MỤC LỤC
A: LỜI MỞ ĐẦU………………………………………
B: NỘI DUNG………………………………………….
CHƯƠNG I: VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA TRONG PHÁT TRIỂN KINH
TẾ……………………………………………….
CHƯƠNG II: QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ LĨNH VỰC VĂN
HÓA………………………………………………………
1: Thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng về chăm lo phát triển văn
hóa…………………………………………………….
CHƯƠNG III: HIỆN TRẠNG VĂN HÓA, GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO SỰ
LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VĂN
HÓA……………………………………………………….
1. Bối cảnh tác động đến nền văn hóa Việt Nam……………….
2. Các giải pháp đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của nhà nước
đối với văn hóa………………………………………...
3. Các giải pháp lớn…………………………………………….
3.1. Giải pháp về tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức…
3.2. Giải pháp về ban hành luật pháp và chính sách văn hóa…..
3.3. Giải pháp tăng cường nguồn lực và phương tiện cho hoạt động văn
hóa…………………………………………………….
3.4. Giải pháp về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn
hóa………………………………………………………
4. Kiến nghị…………………………………………………….
CHƯƠNG IV: LIÊN HỆ VỚI VĂN HÓA GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN
NAY……………………………………………….
1.Nếp sống văn hóa gia đình Việt Nam………………………..
2.Gia đình văn hóa và văn hóa gia đình…………………….......
2.1. Vai trò của gia đình và văn hóa gia đình…………………
2.2. Gia đình và văn hóa gia đình trước những thách thức của tiến trình
vững, xã hội ổn định. Đây là quan niệm phát triển kinh tế gắn liền với
phát triển văn hóa, được các nhà khoa học, các chính khách thừa nhận.
Từ đó, cho rằng: Phát triển là một quá trình nội sinh và tự hướng tâm của
sự tiến hóa toàn cục đặc thù cho mỗi xã hội. Vì vậy, cho nên ở đây có sự
tương đồng về nghĩa và khả năng chuyển hóa lẫn nhau giữa phát triển và
văn hóa. Văn hóa bao trùm tất cả các phương diện của hoạt động xã hội.
Vậy văn hóa là gì? Hiện nay vẫn đang còn có nhiều định nghĩa về văn
hóa, bởi lẽ văn hóa là sản phẩm do lao động của con người tạo ra mà hoạt
động lao động của con người rất đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.
Từ đó đi đến việc tạo ra những quan niệm cụ thể khác nhau: văn hóa
trang phục, văn hóa du lịch; văn hóa kinh doanh, văn hóa ẩm thực, văn
hóa con người, văn hóa gia đình, văn hóa làng xã, văn hóa xã hội… Ở
đây trong bài viết này trình bày khái niệm văn hóa theo nghĩa rộng được
nhiều nhà nghiên cứu tán thành. Đó là: Văn hóa là hệ thống giá trị vật
chất và tinh thần do lao động của người sáng tạo ra, được cộng đồng
khẳng định tích lũy lại, tạo ra bản sắc riêng của từng tộc người, từng xã
hội. Trong Nghị quyết Trung ương 5 ( Khóa VIII), Đảng ta khẳng định:
Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng
đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ
nước…, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh
thế giới để không ngừng
hoàn thiện mình. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách,
bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc.
Chúng em những người thuộc thế hê trẻ Việt Nam cũng muốn bầy tỏ
những hiểu biết và tiếp nối, phát huy những giá trị tinh hoa văn hóa dân
tộc trong tiến trình xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh ấm no hạnh
phúc. Nắm được tầm quan trọng to lớn về những giá trị văn hóa, nhận
thức từ lý luận để soi vào thực tiễn em xin chọn đề tài: “ Đảng lãnh đạo
và văn minh. Trong đó, bản chất nhân văn, nhân đạo của mỗi cá nhân
cũng như của cả cộng đồng được bồi dưỡng; phát huy trở thành giá trị
cao quý và chuẩn mực tốt đẹp của toàn xã hội. Mục tiêu này phù hợp với
khát vọng lâu đời của nhân loại và là mục đích phát triển bền vững, tiến
bộ của các quốc gia, dân tộc. Đây là một nội dung quan trọng của Chủ
nghĩa xã hội mà chúng ta đang xây dựng
Văn hóa là động lực của sự phát triển, bởi lẽ mọi sự phát triển đều do con
người quyết định chi phối. Văn hóa khơi dậy và nhân lên mọi tiềm năng
sáng tạo của con người, huy động sức mạnh nội sinh to lớn trong con
người đóng góp vào sự phát triển xã hội.
