21
vững; vị thế của Việt Nam trên trường
MỞquốc
ĐẦUtế tiếp tục được nâng cao; tạo tiền
đề vững chắc đế phát triển cao hơn trong giai đoạn sau. Chiến lược cũng đã
xác định rõ một trong ba đột phá là phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là
nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đối mới căn bản, toàn diện
LÝchặt
DO chẽ
CHỌN
TÀInguồn nhân lực với phát
nền giáo dục quốc dân, gắn1.kết
phátĐÈ
triển
triển và ứng dụng khoa học, công nghệ. Sự phát triển của đất nước trong giai
đoạn mới sẽ tạo ra nhiều cơ hội và thuận lợi to lớn, đồng thời cũng phát sinh
nhiều
thức đối
vớivào
sự nghiệp
phátchiến
triên lược
giáo dục".
Nướcthách
ta đang
bước
thời kỳ
mới trong bối cảnh cả thế giới
Cùng
với
Toàn cầu hoá và cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, thúc
sốngquá
chotrình
học hình
sinh".thành
Trong
bật tin
là và
phong
Trường
đẩy
xã đó
hộinổi
thông
kinhtrào:
tế tri“ thức.
Sự học
phátthân
triểnthiện,
kinh
học
sinh
tích
cực”
giai
đoạn
2008-2013
đã
được
triển
toàn
diện,
trong
đó
đổi
mới
công
tác
GDKNS
là
một
tất
yếu.
tục khắng định: “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển
sinh ra
không
phải phần
đã cóquan
thế trọng
thực phát
hiện triển
các công
việc
nguồn Khi
nhân con
lực, người
bồi dưỡng
nhân
tài, góp
đất nước,
thành
được
ngôn
cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho
ngữ, hoạt
động,
thức...
Với tưKNcho
cũng
trẻ em sinh
khôngdục
tự nhiên
giáo
dục và
đàotritạo
là đầu
phátvậy,
triển.”[19,
tr77]ra "Giáo
nước có
ta
được những
kháctriển
nhautrong
như: bối
KNcảnh
giaothế
tiếp,
lý mâu
KN và
trải
nghiệm
của
bản
thân
trẻ
dưới
sự
hướng
dẫn
của
người
lớn.
Nếu
có
được
giải "những biến đổi sâu sắc diễn ra trên khắp thế giới, trong mọi lĩnh vực,
từ
các kỹ
trẻ hội
sẽ dần
thành tình
đượcyêu
những
thái độ
tíchcủa
cựcmỗi
và có
đời
sốngnăng
an
toàn,
khoẻ
mạnh.
sự phát triẻn của các nền giáo dục trên thế giới. Chiến lược phát triên kinh tế xã hội 2011 - 2020 đã khẳng định phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở
thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân
chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được
nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ
3
Do những thay đổi về mặt kinh tế - xã hội cũng có ảnh hưởng tới gia
đình trẻ. Có những gia đình bố mẹ mải lo lắng làm ăn mà quên đi mất đứa con
của mình. Giữa trẻ và bố mẹ không có được sự giao lưu, trao đổi dẫn đến
những hiểu lầm, căng thẳng. Trước những tình trạng này, trẻ phải đi tìm
những nhân tố khác đẻ mong có được sự chia sẻ như: bạn bè, thầy cô, họ
hàng... Một số gia đỉnh tan vỡ, có tình trạng bạo lực gia đình... cũng đặt ra
cho trẻ những nan đề cần phải giải quyết. Lúc này, kỹ năng sống là điều cần
thiết giúp trẻ đủ mạnh đẻ vượt qua những vấn đề mình gặp phải.
Mặt khác, trong giai đoạn hiện nay, trẻ em là “nạn nhân” của những mong đợi
từ người lớn. Bố mẹ muốn con giỏi giang, xuất chúng, bằng bè bằng bạn nên
trẻ được học rất nhiều thứ, từ đàn, ca, múa tới vẽ, võ, nhảy... thêm vào đó là
một chương trình học ở trường cũng nặng không kém.
Vì vậy việc GDKNS cho trẻ là rất cần thiết giúp trẻ rèn luyện những hành vi
có trách nhiệm vói bản thân và cộng đồng: giúp trẻ có khả năng bảo vệ, phòng
ngừa và giảm thiểu các hành vi có nguy cơ gây hại cho sức khoẻ, sự phát triển
thẻ chất và tinh thần của trẻ. KNS còn giúp trẻ ứng xử phù hợp nhất với các
tỉnh huống. Nó giúp trẻ có cách thức tích cực để đối phó với những thách thức
trong cuộc sống.
