khoa học xã hội, khoa
học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ. Xây dựng và thực hiện chương trình
đổi mới công nghệ quốc gia; có chính sách khuyến khích và hỗ trợ các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đổi mới công nghệ. Kết hợp chặt chẽ nghiên
cứu và phát triển trong nước với tiếp nhận công nghệ nước ngoài.
4. Giải pháp phát triển khoa học và công nghệ trong những năm tới
Thứ nhất, Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với khoa học và công nghệ
Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định làm cho
khoa học và công nghệ trở thành nền tảng và động lực mạnh mẽ của sự nghiệp

động và các tác giả về sáng chế, phát minh, cải tiến kỹ thuật và ứng dụng công
nghệ mới.
Các viện nghiên cứu được thành lập các cơ sở sản xuất - kinh doanh, các
trung tâm ứng dụng, tư vấn và chuyển giao công nghệ thuộc các lĩnh vực chuyên
môn mà viện đảm nhận, được phép liên doanh với nước ngoài theo quy định của
Nhà nước.
Thành lập các tổ chức nghiên cứu - triển khai trong các tổng công ty và
doanh nghiệp lớn.
Mở rộng mạng lưới dịch vụ tư vấn khoa học và công nghệ. Miễn hoặc giảm
thuế doanh thu cho các hoạt động tư vấn khoa học và công nghệ.
Hoàn thiện hệ thống luật pháp về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và khuyến
khích chuyển giao công nghệ.
Thứ ba, Có chính sách đãi ngộ hợp lý đối với cán bộ khoa học và công nghệ
Có chính sách lương thoả đáng đối với cán bộ nghiên cứu khoa học và triển
khai. Có chế độ thưởng, phụ cấp và trợ cấp cho các công trình khoa học và công
14
nghệ có giá trị. Có cơ chế để cán bộ khoa học và công nghệ bảo đảm thu nhập thích
đáng thông qua việc tham gia các hợp đồng nghiên cứu - triển khai.
Bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ tinh thần yêu nước, yêu
chủ nghĩa xã hội, hoài bão, lý tưởng say mê khoa học; áp dụng nhiều hình thức biểu
dương, tôn vinh địa vị xã hội của các nhà khoa học và chuyên gia công nghệ hàng
đầu.
Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học và công nghệ; trẻ hoá đội
ngũ cán bộ khoa học và công nghệ. Khơi dậy nhiệt tình của thế hệ trẻ theo đuổi sự
nghiệp khoa học và công nghệ.
Xây dựng và thực hiện quy chế bảo đảm dân chủ, phát huy tinh thần sáng
tạo, tăng cường đoàn kết, ý thức trách nhiệm xã hội của các nhà khoa học trong
hoạt động nghiên cứu và triển khai. Khuyến khích, trân trọng những tìm tòi khám
phá khoa học, những kiến nghị giải pháp khác nhau về các vấn đề của tự nhiên, kỹ
thuật cũng như kinh tế - xã hội. Có những hình thức tổ chức, phương pháp và cơ