Trước đây, để phát triển kinh tế, người ta thường nhấn mạnh và khai thác
yếu tố lao động của con người cho sự phát triển. Ngày nay, trong điều
kiện của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, yếu tố quyết
định cho sự phát triển là trí tuệ, là thông tin, là sáng tạo và đổi mới không
ngừng nhằm tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần ngày càng cao, đáp
ứng nhu cầu đa dạng và phong phú của mỗi người cũng như của toàn xã
hội.
Trong thời đại ngày nay, một nước giàu hay nghèo không chỉ ở chỗ có
nhiều hay ít lao động, vốn, kỹ thuật và tài nguyên thiên nhiên, mà chủ yếu
ở chỗ có khả năng phát huy đến mức cao nhất tiềm năng sáng tạo của
nguồn lực con người hay không? Tiềm năng sáng tạo này nằm trong các
yếu tố cấu thành văn hóa, nghĩa là trong ý chí tự lực, tự cường và khả
năng hiểu biết, trong tâm hồn, đạo lý, lối sống, trình độ thẩm mỹ của mỗi
cá nhân và của cả cộng đồng.
Một chính sách phát triển đúng đắn là chính sách làm cho các yếu tố cấu
thành văn hóa thấm sâu vào tất cả các lĩnh vực sáng tạo của con người:
văn hóa trong sản xuất, văn hóa trong quản lý, văn hóa trong lối sống, văn
hóa trong giao tiếp, văn hóa trong sinh hoạt gia đình, ngoài xã hội, văn
yếu tố ngoại sinh như vốn, kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm quản lý và
thị trường của nước ngoài chỉ có thể biến thành động lực bên trong của sự
phát triển, nếu chúng được vận dụng phù hợp và trở thành các yếu tố nội
sinh của con người Việt Nam với truyền thống văn hóa, đạo đức, tâm
hồn, lối sống của dân tộc Việt Nam. Trên cơ sở kiến thức khoa học, kinh
nghiệm và sự tỉnh táo, khôn ngoan, chúng ta cần giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập, phát triển. Bởi lẽ, nền văn
hóa dân tộc sẽ đóng vai trò định hướng và điều tiết để hội nhập và phát
triển bền vững, hội nhập để phát triển nhưng vẫn giữ vững được độc lập,
tự chủ. Hợp tác kinh tế với nước ngoài mà không bị người ta lợi dụng,
biến mình thành kẻ đi vay nặng lãi, thành nơi cung cấp nguyên liệu và
nhân công giá rẻ, thành nơi tiêu thụ hàng hóa ế thừa và tiếp nhận chuyển
giao những công nghệ lạc hậu, tiếp nhận lối sống không lành mạnh với
những ảnh hưởng văn hóa độc hại…
Vì sự phát triển bền vững, văn hóa phê phán lối sống thực dụng, chụp
giật, chạy theo ham muốn quá mức của “xã hội tiêu thụ”, dẫn đến chỗ
làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường sinh thái. Như vậy, văn hóa
đã góp phần quan trọng vào vấn đề bảo vệ môi trường và sự phát triển
bền vững...
Văn hóa truyền thống Việt Nam hướng dẫn và cổ vũ một lối sống hòa
hợp, hài hòa với thiên nhiên. Nó đưa ra mô hình ứng xử có văn hóa của
con người đối với thiên nhiên, vì sự phát triển bền vững của thế hệ hiện
nay và các thế hệ con cháu mai sau.