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề quản lý công tác giáo dục kĩ
năng sống cho học sinh trung học phổ thông.
5.2. Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề quản lý công tác giáo dục kĩ
năng sống của học sinh trung học phổ thông huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng
Bình.
5.3. Đe xuất một số giải pháp quản lý công tác giáo dục kĩ năng sống cho
học sinh trung học phổ thông huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
6. PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Các giải pháp quản lý vấn đề giáo dục kĩ năng sống ở các trường THPT
huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
5
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận đế xây dựng
cơ sở lý luận của đề tài. Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận có các
phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu;
- Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây
dựng cơ sở thực tiễn của đề tài. Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu thực
tiễn có các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp điều tra:
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục;
Chương 1
Cơ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN DÈ QUẢN LÝ
CÔNG TÁC GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
TRƯNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Lịch sử nghiên cứu:
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài:
Thế giới ngày nay thay đối hết sức nhanh chóng, con người vừa là mục
tiêu vừa là động lực cho sự phát triển đó. Trong sự phát triển nhanh như vũ
bão ấy, con người đồng thời tạo ra môi trường sống mới nhưng lại phải luôn
cố gắng thích nghi với môi trường do chính mình tạo ra. Đe thích nghi được
với các môi trường thay đổi liên tục và nhanh chóng thỉ con người buộc phải
hên tục hình thành và củng cố các kỹ năng mới đế sống trong thế giới ấy.
Thiếu sự chuẩn bị các hành trang đó con người sẽ mắc một chứng bệnh mà
Anvil Toffler trong tác phẩm Cú sốc tương lai (The shock of íuture) gọi là
"Cú sốc tương lai", "Nó là sự mất phương hướng đến choáng váng do tương
lai đến quá sớm. Nó có thể là căn bệnh quan trọng nhất của ngày mai. Cú sốc
tương lai không thể tìm thấy trong mục lục y học hoặc trong bất kỳ danh mục
các hiện tượng tâm lý không bình thường nào. Thế nhưng nếu không có
những phương pháp thích hợp chống lại nó thì hàng triệu con người sẽ thấy
họ dần dần bị mất phương hướng, dần dần mất khả năng thích nghi với môi
trường xung quanh".[2, tr3]
Điều này đặt ra yêu cầu tất yếu cho nền giáo dục của các quốc gia trên
thế giới là phải quan tâm đến giáo dục KNS cho thế hệ tương lai, đảm bảo cho
thế hệ ấy có thể vượt qua những khó khăn, thách thức của cuộc sống một cách
tốt nhất.
- Những nghiên cứu về GDKNS và công tác quản lý giáo dục KNS trên thế giới
học, Đại học Thái Nguyên'. Nguyễn Thị Hồng Hạnh [22], Nguyễn Thị Mai[25].
Một số kỹ năng sống cơ bản của sinh viên sư phạm. Tạp chí quản lý giáo dục,
9
tháng 4 năm 2012, Đinh Phước Tường[33]. Giáo dục kĩ năng mềm cho sinh viên
trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Tạp chí Giáo dục, tháng 4 năm 2012....
Tuy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về GDKNS nói chung và
GDKNS cho HSTHPT nói riêng nhưng hiện nay vẫn chưa có đề tài nào nghiên
cứu về công tác quản lý GDKNS cho HS THPT huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng
Bình. Vì vậy tôi chọn đề tài này đế nghiên cứu mong góp phần nâng cao chất
lượng GD toàn diện cho thế hệ trẻ huyện nhà.
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường:
1.2.1.1. Quản lý (Management):
Khái niệm quản lý (QL) đã xuất hiện từ buổi bình minh của xã hội loài
người. Khi mà con người lao động sản xuất, cải biến tự nhiên....
Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong
và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý. Cho đến nay,
vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý. Đặc biệt là kể từ thế kỷ 21,
các quan niệm về quản lý lại càng phong phú. Các trường phái quản lý học đã
đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau:
F.W.Tailor: "Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc
gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm " [14, tr68]
Peter. F. Dalark: "Định nghĩa quản lý phải được giới hạn bởi môi trường
bên ngoài nó. Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chính là: Quản lý doanh
nghiệp, quản lý giám đốc, quản lý công việc và nhân công". [16].
Theo Mary Parker Follett thì quản lý là "nghệ thuật khiến công việc được
làm bởi người khác". [36].
1.2.2.