chương trình kinh tế - xã hội phải là cơ sở thực tiễn và là nơi tạo nhu cầu và cung
cấp nguồn lực cho phát triển khoa học và công nghệ.
Trích một phần vốn của các dự án đầu tư để tiến hành nghiên cứu, phản biện,
đánh giá những vấn đề khoa học và công nghệ có liên quan tới nội dung, chất lượng
dự án.
Có cơ chế để doanh nghiệp dành một phần vốn cho nghiên cứu đổi mới, cải
tiến công nghệ và đào tạo nhân lực. Phần vốn này không chịu thuế.
Nhà nước chú trọng đầu tư cho nghiên cứu cơ bản, nhất là những lĩnh vực
khoa học xã hội và nhân văn cũng như những lĩnh vực khoa học và công nghệ đặc
thù của Việt Nam.
Thứ sáu, Hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ
Có chính sách mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự giúp đỡ của các nước,
các tổ chức quốc tế; thu hút các chuyên gia giỏi của thế giới đến nước ta hợp tác
mở trường, lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công nhân kỹ thuật, lập các cơ sở nghiên
cứu khoa học và chuyển giao những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại.
Có cơ chế sử dụng vốn vay và viện trợ nước ngoài để đầu tư có hiệu quả cho
khoa học và công nghệ. Hình thành một số cơ sở quốc tế về khoa học tự nhiên và
công nghệ.
Nhà nước dành một khoản ngân sách thích đáng để cử người có đức, có tài đi
đào tạo những ngành nghề thuộc lĩnh vực khoa học và công nghệ ưu tiên ở những
nước có nền khoa học và công nghệ tiên tiến; khuyến khích việc tự túc đi học ở
nước ngoài về khoa học và công nghệ.
Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ khoa học và công nghệ,
nhất là cán bộ trẻ được đi bồi dưỡng và trao đổi khoa học ở nước ngoài.
Thứ bảy, Tăng cường kiểm soát, giám định công nghệ và chất lượng sản
phẩm
16
Các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trong mọi ngành, mọi cấp đều
phải có sự thẩm định của các tổ chức khoa học về giải pháp công nghệ và về những
tác động của nó đến môi trường và xã hội. Việc thẩm định phải được luật pháp hoá.

Củng cố và tăng cường hoạt động của các Hội khoa học và kỹ thuật nhằm tập
hợp rộng rãi các lực lượng trí thức. Phát huy vai trò chính trị - xã hội của Liên hiệp
17
các Hội khoa học và kỹ thuật ở Trung ương và địa phương trong việc phổ biến và
ứng dụng kiến thức khoa học vào sản xuất và đời sống, trong nghiên cứu khoa học,
triển khai công nghệ và bảo vệ môi trường, cũng như trong công tác tư vấn, phản
biện và giám định xã hội. Đảng và Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động
của các Hội khoa học và kỹ thuật.
Thứ chín, Đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên truyền, phổ cập kiến
thức khoa học và công nghệ
Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ cập tri thức khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, khoa học xã hội và nhân văn nói chung, những hiểu biết thường thức về
khoa học tự nhiên và công nghệ, bảo vệ môi trường trong nhân dân, đặc biệt là ở
vùng nông thôn, vùng núi, vùng dân tộc ít người, hình thành lối sống văn minh và
sự lành mạnh của môi trường xã hội.
Đẩy mạnh các dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ về lãnh đạo - quản
lý, nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp, đặc biệt là
thông tin công nghệ.
Phát triển và quản lý tốt mạng lưới thu thập, xử lý thông tin về khoa học và
công nghệ nước ngoài.
III. PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC GẮN VỚI QUÁ TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
1. Vị trí, vai trò của Kinh tế tri thức
Ðất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
phấn đấu đến năm 2020 về cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện
đại. Ðây cũng là thời kỳ kinh tế thế giới có bước chuyển biến sâu sắc, từ kinh tế
công nghiệp sang kinh tế tri thức. Sự hình thành và phát triển kinh tế tri thức là xu
thế không thể đảo ngược, xu hướng này cuốn theo tất cả các quốc gia mà không
loại trừ các nước nghèo, kém phát triển, nó có tác động mạnh mẽ đối với các nước
đang trong quá trình công nghiệp hóa như Việt Nam.

