Đảng lãnh đạo xây dựng lực lƣợng An ninh
miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975
Vũ Thị Thu Hiền
Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Lịch sử
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; Mã số: 60 22 56
Ngƣời hƣớng dẫn: PGS.TS Vũ Quang Hiển
Năm bảo vệ: 2012
Abstract. Hệ thống các chủ trƣơng, chính sách, biện pháp của Đảng trong lãnh đạo
xây dựng lực lƣợng an ninh miền Nam; quá trình chỉ đạo xây dựng lực lƣợng An ninh
miền Nam. Trình bày và phân tích quá trình thực thi sự lãnh đạo của Đảng, gắn với
những giai đoạn khác nhau, hoàn cảnh lịch sử cụ thể và những kết quả cụ thể. Đánh
giá ƣu điểm và hạn chế của Đảng trong quá trình lãnh đạo xây dựng lực lƣợng An ninh
miền Nam.
Keywords. Lịch sử Đảng; Đảng Cộng sản Việt Nam; Miền Nam; Lực lƣợng an ninh;
Giai đoạn 1960-1975
Content.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc là bản anh hùng ca vĩ đại
trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Thắng lợi đó đã chứng
minh truyền thống yêu nƣớc quật cƣờng, trí thông minh và tài thao lƣợc của dân tộc
trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội.
Trong chiến công chung của dân tộc, lực lƣợng Công an nhân dân dƣới sự lãnh
đạo của Đảng Lao động Việt Nam đã từng bƣớc trƣởng thành, đọ sức và đánh thắng bộ
máy chiến tranh gián điệp của tên đế quốc sừng sỏ nhất, có nhiều kinh nghiệm nhất
cạnh đó, lĩnh vực xây dựng lực lƣợng còn bộc lộ nhiều yếu kém. Vì vậy, đẩy mạnh
công tác xây dựng lực lƣợng công an nhân dân hiện nay là rất cần thiết và có ý nghĩa
quan trọng. Nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội trong giai
đoạn cách mạng hiện tại vẫn hết sức nặng nề, khó khăn, phức tạp. Để nâng cao sức
chiến đấu, phải có sự đổi mới về nhận thức trong công tác từ lý luận đến thực tiễn,
nhằm xây dựng lực lƣợng công an chính quy, tinh nhuệ, từng bƣớc hiện đại, đáp ứng
yêu cầu ngày càng cao của cách mạng.
Xuất phát từ ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn nêu trên, tôi chọn đề tài
“Đảng lãnh đạo xây dựng lực lƣợng An ninh miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975”
làm luận văn thạc sĩ khoa học Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt
Nam.
3
2. Tình hình nghiên cứu vấn đề
An ninh miền Nam thời kỳ chống Mỹ, cứu nƣớc là một vấn đề đƣợc nhiều tác
giả nghiên cứu. Từ trƣớc đến nay có nhiều công trình viết về vấn đề này, đó là: các
công trình đƣợc biên soạn, xuất bản về lịch sử Công an nhân dân, lịch sử xây dựng lực
lƣợng Công an nhân dân, trong đó đề cập đến lực lƣợng An ninh miền Nam, một số
công trình có tính chất chuyên đề, công trình nghiên cứu về các giai đoạn xây dựng
phát triển lực lƣợng an ninh. Đáng chú ý là:
An ninh miền Nam thời kỳ chống Mỹ 1954-1975(1995), Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội. Cuốn sách trình bày rõ nét về quá trình xây dựng, phát triển và chủ yếu là hoạt
động của lực lƣợng An ninh miền Nam trong thời kỳ chống Mỹ. Về vấn đề xây dựng
lực lƣợng An ninh các tác giả khẳng định: “Các cấp đảng bộ đều quan tâm xây dựng
lực lượng an ninh về mặt tổ chức”. Công trình này tập trung vào hoạt động của lực
lƣợng An ninh miền Nam nên vấn đề xây dựng lực lƣợng An ninh miền Nam có đề
cập nhƣng chƣa rõ nét.
Lịch sử Lực lượng An ninh nhân dân (1954-1965) (2008), Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội. Cuốn sách tập trung hoạt động của lực lƣợng bảo vệ cách mạng sau khi
hiệp định Giơnevơ đƣợc ký kết. Dƣới sự lãnh đạo của Xứ ủy Nam Bộ, đồng bào miền
Công an nhân dân. Về vấn đề xây dựng lực lƣợng an ninh miền Nam từ năm 1960 đến
1975 cũng đã đƣợc đề cập. Tuy nhiên đây là công trình tổng kết lịch sử xây dựng lực
lƣợng Công an nhân dân nên vấn đề nêu trên chỉ dừng lại ở mức khái quát.