Phát triển tách khỏi cội nguồn dân tộc thì nhất định sẽ lâm vào nguy cơ
tha hóa. Thực hiện kinh tế thị trường định hướng XHCN, công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước mà xa rời những giá trị văn hóa truyền thống
sẽ làm mất đi bản sắc dân tộc, đánh mất bản thân mình, trở thành cái
bóng mờ của người khác, của dân tộc khác.
Trong Mục tiêu và phương hướng tổng quát 5 năm 2006-2010 (trang
75): Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức
mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước, huy
động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước; phát triển văn hoá; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; tăng
cường quốc phòng và an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại; chủ động và
tích cực hội nhập quốc tế; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; sớm đưa
nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020
nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Như vậy, vấn đề xã hội và văn hoá đã được Đảng ta coi là nội dung
quan trọng. Tư tưởng nổi bật trong đường lối giải quyết các vấn đề xã hội
và phát triển văn hoá của Đảng là “Từ thực tiễn xây dựng đất nước mấy
chục năm qua, chúng ta nhận thức ngày càng sâu sắc rằng: xã hội, văn
hoá là những lĩnh vực thể hiện rõ nhất bản chất của chế độ xã hội chủ
nghĩa”. Đại hội đã thể hiện và khẳng định quyết tâm “Trong những năm
tới, cần đưa việc giải quyết các vấn đề xã hội và phát triển văn hoá lên
nhanh hơn nữa, tương xứng với nhịp độ phát triển kinh tế”(Báo cáo trên).
Những tư tưởng, quan điểm về xã hội và văn hoá nêu trên định hướng
cho đường lối tiếp tục xây dựng, phát triển về xã hội và văn hoá của Đại
hội X. Tiếp tục xây dựng trên lĩnh vực này vừa có tính chiến lược vừa có
ý nghĩa điều kiện bảo đảm tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa và
bảo đảm cho sự phát triển của đất nước theo hướng bền vững.
Đại hội đã chỉ rõ các quan điểm về các lĩnh vực cụ thể hơn trong phát
triển
văn
người. Quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội là tạo động lực thúc đẩy
kinh
tế
-
xã
hội
phát
triển.
- Trên cơ sở quan điểm đó, văn kiện Đại hội chỉ rõ: “Chúng ta khuyến
khích mọi người dân làm giàu theo pháp luật, đồng thời thực hiện có hiệu
quả chính sách xoá đói giảm nghèo, thực hiện tốt hơn công bằng xã
hội”(Văn
kiện
Đại
hội
X,
trang
các
chính
sách
ưu
đại
xã
hội…
Đoạn lược trích trên được thể hiện trong Văn kiện (từ trang 101-104) là
một sự đổi mới trong chính sách của Đảng đối với lĩnh vực xã hội, là thể
hiện quan tâm cụ thể vào từng chính sách cụ thể. Đặc biệt là đối với các
chính sách có yêu cầu cho sự phát triển của đất nước và của con người.
Những vấn đề như chất lượng con người, sức khoẻ, thể chất, tuổi thọ, tầm
vóc con người …được đề cập trong Đại hội X như một quan điểm có tính
đột
phá
về
chính
sách
- Khuyến khích sáng tạo văn học nghệ thuật, tạo ra những tác phẩm
công trình có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật. (Văn kiện Đại hội X,
trang
213)
Văn học, nghệ thuật là lĩnh vực đặc trưng của văn hoá và có ý nghĩa
tạo nên bộ mặt văn hoá dân tộc. Để thực hiện được nhiệm vụ này, cần tạo
ra môi trường thuận lợi về vật chất, tinh thần, phát huy dân chủ, đảm bảo
tự do cho mọi sự sáng tạo. Đồng thời nêu cao trách nhiệm công dân của
trí thức, văn nghệ sĩ trước nhân dân, dân tộc và thời đại.