Kĩ năng và kĩ năng sống:
1.2.2.1. Khái niệm kỹ năng (Skill):
“Kỹ năng” là khả năng thao tác, thực hiện một hoạt động nào đó. Có
nhiều điều ta biết, ta nói được mà không làm được. Như vậy, luôn có một
11
khoảng cách giữa thông tin, nhận thức và hành động. Biết thuốc lá có hại
nhưng bỏ thuốc lá rất khó vì rất khó thay đổi một hành vi, biết tập thể dục là
rất tốt cho sức khỏe nhưng đẻ có hành vi tập thể dục đều đặn thì là cả vấn đề.
Trong cuộc sống, ta thường khen hành vi của một ai đó, thí dụ: em viết
chữ thật đẹp, bạn thuyết trình thật hay; cậu ấy sửa máy móc giỏi lắm... Điều
này có nghĩa chúng ta đang nói về những cá nhân ấy đã biết sử dụng kiến thức
học được vào thực hiện thành thục các nhiệm vụ khác nhau của cuộc sống.
Với KNS cũng vậy, nếu bạn có đầy đủ các kiến thức trong cuộc sống, thế
nhưng bạn lại chưa có KN cuộc sống (bao gồm rất nhiều KN) và biết sử dụng
linh hoạt các kỹ năng này thì không đảm bảo được là bạn sẽ có thê đưa ra
quyết định hợp lý, giao tiếp có hiệu quả hay có mối quan hệ tốt với những
người khác. Vì vậy bạn cần phải có các KN đặc biệt cho cuộc sống và được
gợi là “Kỹ năng sống”.
1.2.2.2.
Kỹ năng sống (Life Skills):
KNS (life skills) là cụm từ được sử dụng rộng rãi nhằm vào mọi lứa
tuổi trong mọi lĩnh vực hoạt động.
KNS đề cập đến mọi lĩnh vực hoạt động từ học tập để chuẩn bị vào
nghề, cách học ngoại ngữ, kỹ năng làm cha mẹ đến tổ chức trại hè. Tuy nhiên
một số tác giả phân biệt giữa những “kỹ năng để sống còn” (livelihood skills,
survival skills) như học chữ, học nghề, làm toán ... tới bơi lội ... với “kỹ
chống HIV / AIDS hay giáo dục lòng yêu hòa bình ...
GDKNS là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây
dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực
trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và kỹ năng thích
hợp.
Vì vậy, GDKNS cho HS được hiếu là giáo dục những kỹ năng mang
tính cá nhân và xã hội nhằm giúp các em có thể chuyển tải những gì mình biết
14
(nhận thức), những gì mình cảm nhận (thái độ) và những gì mình quan tâm
(giá trị) thành những khả năng thực thụ giúp học sinh biết phải làm gì và làm
như thế nào (hành vi) trong những tình huống khác nhau của cuộc sống.
Sau một thập kỷ áp dụng GDKNS trên thế giới, các cuộc nghiên cứu đánh
giá kết quả và cho thấy những thanh thiếu niên được GDKNS đã có những
hành vi đổi mới, những hành vi đó được quan sát thấy như sau:
- Biết họp tác tốt trong đội, nhóm.
- Có lối sống lành mạnh, nhận thấy trách nhiệm về sức khỏe của mình.
- Giải quyết mâu thuẫn một cách hòa bình.
- Biết phân tích có phán đoán các giá trị, quy chuẩn trong truyền thông và
ngoài xã hội.
- Thành công hon trong các cuộc phỏng vấn xin việc làm.
- Biết tự khẳng định và xử sự bình đẳng.
- Biết biểu lộ sự bao dung, sự tôn trọng người khác.
- Ý thức về giá trị bản thân.
- Nhạy bén đối vói các vấn đề giới, tôn trọng quyền con người.
- Biết quan tâm đến nhu cầu của người khác và sẵn sàng giúp đỡ họ.
Theo tố chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên họp quốc (UNESCO),
KNS gắn với 4 trụ cột của GD:
- Giải pháp QL công tác GDKNS cho HS:
Từ các khái niệm về QL và giải pháp ta có thẻ coi "giải pháp QL" là hệ
thống các cách thức tác động của chủ thể QL lên đối tượng QL nhằm đạt mục
đích đề ra.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn nhà QL đề xuất các giải
pháp QL nhằm điều khiển một cách có hiệu quả hệ thống QL của mình.
Giải pháp QL công tác GDKNS cho HS THPT là cách thức tác động của
hiệu trưởng đến đội ngũ cán bộ GV, các lực lượng giáo dục trong và ngoài
nhà trường để đạt được mục tiêu GDKNS, góp phần nâng cao hiệu quả giáo
dục toàn diện cho HS THPT.