Lịch sử An ninh Khu VI thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1962-1975)
(2007), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. Khu VI (Cực Nam Trung Bộ-Nam Tây
Nguyên) gồm các tỉnh: Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa,
nơi đƣợc Bộ Chính trị xác định là địa bàn chiến lƣợc. Cuốn lịch sử dựng lại hoạt động
của lực lƣợng An ninh Khu VI từ khi thành lập (5/1962) đến khi giải thể (2/1976).
Cuốn sách này vấn đề xây dựng lực lƣợng An ninh Khu VI đƣợc đề cập nhƣng ít bởi
chủ yếu tập trung vào các hoạt động của lực lƣợng An ninh Khu VI từ khi thành lập.
Lịch sử An ninh Khu V thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)
(2008), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. Khu V gồm 9 tỉnh: Quảng Nam, Quảng Đà,
Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc. Công
trình tập trung hoạt động của lực lƣợng An ninh Khu V thời kỳ kháng chiến chống Mỹ
cứu nƣớc. An ninh Khu V là một bộ phận của An ninh miền Nam. Dƣới sự lãnh đạo
trực tiếp của các cấp ủy Đảng, sự chi viện của công an miền Bắc, sự giúp đỡ, đùm bọc
của quần chúng nhân dân, lực lƣợng An ninh Khu V ra đời, vƣợt qua khó khăn, gian
khổ, thiếu thốn, nắm thời cơ, tiến lên giành thắng lợi.
5
Lịch sử An ninh Khu Đông Nam Bộ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
(1954-1975) (2010), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. An ninh khu Đông Nam Bộ
đƣợc xây dựng, trƣởng thành trên địa bàn trọng điểm cửa ngõ thành phố Sài Gòn-Gia
Định. Công trình tập trung dựng lại một cách khách quan quá trình từ khi ra đời đến
kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ. Từ đó khẳng định lực lƣợng An ninh Đông Nam
Bộ dƣới sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy Đảng đã phát huy truyền thống kiên
cƣờng, anh dũng của ngƣời miền Đông, trực tiếp đối đầu với đội ngũ quân tình báo
gián điệp nhà nghề của đế quốc Mỹ và các thế lực phản động tay sai góp phần làm nên
chiến thắng Tua Hai, Đồng Xoài, Bình Giã đập tan các cuộc phản công mùa khô của
địch, mở đầu giải phóng Phƣớc Long, Xuân Lộc làm tiền đề cho chiến dịch Hồ Chí
ninh miền Nam nói riêng từ năm 1960 đến năm 1975.
- Báo cáo của các Khu gửi Trung ƣơng Cục miền Nam.
- Các công trình tổng kết lịch sử của lực lƣợng An ninh miền Nam trong sự
nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc 1954-1975.
- Văn bản các hội nghị công an toàn quốc từ năm 1955 đến năm 1975.
- Các cuốn lịch sử an ninh các khu, lịch sử xây dựng lực lƣợng Công an nhân
dân.
- Tạp chí Công an nhân dân.
- Hồi ký của các đồng chí nguyên là lãnh đạo Bộ Công an, lãnh đạo Ban An
ninh Trung ƣơng Cục miền Nam.
- Tài liệu mật lƣu trữ tại Bộ Công an.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp nghiên cứu chủ yếu là: phƣơng pháp lịch sử và phƣơng pháp
logic. Ngoài ra còn sử dụng một số phƣơng pháp khác nhƣ: phân tích, tổng hợp, thống
kê, so sánh.
6. Đóng góp mới của Luận văn
- Dựng lại một cách khách quan, hệ thống sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong
quá trình xây dựng lực lƣợng An ninh miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975, từ đó
nêu nhận xét về ƣu điểm, hạn chế và rút ra những bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo,
chỉ đạo của Đảng với việc xây dựng lực lƣợng công an ngày nay.
- Khai thác và hệ thống hóa một số tƣ liệu có giá trị qua chỉ thị, nghị quyết của
Đảng trong chỉ đạo xây dựng lực lƣợng An ninh miền Nam thời kỳ kháng chiến chống
Mỹ, cứu nƣớc.
- Cung cấp tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam.
7
7. Bố cục Luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chƣơng:
8
Trƣớc âm mƣu phá hoại của địch, công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ lực lƣợng cách
mạng đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết. Tháng 10/1954, Xứ ủy Nam Bộ thành lập Ban
Bảo vệ Xứ ủy gồm 3 bộ phận: bộ phận địch tình, bộ phận bảo vệ, bộ phận thông tin
liên lạc.
Đƣợc Ban bảo vệ các cấp hƣớng dẫn, quần chúng đứng lên đấu tranh quyết liệt
với công an, mật vụ địch, tiêu diệt bọn ác ôn để bảo vệ Đảng, bảo vệ lực lƣợng cách
mạng.