- Tập trung xây dựng và nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn hoá,
chú
trọng
xây
dựng
các
công
trình
văn
hoá
văn hóa, giáo dục nhằm giải quyết các nhiệm vụ của xã hội đặt ra trong
thời kỳ mới, khắc phục những yếu kém, bất cập của văn hóa truyền thống
để bổ sung bằng việc xây dựng các giá trị văn hóa mới, tiếp thu những
yếu tố tích cực của văn hóa nhân loại. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
trên lĩnh vực văn hóa trong thời kỳ đổi mới hiện nay là một yêu cầu
khách quan trong sự phát triển kinh tế xã hội nói riêng và phát triển đất
nước nói chung.
1 : Bối cảnh tác động đến nền văn hóa Việt Nam
Đây là thời kỳ sắp xếp lại lực lượng của các quốc gia trên phạm vi
toàn cầu, những mâu thuẫn giai cấp, dân tộc và tôn giáo diễn ra hết sức
phức tạp; các quốc gia, các dân tộc vừa hợp tác, vừa cạnh tranh để phát
triển; xu thế hòa bình, ổn định và phát triển là xu thế chung của nhân loại
tiến bộ. Hơn lúc nào hết việc phát huy sự tương đồng giữa các nền văn
hóa để phát triển, khai thác lợi thế ổn định bên trong và xu thế hòa bình
để phát triển đang tác động vào Việt Nam và văn hóa Việt Nam.
Đây là thời kỳ chuyển đổi của cuộc cách mạng khoa học - công
nghệ từ kiểu cũ sang kiểu mới hướng tới sinh thái và nhân văn hơn, trong
đó công nghệ hóa kiểu cũ với những công nghệ gây ô nhiễm môi trường,
bóc lột sức lao động của con người, điều kiện sống của con người không
được quan tâm, làm cho đô thị hóa kiểu cũ tập trung đông dân vào các
thành phố lớn, đang được chuyển sang công nghệ mới hướng tới sinh thái
và nhân văn với các công nghệ cao và sạch, cho năng suất cao, không ảnh
hưởng tới môi trường, cân bằng sinh thái. Các nước đi sau đang có lợi thế
để đầu tư vào công nghệ mới và tập trung vào phát triển con người, hơn
lúc nào hết cần tập trung vào 4 trụ cột chính: công nghệ gen và cải tạo
giống cây trồng; công nghệ vật liệu mới với đầy đủ tính năng, tác dụng
đáp ứng được yêu cầu dân sinh, quốc phòng, an ninh... (công nghệ siêu
mỏng, siêu cứng, siêu bền); năng lượng: thu hút đầu tư vào những lĩnh
Trong những năm 1980, nhiều quốc gia đã đầu tư vào phát triển
giao thông (huyết mạch của nền kinh tế và tạo điều kiện cho giao lưu văn
hóa) và sự bùng nổ thông tin, công nghệ cao sau thời kỳ chiến tranh lạnh
đã làm cho việc tự do hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế của các
quốc gia ngày càng gia tăng, sự lưu thông kinh tế mở rộng, ra đời nhiều
tổ chức kinh tế khu vực và thế giới, chỉ một tác động nhỏ cũng sẽ ảnh
hưởng tới các quốc gia, các khu vực và toàn thế giới.
Đánh giá vấn đề toàn cầu hóa sẽ có tác động tích cực đến sách phát
triển kinh tế xã hội của từng quốc gia. Đây là cơ hội giúp cho mỗi nước
trong việc chuyển giao công nghệ, làm cho kinh tế hoạt động theo quỹ
đạo chung nếu không muốn loại mình ra khỏi cộng đồng thế giới. Nhưng
quốc tế hóa cũng mang lại những tiêu cực to lớn như bần cùng hóa các
nước nghèo và chậm phát triển, các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế thế
giới không bình đẳng, các nước nghèo dễ bị đẩy ra ngoài cuộc chơi, sự
phân hóa giàu nghèo gia tăng.