2. Thực trạng phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay
a. Những thành tựu đã đạt được
Đánh giá theo những đặc trưng của kinh tế tri thức, trong hơn 20 năm đổi
mới vừa qua, Việt Nam đã đạt được những kết quả, thể hiện chủ yếu như sau:
Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Liên tục trong nhiều năm, Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao và ổn định, cơ cấu kinh tế cũng đã có sự chuyển dịch, với tỷ trọng các lĩnh vực
kinh tế có giá trị gia tăng cao, trong đó có những lĩnh vực dựa nhiều vào tri thức
ngày càng tăng. Một số lĩnh vực như công nghiệp thông tin, công nghiệp công nghệ
cao, các lĩnh vực dịch vụ dựa vào xử lý thông tin, tài chính ngân hàng, giáo dục đào
tạo, nghiên cứu phát triển công nghệ… đã dần dần hình thành và có bước phát triển
đáng kể. Những lĩnh vực này được chờ đợi trở thành đầu tàu thúc đẩy phát triển,
đổi mới toàn bộ nền kinh tế.
19
Thứ hai, xây dựng thể chế kinh tế thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho sự
phát triển kinh tế
Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng trong việc xây dựng hệ
thống pháp luật kinh tế thị trường, cải cách tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước,
tăng cường năng lực, tính năng động và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ,
công chức, chú trọng hỗ trợ cho các doanh nghiệp mới và tạo cuộc sống tốt hơn cho
người dân; cơ cấu lao động thay đổi, từng bước gia tăng lao động tri thức.
Thứ ba, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Các quan hệ kinh tế song phương và đa phương của Việt Nam không ngừng
được mở rộng thông qua việc ký kết và tham gia vào các hiệp định và diễn đàn
quốc tế, Việt Nam đã thiết lập được mối quan hệ bình thường với tất cả các nước
lớn, các nhóm nước và trung tâm kinh tế, tài chính lớn trên thế giới. Điều này đã
đóng góp đáng kể cho phát triển kinh tế như: tiếp nhận một khối lượng vốn lớn
FDI, ODA; tiếp nhận chuyển giao công nghệ, tăng năng suất lao động; có nguồn
vốn để xóa đói; mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng kim ngạch xuất khẩu; tăng vị thế
của nước ta trên thị trường quốc tế… Nước ta đang từng bước trở thành một mắt

chính đã làm tăng đáng kể chi phí giao dịch và chi phí đầu vào sản xuất kinh doanh.
Thứ hai, nền kinh tế thị trường và thể chế kinh tế thị trường còn non yếu,
thiếu sót và nhiều méo mó
Hệ thống thể chế kinh tế thị trường ở nước ta nhiều mặt, nhiều lĩnh vực chưa
theo kịp diễn biến thực tế của các hoạt động kinh tế, chưa đầy đủ, chưa đồng bộ,
mâu thuẫn, chồng chéo, không minh bạch và nhất là năng lực thực thi pháp luật còn
yếu. Cải cách hành chính diễn ra chậm chạp khiến cho năng lực hỗ trợ của nền
hành chính cho phát triển kinh tế bị hạn chế.
Một số thị trường rất quan trọng mới chỉ được hình thành rất sơ khai mà đã
có nhiều điểm bất cập, hàng hóa trên thị trường khoa học và công nghệ còn nghèo
nàn, lượng giao dịch trên thị trường còn ít và đơn điệu. Các yếu tố cấu thành của thị
trường còn yếu, chưa trở thành môi trường cần thiết để khuyến khích sự sáng tạo và
đổi mới.
Thứ ba, quá trình chuẩn bị hội nhập kinh tế quốc tế chưa mạnh và chưa
đồng đều
Quá trình phát triển nhận thức về toàn cầu và hội nhập kinh tế quốc tế còn
chậm trong các cấp các ngành, thiếu sự thống nhất và quyết tâm cao từ trên xuống
dưới. Việc chỉ đạo và phối hợp thực hiện giữa các ngành, các cập nhiều khi còn
chệch choạc, thiếu nhất quán, chưa hình thành được một kế hoạch tổng thể về hội
nhập kinh tế quốc tế cũng như chưa có lộ trình hợp lý thực hiện các cam kết quốc
tế, do đó chưa gắn kết được một cách hài hòa các lộ trình hội nhập ở các cấp độ và
quy mô khác nhau.
Tính chủ động của nhiều cấp, nhiều ngành cũng như của doanh nghiệp trong
hội nhập kinh tế quốc tế chưa cao, thậm chí còn khá bị động trong nhiều lĩnh vực,
21
mong muốn tiếp tục nhận được sự bảo hộ từ phía nhà nước. Sự bảo hộ này đã hạn
chế cạnh tranh, tăng thêm sức ì và gánh nặng đối với nền kinh tế, đồng thời tác
động bất lợi đến quá trình hoạch định chính sách
Thứ tư, các lĩnh vực biểu hiện đặc trưng của kinh tế tri thức chưa phát triển
Các ngành mới, đại diện cho kinh tế tri thức (hay còn gọi là các ngành công