Để phù hợp với đặc điểm hoạt động trong vùng địch, đầu năm 1955, Xứ ủy
quyết định thành lập Ban Địch tình Xứ ủy.
1.2. Chỉ đạo thành lập lực lượng An ninh miền Nam
1.2.1. Thành lập Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam
Ngọn lửa cách mạng đƣợc thổi bùng lên từ phong trào Đồng khởi. Nhằm đáp
ứng yêu cầu bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng cũng nhƣ chủ động điều tra tấn công
địch, tháng 7/1960 Xứ ủy Nam Bộ ra Chỉ thị số 01 thành lập Ban Bảo vệ An ninh Xứ
ủy và Ban An ninh các cấp.
Chỉ thị nêu rõ:
Trƣớc nay Đảng dựa vào quần chúng làm nền tảng để đấu tranh bảo vệ Đảng,
điều đó rất đúng cần phải tiếp tục. Đã đến lúc cần phải có một tổ chức chuyên trách đi
sâu điều tra nghiên cứu, giúp Đảng nắm chắc tình hình để tổ chức tiến công địch bảo
vệ Đảng, bảo vệ cách mạng.
Ban Bảo vệ An ninh Xứ ủy đƣợc thành lập với phiên hiệu C39B do đồng chí
Phạm Thái Bƣờng, Xứ ủy viên phụ trách. Đồng chí Cao Đăng Chiếm là Phó Ban, sau
bổ sung Huỳnh Việt Thắng vào lãnh đạo Ban.
Với sự ra đời của Ban Bảo vệ An ninh, lực lƣợng an ninh miền Nam đƣợc hình
thành bao gồm lực lƣợng an ninh nhân dân và an ninh vũ trang. Lực lƣợng an ninh
nhân dân hoạt động trong vùng địch kiểm soát, vùng tranh chấp và vùng giải phóng,
làm nhiệm vụ điều tra, nắm tình hình địch, xây dựng cơ sở cách mạng, tấn công làm
vô hiệu hóa các hoạt động điều tra, thu thập tin tình báo của địch, hoạt động của các
đảng phái phản động; bảo vệ nội bộ Đảng, chính quyền, các hoạt động cách mạng
làm Ủy viên phụ trách công tác bảo vệ căn cứ.
Trƣớc yêu cầu của công tác chống do thám, gián điệp, bảo vệ vùng căn cứ, giữa
năm 1961, Khu ủy Khu Đông Nam Bộ quyết định thành lập Ban Bảo vệ An ninh khu
Đông Nam Bộ (T1) do đồng chí Nguyễn Văn Chí, Phó Bí thƣ khu ủy làm Trƣởng ban,
đồng chí Mƣời Đen và Hồ Thảo làm Phó ban.
Tại Khu VI (Cực Nam Trung Bộ), Bộ Công an chi viện 53 ngƣời. Dựa vào số
cán bộ chi viện, Khu ủy và các tỉnh ủy rút thêm một số cán bộ của Đảng và phong trào
10
thành lập Ban Bảo vệ An ninh Khu VI (30/5/1962). Ban An ninh Khu do đồng chí
Trần Lê, Bí thƣ khu ủy làm Trƣởng ban, Trần Đức Hoài (Ba Mỹ) và Thái Xuân Đồng
(Công) làm phó ban và một số cán bộ nghiệp vụ.
Ban An ninh Khu X (gồm Bình Long, Phƣớc Long, Quảng Đức) thành lập cuối
quý 1 năm 1962, do đồng chí Bùi Sang (tức Chính Liêm) làm Trƣởng ban; Nguyễn
Thái Hằng (Tám Toàn) do Bộ Công an chi viện làm Phó ban.
Việc đào tạo cán bộ tại chỗ đƣợc chú trọng, 9/1963, Ban An ninh Trung ƣơng
Cục quyết định thành lập Trƣờng Đào tạo cán bộ an ninh miền Nam nhằm đào tạo cán
bộ lãnh đạo an ninh cấp khu, tỉnh, huyện.
Tiểu kết
Quá trình xây dựng lực lƣợng an ninh miền Nam từ năm 1960 đến năm 1965
gắn liền với bƣớc phát triển của cách mạng miền Nam trong đấu tranh chống chiến
lƣợc “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ và chính quyền thân Mỹ. Đƣợc sự lãnh đạo, chỉ
đạo sâu sắc về mọi mặt của Đảng, Đảng-Đoàn Bộ Công an, trải qua bao gian khổ, khó
khăn ác liệt, thiếu thốn mọi bề, có lúc tƣởng chừng không đứng vững, lực lƣợng an
ninh từng bƣớc xây dựng bộ máy an ninh từ khu, tỉnh đến huyện, xã, nhất là đã gắn bó
với phong trào làm nòng cốt trong công tác xây dựng cơ sở, nắm tình hình địch, diệt ác
phá kềm; tuyên truyền, vận động quần chúng đấu tranh phá ấp chiến lƣợc, giành quyền
làm chủ.