Đảng ta đã nhìn thấy tất cả những tiêu cực và tích cực của toàn cầu
hóa để đưa ra đánh giá của mình: toàn cầu hóa là xu thế khách quan, tác
động trên phạm vi toàn cầu, do vậy phải chủ động tham gia (87% kinh tế
thế giới do các nước tư bản chủ nghĩa chi phối) và đấu tranh để xác lập
các giá trị và chuẩn mực chung.
Về chính trị, toàn cầu hóa có thể san bằng mọi nền kinh tế thế giới,
mỗi quốc gia đều có rào cản bảo vệ lợi ích của mình, có chính sách quản
lý riêng (nhưng xu thế quyền lực có thể bị giảm đi) để từ đó điều chỉnh lại
quan niệm cho đến cách điều hành để giữ vững độc lập và an ninh quốc
gia.
Toàn cầu hóa tác động đến văn hóa và các phương tiện thông tin
đại chúng, qua con đường nhập khẩu văn hóa phẩm, dịch vụ vui chơi giải
trình chung. Kinh tế thị trường làm cho công dân tham gia và giám sát
mọi hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội, quan tâm đến dư luận xã hội,
đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực, tham gia bảo quản và lưu giữ các
giá trị văn hóa; kích thích năng lực sáng tạo của các cá nhân và của cả
cộng đồng để thúc đẩy tiến bộ xã hội, đòi hỏi các cấp lãnh đạo, quản lý
theo kịp tiến trình phát triển của kinh tế thị trường.
Mặt trái của kinh tế thị trường: Kinh tế thị trường làm phân hóa xã
hội ngày càng sâu sắc, phân hóa giàu - nghèo, khu vực giàu - nghèo, quốc
gia giàu - nghèo, gây ra nhiều rủi ro cho nền kinh tế, do vậy, các chính
sách xã hội phải đảm bảo công bằng xã hội là một yêu cầu lớn đối với các
nhà hoạch định chính sách. Kinh tế thị trường còn tạo ra sự suy thoái về
lối sống và đạo đức xã hội (đặc biệt ở các nước mới mở cửa, do thiếu
kinh nghiệm và chưa quen cách quản lý mới). Kinh tế thị trường luôn
khai thác lợi ích, nên luôn mang trong mình nó cả tích cực và tiêu cực,
làm biến dạng bản sắc văn hóa dân tộc (do mọi thứ đều được mua - bán,
các sản phẩm văn hóa, các cổ vật... được bán ra nước ngoài). Vấn đề đặt
ra cho văn hóa, giáo dục là cần chuẩn bị kỹ và đào tạo chu đáo nguồn
nhân lực cho kinh tế thị trường - nhân tố thành công cho phát triển kinh tế
xã hội - có đủ kiến thức, trình độ, ý chí và nghị lực, làm cho con người
biết chấp nhận và vượt lên khó khăn, thách thức.
Kinh tế thị trường đã trải qua 2 giai đoạn: kinh tế thị trường dã man
- tìm kiếm lợi nhuận bằng mọi giá và kinh tế thị trường văn minh - chấp
nhận tự do cạnh tranh trên cơ sở tôn trọng luật pháp và các giá trị văn hóa
xã hội. Văn hóa phải làm bà đỡ cho kinh tế thị trường văn minh ra đời
trên cơ sở xây dựng hệ thống định hướng và pháp luật cho xã hội, tạo ra
môi trường lành mạnh cho phát triển văn hóa xã hội và kinh tế, hướng tới
nền kinh tế nhân văn.
Đây là thời kỳ đẩy mạnh công nghiệm hóa, hiện đại hóa theo hướng sinh
Văn hóa và quản lý văn hóa phải được thang định chuẩn và thước đo giá
trị mới đánh giá, kiểm định trên cơ sở kiên trì mục tiêu XHCN lấy chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng phát triển và
làm biểu tượng cho sự phát triển kinh tế xã hội.
2. Các giải pháp bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà
nước đối với văn hóa
Một là, cần quán triệt sâu sắc 5 quan điểm, 10 nội dung và 4 giải
pháp của Đảng tại Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và
phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và Kết
luận Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 10 (khóa IX) về tiếp tục
thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) trong thời gian tới.