16
1.3. Một số vấn đề về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học
phổ thông:
1.3.1. Tầm quan trọng của công tác GDKNS cho hoc sinh THPT:
Nhiều nghiên cứu đã cho phép đi đến kết luận là trong các yếu tố
quyết định sự thành công của con người, KNS đóng góp một phần rất quan
trọng (85%) [37]. (Theo PGS-TSKH Trần Thượng Tuấn- Nguyên Hiệu
trưởng trường ĐH cần Thơ) .Theo UNESCO ba thành tố hợp thành năng lực
của con người là: kiến thức, KN và thái độ. Hai yếu tố sau thuộc về KNS, có
vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách, bản lĩnh, tính chuyên
nghiệp...
Thành công chỉ thực sự đến vói những người biết thích nghi đế làm
chủ hoàn cảnh và có khả năng chinh phục hoàn cảnh. Vì vậy, KNS sẽ là hành
trang không thể thiếu. Biết sống, làm việc, và thành đạt là ước mơ không quá
xa vời, là khát khao chính đáng của những ai biết trang bị cho mình những
KNS cần thiết và hữu ích.
KNS tốt thúc đấy thay đổi cách nhìn nhận bản thân và thế giới, tạo
hội... cũng như đối với môi trường tự nhiên.
- GDKNS giúp HS xác định rõ giá trị bản thân và khả năng sẵn sàng vượt
qua những khó khăn trong cuộc sống, chuẩn bị cho HS THPT bước vào cuộc
sống mới một cách tự lập, tự tin và hướng tới thành công trong tương lai.
GDKNS đầy đủ sẽ giúp HS trở thành người công dân tương lai giàu lòng yêu
nước, sẵn sàng cống hiến sức lực, tài năng của mình cho đất nước, có đạo
đức, hành vi xã hội tích cực.
1.3.2. Mục tiêu của GDKNS cho HS THPT:
Mục tiêu của GD Việt Nam đang có những chuyến biến tích cực từ cung
cấp kiến thức là chủ yếu sang hình thành và phát triển các năng lực cần thiết ở
người học nhằm đáp ứng nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đồng thời gắn với 4 trụ cột của GD:
18
-
Học để biết (Leaming to know): KN tư duy như: tư duy phê phán, tư duy
sáng
tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả,...
- Học đế làm: KN thực hiện công việc và các nhiệm vụ như: KN đặt mục tiêu,
đảm nhận trách nhiệm,...
Học đê sống với người khác ( Leaming to live together) : KN xã hội như: giao
tiếp, thưong lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm
thông, ..
- Học làm người (Leaming to be): KN cá nhân như: ứng phó với căng thăng,
kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin,...
GDKNS cho HS THPT hướng tói các mục tiêu CỊ1 thể sau:
rõ rệt. Tư duy ngôn ngữ và các phâm chất ý chí có điều kiện phát triển mạnh.
Hầu hết các em đã qua thời kỳ phát dục, giới tính biêu hiện rõ cả bên ngoài
lẫn chức năng bên trong, ơ lứa tuổi này các em vẫn dễ bị kích thích nhưng
nguyên nhân không chỉ là do sinh lý mà còn do cách sống cá nhân.
Nhìn chung ở độ tuổi HS THPT các em đã có sức khoẻ và sức chịu
đựng tốt hơn tuổi thiếu niên. Thể chất phát triển mạnh mẽ, sung sức. Sự phát
triển thể chất ở lứa tuổi này có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển tâm lý
và nhân cách, đồng thời ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề nghiệp của các em
sau này.
1.3.3.2. Điều kiện sống và hoạt động:
- Vị trí trong gia đình:
Trong gia đình các em đã có quyền lợi và nghĩa vụ như người lớn, bố
mẹ bắt đầu trao đổi một số vấn đề quan trọng trong gia đình. Các em cũng đã
thấy quyền hạn và trách nhiệm bản thân đối với gia đình, bắt đầu quan tâm,
chú ý đến nề nếp, lối sống sinh hoạt và các điều kiện kinh tế chính trị của gia
đình.
- VỊ trí trong nhà trường:
20
ơ nhà trường thì hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo nhưng tính
chất và mức độ phức tạp hơn rất nhiều ở lứa tuổi HS trung học cơ sở, đòi hỏi
các em phải tích cực, chủ động và độc lập hơn, các em phải biết vận dụng tri
thức khoa học một cách sáng tạo. Đồng thời phải có tư duy phê phán ở mức
độ nhất định và hình thành các kỹ năng có ích cho cuộc sống sau này. Trong
nhà trường các em vừa là HS nhưng đồng thời cũng sinh hoạt trong tổ chức
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, điều này giúp các em phát triển năng lực sinh hoạt
tập thế, hình thành tính nguyên tắc, tinh thần trách nhiệm biết tự phê và phê
bình.