CHƢƠNG 2
nhiệm vụ lâu dài, trong đó chính trị, tƣ tƣởng là một trong những yếu tố tạo nên sức
mạnh tinh thần để chiến đấu và chiến thắng.
Để thống nhất công tác tuyên truyền giáo dục trong lực lƣợng Công an, ngày
20/11/1965, Bộ Công an quyết định hợp nhất tờ tin Công an nhân dân vũ trang với Nội
san Công an nhân dân thành Báo Công an nhân dân. Đây là cơ quan tuyên truyền,
động viên, giáo dục chính trị tƣ tƣởng và tuyên truyền đƣờng lối chính sách của Đảng,
Nhà nƣớc trên lĩnh vực an ninh trật tự cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân.
Xuất phát từ yêu cầu công tác chính trị, tƣ tƣởng, lãnh đạo Bộ Công an và Đài
Phát thanh tiếng nói Việt Nam thống nhất giành cho chƣơng trình phát thanh “Vì An
ninh Tổ quốc” vào 17 giờ 15 phút một ngày trong tuần. Ngày 24/12/1965, Chƣơng
trình phát thanh “Vì An ninh Tổ quốc” lần đầu tiên đƣợc phát sóng. Đặc biệt mục
“Nâng cao cảnh giác” đƣợc nhiều cán bộ chiến sĩ và nhân dân quan tâm theo dõi.
Tháng 10/1966, thực hiện Chỉ thị số 125/CT-TW của Bộ Chính trị và Chỉ thị số
67/CT-TW của Ban Bí thƣ về công tác chính trị tƣ tƣởng. Bộ Công an tổ chức Đại hội
12
thi đua “Vì an ninh Tổ quốc quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lƣợc” lần thứ nhất
trong toàn lực lƣợng Công an nhân dân. Đại hội đã tuyên dƣơng tập thể và cá nhân anh
hùng đồng thời kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ học tập và làm theo tấm gƣơng đó.
Công tác chính trị tƣ tƣởng giúp cán bộ, chiến sĩ công an nhận thức rõ hơn tính
chất gay go, quyết liệt của cuộc đấu tranh, nâng cao thêm ý chí cách mạng, xây dựng
quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lƣợc, đồng thời bồi dƣỡng cho cán bộ, chiến sĩ
công an về quan điểm độc lập, tự chủ, tự lực cánh sinh, quan điểm chiến tranh nhân
dân, quan điểm quần chúng, nâng cao tinh thần yêu nƣớc, yêu chủ nghĩa xã hội, tinh
thần hợp tác quốc tế, ý chí quyết tâm tiêu diệt địch. Mặt khác, bồi dƣỡng cho cán bộ,
chiến sĩ công an về phẩm chất đạo đức cách mạng, nâng cao ý chí chiến đấu, tinh thần
khắc phục khó khăn, có tác phong điều tra nghiên cứu cụ thể, tỉ mỉ, chính xác, đi sâu
đi sát quần chúng nhân dân, bám sát cơ sở.
2.1.2. Củng cố tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ
Trong năm 1965, bộ máy an ninh tỉnh, huyện, xã đều phát triển, đa số Ban An
miền Nam ruột thịt”, “Ngƣời tốt việc tốt”, nhất là cuộc thi đua tổng kết 4 năm chống
Mỹ, cứu nƣớc có tác dụng thúc đẩy phong trào thi đua chung, tạo không khí phấn khởi
thực hiện công tác chuyên môn.
Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc của nhân dân đang diễn ra gay
go, quyết liệt, ngày 2/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc qua
đời. Đây là tổn thất vô cùng to lớn đối với toàn Đảng, toàn quân và toàn dân.
Biến đau thƣơng thành hành động cách mạng, ngày 29/9/1969 Bộ Chính trị
Trung ƣơng Đảng quyết định mở đợt sinh hoạt chính trị để toàn Đảng, toàn quân và
toàn dân học tập và làm theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thực hiện quyết định
của Bộ Chính trị, lãnh đạo Bộ Công an chủ trƣơng tổ chức đợt sinh hoạt chính trị trong
toàn lực lƣợng Công an nhân dân học tập và làm theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí
Minh.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác chính trị tƣ tƣởng, các cấp ủy Đảng,
ban an ninh các khu và tỉnh đã tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức rõ
âm mƣu của địch, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nắm vững tình hình và
nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới.