Hai là, các cấp ủy Đảng, các cơ quan quản lý về văn hóa, các tổ
chức chính trị - xã hội, các doanh nghiệp và toàn thể xã hội phải thực hiện
đầy đủ, đồng bộ một số giải pháp quan trọng, có chủ trương và ban hành
sớm các chính sách thống nhất trong phạm vi cả nước về phát triển văn
hóa nhằm khai thác mọi nguồn lực trong và ngoài nước, phát triển mọi
tiềm năng sáng tạo của nhân dân để phát triển văn hóa, văn nghệ và giáo
dục trong giai đoạn hiện nay; Đảm bảo những điều kiện để văn hóa văn
nghệ làm tốt vai trò xã hội và chức năng cao cả của nó; Thực hiện đầy đủ
quyền tác giả, các chế độ thù lao nghệ thuật, bảo đảm cho các nghệ sĩ
chuyên nghiệp và cán bộ quản lý có thể sống, làm việc và tiếp tục sáng
tạo; Kiểm soát được các chương trình biểu diễn nghệ thuật để thu nhập
giữa người sáng tác và người biểu diễn không chênh lệch quá nhiều, kiểm
soát được các show biểu diễn thông qua cấp phép hành nghề để thu thuế
thu nhập và tránh tình trạng diễn viên ra nước ngoài biểu diễn ở lại và nói
xấu nền văn hóa dân tộc, nói xấu chế độ; Khuyến khích và thể nghiệm
các sáng tạo các loại hình nghệ thuật, các hình thức biểu diễn nhưng
hoá. Văn kiện còn chỉ rõ những nhiệm vụ bao quát cũng như những việc
cần làm ngay nhằm cho văn hoá thực sự trở thành nền tảng tinh thần của
xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Tinh thần và nội dung của Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp
hành Trung ương (khoá VIII) chắc chắn sẽ có ảnh hưởng to lớn, lâu bền
đối với toàn bộ đời sống văn hoá, đời sống tinh thần của dân tộc, của đất
nước ta trong những năm sắp tới. Quán triệt những nội dung cơ bản của
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII
có thể coi là "bước đột phá" để tạo chuyển biến sâu sắc trong toàn Đảng,
toàn dân về vai trò, vị trí chiến lược của văn hoá trong sự nghiệp cách
mạng của nhân dân ta.
Bên cạnh những thành tựu nổi bật của đất nước trên lĩnh vực phát triển
kinh tế, giữ vững và củng cố sự ổn định chính trị - xã hội trước những
biến động lớn xảy ra trên thế giới cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 mà
trong đó có phần tác động to lớn của sức mạnh văn hoá tích tụ từ nhiều
năm qua, chúng ta có thể thấy nổi bật lên những vấn đề nhức nhối: đó là
sự dao động về tư tưởng, hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội,
sự phai nhạt về lý tưởng của một bộ phận đảng viên và nhân dân, sự suy
thoái về đạo đức, lối sống, nhiều tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng...
Để đẩy lùi và tiến tới xoá bỏ về cơ bản những tiêu cực nêu trên đồng thời
khẳng định, tôn vinh, phát huy những giá trị tư tưởng đạo đức, lối sống
văn hoá mới tốt đẹp, việc quan trọng đầu tiên phải làm là tạo được một
phong trào cách mạng của đông đảo quần chúng dưới các khẩu hiệu: "Tất
cả vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh" và "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá". Thông qua
phong trào này mà giáo dục cho toàn dân chủ nghĩa yêu nước, ý thức tự
lực, tự cường, tinh thần nỗ lực phấn đấu xây dựng chủ nghĩa xã hội, đưa
đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu. Phong trào cách mạng
có liên quan trực tiếp đến các ngành hoạt động khác trong xã hội.
Các chính sách văn hoá được thể hiện trong những nhóm chính như sau:
- Nhóm chính sách tổ chức - cán bộ, đào tạo, quy hoạch đội ngũ kế cận.