+ Kỹ năng nhận biết và sống với chính mình gồm: KN tự nhận
thức; Lòng tự trọng; Sự kiên định; Đương đầu với cảm xúc; đương đầu với
căng thẳng.
+ Nhũng kỹ năng nhận biết và sống với người khác bao gồm:
KN quan hệ / tương tác liên nhân cách; sự cảm thông; đứng vững trước áp lực
tiêu cực của bạn bè hoặc của người khác; thương lượng giao tiếp có hiệu quả.
+ Các kỹ năng ra quyết định một cách hiệu quả bao gồm các
KN: Tư duy phê phán; Tư duy sáng tạo; Ra quyết định; Giải quyết vấn đề.
(Bộ Giáo dục & đào tạo, vụ Thể chất, 1998)
Dựa trên cơ sở phân loại đó chúng tôi đề xuất một số KNS cần giáo dục cho
HS THPT đó là:
1.3.41. Kv năng giao tiếp.
KN giao tiếp là một trong những KN mềm cực kỳ quan trọng trong thế
kỷ 21. Đó là một tập họp những qui tắc, nghệ thuật, cách ứng xử, đối đáp
được đúc rút qua kinh nghiệm thực tế hằng ngày giúp mọi người giao tiếp
hiệu quả thuyết phục hơn khi áp dụng thuần thục KN giao tiếp. Có thể nói KN
giao tiếp đã được nâng lên thành nghệ thuật giao tiếp bởi trong bộ KN này có
rất nhiều KN nhỏ khác như KN lắng nghe, KN thấu hiểu, KN sử dụng ngôn
ngữ cơ thể, KN sử dụng ngôn từ, âm điệu... Đế có được KN giao tiếp tốt đòi
22
hỏi người sử dụng phải thực hành thường xuyên, áp dụng vào mọi hoàn cảnh
mới có thể cải thiện tốt KN giao tiếp của mình.
Nghe, nói, đọc, viết là bốn KN giao tiếp quan trọng cho mỗi con người.
Khi đi học, chúng ta dành 45% thời gian để học viết, 35% để học đọc, 25% để
học nói, nhưng ít ai được dạy cách lắng nghe. Nhưng lớn lên, ra đòi chúng ta
nhận ra chính KN lắng nghe mới là quan trọng hàng đầu. Nhiều người có thể
nói nửa ngày, nhưng nghe người khác vài phút đã phải cố gắng...
giá trị sống tích cực là chiếc neo giúp chúng ta ổn định, vững chãi giữa những
biến động của cuộc đời, có thể sẽ không dễ dàng gì nhưng ta vẫn vượt qua
được mà không cảm thấy bị thua thiệt, mất mát.
Các KNS trọng yếu là các KN cá nhân hay xã hội giúp trẻ em và thanh
thiếu niên truyền đạt những điều họ biết (Kiến thức), những gì họ suy nghĩ
hay cảm nhận (Thái độ) và những gì họ tin (Giá trị) trở thành khả năng thực
tiễn về những gì cần làm và làm như thế nào.
Thanh thiếu niên phải đối mặt vói rất nhiều thử thách. Bằng việc nâng cao
nhận thức và đưa các thành tố trọng yếu của KNS vào cuộc sống của thanh
thiếu niên, điều này sẽ giúp các em nâng cao năng lực đê có được những lựa
chọn lành mạnh hơn, có được sự kháng cự tốt hơn với những áp lực tiêu cực
và kích thích những thay đối tích cực trong cuộc sống của các em.
1.3.4.3. Kỹ năng tự nhận thức:
KN tự nhận thức bản thân (hiểu đơn giản chính là KN “Biết mình là ai”)
là khả năng một người nhận biết đúng đắn rằng: mình là ai, sống trong hoàn
cảnh nào, yêu thích điều gỉ, ghét điều gì, điểm mạnh và điểm yếu của mình ra
sao, vị trí của mình trong mối quan hệ với người khác như thế nào; nhận biết
cảm xúc của mình có ảnh hưởng như thế nào đến suy nghĩ và hành vi; hay
mình có thể thành công ở những lĩnh vực nào...
Kỹ năng nhận thức bản thân cần thiết vì:
• Nó giúp chúng ta ứng xử, hành động phù họp với điều kiện, hoàn cảnh
24
của mình.
Nhận ra điếm mạnh của bản thân để phát huy.
Nhận ra điểm yếu đế khắc phục.
Biết rõ bản thân mình muốn gì, có những năng lực gì, gặp những khó
khăn - thách thức nào... để có thể điều chỉnh mục tiêu cuộc sống cho