Giữa lúc cuộc chiến tranh đang diễn ra ác liệt, để động viên và tuyên dƣơng
những tập thể và cá nhân anh hùng, tháng 6/1970, Bộ Công an tổ chức Đại hội thi đua
“Vì an ninh tổ quốc, quyết thắng giặc Mỹ xâm lƣợc” lần thứ hai. Đại hội tiến hành
tổng kết phong trào thi đua 5 năm (1966-1970), biểu dƣơng thành tích của các tập thể,
cá nhân anh hùng, chiến sĩ thi đua, tiêu biểu.
14
Từ năm 1969-1971, các ban an ninh từ Trung ƣơng Cục đến các khu, tỉnh,
thành phố củng cố, xây dựng đƣợc 1.542 cơ sở điệp báo, trong đó có nhiều cơ sở đƣợc
xây dựng trong ngành Cảnh sát Quốc gia ngụy, Tổng liên đoàn lao công, hãng dệt
Vinytex.
Cùng với việc chi viện cán bộ, Bộ Công an đã chi viện phƣơng tiện vũ khí, đạn
dƣợc máy móc phục vụ công tác nghiệp vụ cho An ninh miền Nam đáp ứng yêu cầu
chiến trƣờng.
trƣờng miền Nam.
Trƣớc thất bại nặng nề của Mỹ trên chiến trƣờng miền Nam và khủng hoảng
nghiêm trọng trong nội bộ chính giới Mỹ qua vụ Oa-tơ-ghết, ngày 9/8/1974, tổng
thống Mỹ Ních-xơn phải tuyên bố từ chức, Giê-rôn-pho lên thay. Mặc dù cố duy trì
chính quyền Thiệu để bám lấy miền Nam, nhƣng Mỹ vẫn không thể đƣa quân trở lại
cứu nguy cho chế độ.
Ở miền Nam, những chiến thắng liên tiếp và to lớn trên khắp các chiến trƣờng
đã tác động mạnh mẽ, sâu sắc đến tƣ tƣởng, tình cảm của cán bộ, chiến sỹ an ninh, tạo
khí thế phấn khởi, tin tƣởng vào đƣờng lối, chủ trƣơng giải phóng miền Nam và nhiệm
vụ công tác an ninh phục vụ sự lãnh đạo của Đảng.
Thực hiện quyết tâm chiến lƣợc của Đảng, lực lƣợng Công an động viên cán
bộ, chiến sĩ, huy động sức mạnh của toàn lực lƣợng phục vụ chiến dịch Hồ Chí Minh.
Do có sự chuẩn bị toàn diện, trong quá trình diễn ra chiến dịch, lực lƣợng An
ninh bảo vệ tuyệt đối các cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo chiến dịch, bảo vệ các cuộc hành
quân và vận chuyển vũ khí, phƣơng tiện, các hƣớng tiến công chiến lƣợc, bảo vệ lực
lƣợng vũ trang bảo đảm vũ khí nằm trong tay những ngƣời tin cậy.
Tiểu kết
Từ năm 1965 khi Mỹ chuyển sang các chiến lƣợc chiến tranh “Chiến tranh cục
bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh”, dƣới sự lãnh đạo của Đảng, lực lƣợng An ninh miền
Nam đã có sự thay đổi tổ chức, bộ máy đáp ứng với đòi hỏi tình hình mới. Thời kỳ từ
năm 1965 đến 1975, hai mặt công tác đƣợc đặc biệt chú trọng trong xây dựng lực
lƣợng An ninh miền Nam là công tác chính trị tƣ tƣởng và công tác cán bộ. Trong
hoàn cảnh chiến tranh ác liệt công tác chính trị tƣ tƣởng đƣợc Đảng quan tâm động
viên toàn thể cán bộ và nhân dân tham gia vào cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ, đây
là cuộc đấu tranh đầy gay go, quyết liệt, có những lúc lực lƣợng an ninh thiệt hại nhiều
(năm 1968), song công tác chính trị tƣ tƣởng đã làm cho cán bộ chiến sĩ tin tƣởng vào
con đƣờng Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn, vƣợt qua mọi khó khăn gian khổ
và thiếu thốn, vừa chiến đấu, vừa xây dựng, phát triển lực lƣợng. Sau mỗi lần thất bại,
Mỹ và chính quyền Sài Gòn thay đổi chiến lƣợc mới thì tổ chức tình báo, cảnh sát, biệt
đấu tranh chính trị. Cách mạng đƣợc thổi bùng lên từ phong trào “Đồng khởi” cuối
năm 1959 và năm 1960. Trƣớc tình hình cách mạng phát triển, nhằm đáp ứng yêu cầu
tất yếu của lịch sử, cần có lực lƣợng bảo vệ Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng cũng
17
nhƣ chủ động điều tra, tấn công địch, tháng 7/1960, Xứ uỷ Nam Bộ ra Chỉ thị 01 thành
lập Ban Bảo vệ An ninh Xứ uỷ và Ban An ninh các cấp, nơi nào có điều kiện thì hình
thành ngay, không cần tuần tự từ trên xuống. Nguồn cán bộ cốt cán tập hợp từ những