22
Vấn đề đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) gắn với phát
triển kinh tế tri thức lần đầu tiên được đề cập trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ X của Đảng. Thực chất là quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa “rút
ngắn” dựa trên tri thức; đó vừa là mục tiêu, vừa là phương thức để có thể thực hiện
thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tuy nhiên việc “rút ngắn” quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng đang
đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết là làm thế nào để vừa có thể đi tắt, đón đầu, vừa
giữ được tính bền vững trong từng bước phát triển. Nhận thức sâu sắc vấn đề đó
trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát
triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 và Báo cáo
Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa X được Ðại hội XI thông qua đều
rút ra bài học trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri
thức phải bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững nền kinh tế.
Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng có sự phát triển mới về nhận thức lý
luận và thực tiễn, Trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ XI của Đảng đã xác
định: “phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới”. Đây là
một trong những chủ trương có vai trò định hướng rất quan trọng trong thời kỳ mới
đến năm 2020.
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ
sung, phát triển năm 2011) phương hướng cơ bản để thực hiện các mục tiêu của
thời kỳ quá độ đó là: “Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; thực hiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài
nguyên, môi trường; xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, có hiệu quả và bền
vững, gắn kết chặt chẽ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ…”(1).
Quán triệt quan điểm của Đảng về đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với tri thức và
phát triển bền vững, nhằm đưa Nghị quyết vào cuộc sống đòi hỏi cần thực hiện tốt
một số vấn đề cơ bản sau:
Một là, kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của

Vấn đề thực tiễn đặt ra là: trong khung khổ chiến lược chung, cần phải có
những giải pháp chiến lược để Việt Nam phát triển nền kinh tế tri thức một cách
hiệu quả, Đó là:
Đổi mới cơ chế và chính sách, tạo lập một khuôn khổ pháp lý mới, phù hợp
với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ chế chính
sách phải thực sự khuyến khích và buộc các doanh nghiệp phải luôn đổi mới, và
phải thúc đẩy sự ra đời nhanh chóng các doanh nghiệp mới, nhất là các doanh
nghiệp kinh doanh sản phẩm mới, công nghệ mới. Phải tạo môi trường cạnh tranh
bình đẳng, chống độc quyền.
Chăm lo phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài. Trong
những năm tới phải tăng mạnh đầu tư để phát triển giáo dục và phải tiến hành một
24
cuộc cải cách giáo dục mới nhằm tạo ra nguồn lao động chất lượng cao đáp ứng
nhu cầu phát triển của nền kinh tế tri thức.
Tăng cường năng lực khoa học và công nghệ quốc gia để có thể tiếp thu, làm
chủ, vận dụng sáng tạo các tri thức khoa học và công nghệ mới nhất của thế giới
cần thiết cho sự phát triển nước ta, từng bước sáng tạo những công nghệ mới đặc
thù của nước ta, xây dựng nền khoa học và công nghệ tiên tiến của Việt Nam.
Nhà nước thực sự đóng vai trò bà đỡ, tạo khung khổ pháp lý và hỗ trợ các
điều kiện cần thiết để phát triển khoa học- công nghệ và cho hoạt động nghiên cứu,
nghiên cứu - triển khai.
Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá. Công nghệ thông tin là chìa khoá để đi vào kinh tế tri thức. Muốn
rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, rút ngắn khoảng cách với các
nước, phải khắc phục khoảng cách về công nghệ thông tin.
Khẩn trương xây dựng một Chương trình phát triển kinh tế tri thức mang tầm
cỡ chiến lược quốc gia, coi đây là “trục” của Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội
đưa nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại.
Thực hiện một chiến lược phát triển khoa học có lộ trình phù hợp với năng
lực nội sinh và có khả năng tranh thủ các thành tựu của thế giới. Trong giai đoạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status