cán bộ công an vũ trang và những cán bộ từ các ban, ngành, đoàn thể do các cấp ủy
chọn lọc đƣa sang để có thể nhanh chóng lập thành tổ chức an ninh các cấp. Do phong
trào quần chúng sôi động khắp nơi, tổ chức an ninh cơ sở đƣợc xây dựng rộng khắp
nên nguồn bổ sung của lực lƣợng an ninh khá chắc chắn. Dƣới sự lãnh đạo của Đảng,
trực tiếp là Trung ƣơng Cục miền Nam, lực lƣợng an ninh đƣợc xây dựng từ Trung
ƣơng Cục đến hệ thống an ninh các cấp. Vƣợt qua hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, thiếu
thốn, lực lƣợng an ninh đƣợc xây dựng đáp ứng kịp thời, hiệu quả yêu cầu bảo vệ
Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng, đồng thời là lực lƣợng nòng cốt, xung kích trong
điều tra, tấn công địch. Từ 1965-1975, Đảng lãnh đạo củng cố, kiện toàn bộ máy an
ninh các cấp, làm bộ máy ngày càng hoàn thiện, phát huy tốt vai trò, phát huy tốt vai
trò là lực lƣợng bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng, vừa là lực lƣợng xung kích, góp phần
quan trọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nƣớc.
Thứ hai, để xây dựng lực lượng An ninh miền Nam vững mạnh, Đảng coi công
tác cán bộ có tầm quan trọng hàng đầu
Trong lịch sử đấu tranh dựng nƣớc và giữ nƣớc, ông cha đã ý thức rõ việc dùng
ngƣời là quốc sách. Đó không chỉ là nguyên nhân duy nhất nhƣng có tác dụng trực tiếp
đến sự tồn vong của quốc gia, sự trƣờng tồn và phát triển của dân tộc. Phát huy
phƣơng sách dùng ngƣời của cha ông để lại, Đảng đặc biệt quan tâm đến công tác cán
bộ, coi cán bộ là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí
Minh cho rằng khi đã có đƣờng lối cách mạng đúng thì cán bộ là khâu quyết định.
Ngƣời viết: “thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”, “cán bộ là cái gốc
của mọi việc”. Quán triệt và thực hiện quan điểm đó, trong xây dựng lực lƣợng an ninh
sung, củng cố, ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của cách mạng, đánh thắng các
chiến lƣợc chiến tranh của Mỹ. Nguồn cán bộ của lực lƣợng an ninh đƣợc chú trọng
ngay từ khi tuyển chọn, đảm bảo đủ tiêu chuẩn, trong đó đặc biệt chú ý là phẩm chất
chính trị và lập trƣờng giai cấp, ý chí đấu tranh, lòng nhiệt tình cách mạng. Từ nguồn
cán bộ đó tiếp tục đƣợc ban an ninh đào tạo, bồi dƣỡng để nâng cao chất lƣợng nghiệp
vụ. Chính những con ngƣời đó, dƣới sự lãnh đạo của Đảng đã góp phần quan trọng
làm nên chiến thắng vang dội giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Thứ ba, trong quá trình chỉ đạo xây dựng lực lượng An ninh miền Nam Đảng
hết sức coi trọng lãnh đạo công tác chính trị tư tưởng.
19
Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh, trật tự Việt Nam đã chứng minh sự lớn mạnh
của lực lƣợng Công an nhân dân bao giờ cũng bắt đầu từ sự vững mạnh về chính trị, tƣ
tƣởng. Mọi thành tích của cán bộ, chiến sĩ công an đều bắt nguồn từ quan điểm, tƣ
tƣởng đúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, nhiều lần
nhắc đi nhắc lại vấn đề này trong các bài nói và viết: “Tƣ tƣởng không đúng đắn thì
công tác ắt sai lầm”; “tƣ tƣởng có thống nhất, hành động mới thống nhất”; Ngƣời coi
“Lãnh đạo tƣ tƣởng là quan trọng nhất. Phải hiểu tƣ tƣởng của mỗi cán bộ để giúp đỡ
thiết thực cho công tác, vì tƣ tƣởng thông suốt thì làm tốt, tƣ tƣởng nhùng nhằng thì
không làm đƣợc việc”. Nhƣ vậy, công tác tƣ tƣởng có tầm quan trọng đặc biệt, nó định
hƣớng cho quá trình công tác của mỗi cán bộ, chiến sĩ; hành động có đúng hay không
trƣớc hết phải bắt nguồn từ tƣ tƣởng có đúng đắn hay sai lầm.
Nhận thức đƣợc tầm quan trọng đặc biệt đó, nhất là trong hoàn cảnh cuộc đấu
tranh của nhân dân lúc đầu gặp rất nhiều khó khăn, một trong những khó khăn là lực
lƣợng cách mạng quá nhỏ bé, vũ khí trang bị thô sơ, lại phải đƣơng đầu với đế quốc
sừng sỏ, có kinh nghiệm trong chiến tranh gián điệp, chiến tranh tâm lý, với trang bị
vũ khí hiện đại, có tiềm lực về kinh tế. Trong điều kiện đó, nếu không làm tốt công tác
chính trị tƣ tƣởng sẽ hoang mang, dao động.
Qua các giai đoạn cách mạng từ năm 1960 đến năm 1975, tuỳ theo tình hình cụ
thể, Đảng có những chủ trƣơng, biện pháp, với nhiều hình thức thích hợp để lãnh đạo
Nguyên nhân cơ bản của những ƣu điểm trên là:
Thứ nhất, Đảng lãnh đạo mọi mặt công tác xây dựng lực lƣợng An ninh miền
Nam, Đảng đề ra đƣờng lối, phƣơng châm, nguyên tắc xây dựng lực lƣợng an ninh phù
hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong từng thời kỳ cách mạng.
Thứ hai, Đảng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng lực lƣợng
cách mạng với nhiều hình thức, tổ chức thích hợp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ nặng nề,
phức tạp của công tác an ninh miền Nam.
Thứ ba, Đảng luôn nhận thức đúng đắn và sâu sắc vai trò của công tác xây dựng
lực lƣợng trong tạo sức mạnh căn bản của công tác an ninh.
3.1.2. Hạn chế:
Một là, công tác chính trị tư tưởng chưa được tiến hành đồng đều, chỉ làm từng đợt, chỉ
làm từng đợt, từng thời gian, chưa tiến hành thường xuyên, liên tục.
Nhận thức về tính chất, đặc điểm của cuộc đấu tranh chống phản cách mạng của
nhiều cán bộ, chiến sĩ chƣa sâu sắc, chƣa nhận thức đầy đủ về đối tƣợng, âm mƣu,
mức độ hoạt động của các loại phản cách mạng trong địa phƣơng, tƣ tƣởng chuyên
chính đối với địch chƣa mạnh, nhiệt tình cách mạng của một số cán bộ, chiến sĩ chƣa
cao. Biện pháp giáo dục chính trị, tƣ tƣởng chƣa toàn diện, nặng về mở lớp, tổ chức
21
học tập, chƣa chú ý đi sâu vào tƣ tƣởng, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ, nhất là trong
những thời điểm khó khăn, gian khổ.
Việc khen thƣởng thời gian đầu chƣa thực hiện, đến năm 1966 việc khen
thƣởng có tiến bộ nhƣng còn chậm. Về kỷ luật nói chung thiếu kiên quyết và dứt
khoát, có vấn đề còn để kéo dài, khuynh hƣớng thi hành kỷ luật vẫn chƣa chú trọng
đúng mức bảo đảm tổ chức kỷ luật, bảo đảm thi hành chính sách và công tác.
Năm 1972, khi quân và dân miền Nam mở các đợt tiến công và nổi dậy, Bộ
trƣởng Bộ Công an ban hành chỉ thị động viên chính trị toàn ngành. Mặc dù đạt đƣợc
kết quả nhƣng còn một số mặt tiêu cực chƣa khắc phục: trƣớc những diễn biến phức
tạp của tình hình thế giới, những khó khăn do chiến tranh gây ra, đã xuất hiện tƣ tƣởng
nóng ruột, lo chiến tranh kéo dài, cá biệt có ngƣời sợ hy sinh gian khổ, thoái thác
lƣợng Đảng đƣa ra Nghị quyết, chƣơng trình phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể của
cách mạng. Đó chính là nhân tố quyết định đối với quá trình phát triển của lực lƣợng
an ninh miền Nam.
3.2.2. Thƣờng xuyên lãnh đạo xây dựng và rèn luyện lực lƣợng, kiện toàn bộ
máy tổ chức để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn của cuộc
kháng chiến
Sức mạnh của an ninh miền Nam bắt nguồn từ Đảng lãnh đạo, toàn dân tiếp
sức và chính từ sự vận động của an ninh miền Nam.
Cán bộ của lực lƣợng an ninh lúc đầu là số cán bộ công an cũ đƣợc phân công
ở lại qua các đợt tố cộng đẫm máu của địch còn vững vàng bám trụ, số cán bộ cốt cán
ở các ban, ngành nhanh chóng đƣợc tuyển chọn từ miền Bắc vào.
Về tổ chức, An ninh miền Nam luôn chú ý xây dựng lực lƣợng thích hợp với
nhiệm vụ chính trị của Đảng qua từng thời kỳ. Cơ cấu của bộ máy an ninh gọn nhẹ, có
sức chiến đấu cao, đảm bảo phát huy chức năng an ninh, thích ứng với yêu cầu và
phƣơng thức hoạt động của từng vùng. Việc tuyển chọn, đào tạo, bồi dƣỡng, đề bạt cán
bộ đảm bảo đúng tính chất giai cấp của Đảng.
Quá trình xây dựng lực lƣợng trong bƣớc chuyển biến của giai đoạn cách mnạg
là quá trình lực lƣợng an ninh vừa chiến đấu, vừa xây dựng, là quá trình đấu tranh giải
quyết mâu thuẫn yêu cầu phát triển về số lƣợng và nâng cao chất lƣợng, là giải quyết
yêu cầu trƣớc mắt và tính toán lâu dài.
3.2.3. Tin tƣởng và dựa chắc vào quần chúng để phát triển lực lƣợng, xây dựng
mạng lƣới an ninh rộng khắp tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến thắng mọi âm mƣu
thủ đoạn của địch.
23
Sống, chiến đấu trên chiến trƣờng gian khổ, ác liệt, cán bộ chiến sĩ an ninh
miền Nam càng hiểu rõ muốn tồn tại, hoạt động và phát triển lực lƣợng phải biết dựa
vào quần chúng nhân dân. Nhân dân là gốc của mọi phong trào. Nhân dân và cán bộ
nhƣ cá với nƣớc. Nếu không có nhân dân thì cán bộ không thể hoạt động đƣợc.
Chính nhờ sự che chở, giúp đỡ của nhân dân, lực lƣợng an ninh đã bám trụ
miền Nam, Đảng đã lãnh đạo thành công trên nhiều mặt, điều đó quyết định thắng lợi
với sự trƣởng thành của lực lƣợng An ninh, nhƣng bên cạnh đó bộc lộ một số hạn chế.
Từ thành công và hạn chế để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho xây dựng
lực lƣợng Công an nhân dân hiện nay.
KẾT LUẬN
Dƣới sự lãnh đạo của Đảng, từ năm 1960 đến năm 1975 lực lƣợng An ninh
miền Nam đã xây dựng từ không đến có, từ ít đến nhiều, trở thành một bộ phận trọng
yếu, góp phần to lớn vào công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Nhân tố quyết định quá trình trƣởng thành và phát triển ấy chính là do lực
lƣợng an ninh miền Nam đã đƣợc Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, xây
dựng trở thành công cụ bạo lực đáng tin cậy của Đảng.
Những nội dung cơ bản lãnh đạo xây dựng lực lƣợng An ninh miền Nam đƣợc
Đảng quán triệt theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin về chuyên chính vô sản,
đƣợc vận dụng sáng tạo vào cách mạng miền Nam; bên cạnh đó Đảng còn vận dụng
những kinh nghiệm chiến đấu trong quá trình xây dựng lực lƣợng Công an từ Cách
mạng tháng Tám đến hết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đảng đã khẳng định
rằng: công cuộc củng cố và tăng cƣờng lực lƣợng Công an nhân dân nói chung, lực
lƣợng An ninh miền Nam nói riêng bao gồm nhiều mặt, trong đó tăng cƣờng về mặt
chính trị, tƣ tƣởng và tổ chức là quan trọng nhất. Lực lƣợng an ninh miền Nam phải
lấy chính trị làm gốc, lấy chính trị chỉ đạo nghiệp vụ trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác-Lênin và lập trƣờng của giai cấp công nhân để thực hiện đầy đủ và tốt nhất chức
năng, nhiệm vụ Đảng giao cho.
Qua thực tiễn cách mạng miền Nam, sự trƣởng thành về mặt tổ chức và chính
trị của lực lƣợng an ninh miền Nam chính là động lực thúc đẩy nghiệp vụ phát triển.
Nghiệp vụ phát triển trên cơ sở chính trị là một đảm bảo vững chắc nhất cho công tác
đấu tranh của lực lƣợng An ninh miền Nam không bị chệch hƣớng, không phạm sai
lầm về chính trị, đồng thời cũng là một đảm bảo chắc chắn nhất để đánh đúng, đánh
mạnh vào các đối tƣợng của an ninh. Sự trƣởng thành về chính trị còn làm cho lực
thành với Tổ quốc, với Đảng, với chính quyền cách mạng, hết lòng hết sức phục vụ
nhân dân, không ngại hy sinh gian khổ, đoàn kết chặt chẽ, công tác tận tụy, chiến đấu
dũng cảm, mƣu trí nêu nhiều tấm gƣơng sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng,