Tác dụng của luyện tập yoga lên huyết áp và một số chỉ tiêu liên quan ở bệnh nhản TUA nguyên phát giai đoạn 1 - Pdf 33

LỜI CẢM ƠN
Bộ giáo dục và đào tạo
Trường đại học vinh
--------------------Tôi xin chân thành cảm ơn với tất cả lòng biết ơn sâu sắc đến:
LÊ THỊ LAN NGỌC
Ban Giám hiệu tnrờng Đại học Vinh đã tạo điều kiện cho tôi được học
tập và nghiên cứu khoa học tại trường.

TÁC DỤNG
YOGA
LÊN
Phòng
Đào tạoCỦA
SauLUYỆN
đại học TẬP
- Trường
Đại
họcHUYẾT
Vinh đãÁP
tạoVÀ
điều kiện
CHỈ
TIÊU
QUAN Ở BỆNH NHÂN TĂNG
thuận lợiMỘT
cho tôiSÓ
thực
hiện
luận LIÊN
vãn này.
HUYÉT ẮP NGUYÊN PHÁT GIAI ĐOẠN 1

NỘI DUNG

TRAN

NHỮNG CHỮ VIÉT
TẮT
TRONG LUẬN VĂN
MỤC
LỤC

BMI

: Chỉ số khối cơ
thể

ĐMC

: Động mạch chủ
: Huyết áp

HA
: Low Density Lipoprotein
LDL-Cholesterol

Cholesterol
: Huyết áp tâm thu
: Huyết áp tâm truơng

HATT


49

SINH
3.5 . ẢNH HƯỞNG CỦA TẬP YOGA LÊN CÁC CHỈ SÓ

49

LIPID

3.5.5. Hiệu quả làm giảm tỷ lệ bệnh nhân tăng huyết áp nguyên

4.2. Bàn luận về hiệu quả của tập Yoga lên các chỉ số huyết áp ở
4.3. Bàn luận về hiệu quả của luyện tập Yoga lên sự thuyên giảm

54

56
59


Bi

rp /\ 1 • Ẵ 4 Ầ

Trang

DANH
MỤC
CÁC
BẢNG

48

3.

Tỷ lệ bệnh nhân có tăng Cholesterol toàn phần sau thòi điểm

50

3.1
Tỷ lệ bệnh nhân có tăng Triglycerid sau thời điểm luyện tập 6
1

51

3.

Tỷ lệ bệnh nhân có tăng LDL-Cholesterol sau thời điểm luyện

52

3.

Tỷ lệ bệnh nhân có giảm HDL-Cholesterol sau thời điểm luyện

53

3.
14

Tỷ lệ bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát giai đoạn 1 có rối


Hiệu quả của luyện tập Yoga lên các chỉ số BMI, Vòng bụng, lớp

47

3.
11

Ảnh hưởng của luyện tập Yoga lên các chỉ số ure, creatinin và
acid uric huyết thanh ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát giai

49


1
ĐẶT VẤN ĐÈ

Tăng huyết áp (THA) là một yếu tố nguy cơ cao đối với các bệnh lý tim
mạch ở các nước công nghiệp và ngay tại nước ta. THA đang trở thành một vấn
đề sức khỏe trên toàn cầu do sự gia tăng tuối thọ và tăng tần suất các yếu tố
nguy cơ. THA ước tính là nguyên nhân gây tử vong 7,1 triệu người trẻ tuồi và
chiếm 4,5% gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu (64 triệu người sống trong tàn
phế) [1].

Thực trạng hiểu biết và kiểm soát THA tại Việt Nam rất đáng quan tâm.
Năm 1992, Trần Đỗ Trinh trên 1716 người bị THA thì 67,5% không biết bệnh,
15% biết bệnh nhưng không điều trị, 13,5% điều trị nhưng thất thường và
không
đúng cách, chỉ có 4% là điều trị đúng. Năm 2001, Nguyễn Minh Tâm, Nguyễn
Thị Trúc khảo sát 1582 người từ 18 trở lên tại tỉnh Tiền Giang, 16,1% chưa

Yoga, cho rằng 80% các trường hợp tăng huyết áp là kết quả của sự căng thăng.
Nghiên cứu của Smith, Hancock, Blake-Mortimer, & Eckert (2007),
McCaffrey,
Ruknui, Hatthakit & Kasetsomboon (2010) và nhiều tác giả khác về tác dụng
của Yoga đối vói bệnh tăng huyết áp đã cho thấy: Yoga giúp giảm huyết áp
thông qua giảm căng thẳng, giảm cholesterol máu và tăng độ đàn hồi của thành
mạch [2,4]

ơ Việt Nam, theo nghiên cứu của Hoàng Thị Ái Khuê về tác dụng của
đoạn 1".


3
MỤC TIÊU NGHIÊN cứu

1.

Đánh giá tác dụng của luyện tập Yoga trong việc kiểm soát huyết áp ở

bệnh nhân THA nguyên phát giai đoạn 1 .

2.

Xác định tác dụng của luyện tập Yoga lên một số chỉ tiêu liên quan

đến
huyết áp như các chỉ số nhân trắc và chỉ số lipid máu ở bệnh nhân THA nguyên
phát giai đoạn 1.
NỘI DUNG NGHIÊN cứu


đủ thuốc điều trị THA 8% không đủ phương tiện tối thiểu và 12% không đủ
thuốc điều trị THA trong chăm sóc sức khoẻ ban đầu [52].

Thực trạng hiểu biết và kiểm soát THA tại Việt Nam rất đáng quan tâm.
Năm 1992, Trần Đỗ Trinh trên 1716 người bị THA thì 67,5% không biết bệnh,


65
Bảng 1.1. Phân loại THA theo JNC VI (1997)
mỡ động vật, ăn mặn, ít hoạt động thê lực trong cuộc sống), trong đó vùng
thành thị hiểu đúng chỉ 29,5%. Trong 818 người được phát hiện có THA, chỉ có
94 người là dùng thuốc và tỷ lệ HA được khống chế tốt là 19,1% [14,15,16].
1.1.3. Chẩn đoán tăng huyết áp
1.1.3.1. Chân đoán xác định

Chấn đoán xác định THA rất đơn giản chỉ cần đo HA. Đê đảm bảo chính
xác cần tuân thủ một số nguyên tắc sau đây [18]:
Năm 2004 WHO/ISH đã phân loại mới, lần này các con số HA của người
Bệnh nhân phải trong trạng thái nghỉ ngơi (ít nhất 5 phút trước đo), không
bình thường không đưa vào trong bảng phân loại của người THA.
dùng các chất kích thích có ảnh hưởng đến HA trước khi đo (cà phê, hút thuốc
lá).

Bệnh nhân nên ở tư thế ngồi ghế tựa, cánh tay đế trần, tay đê trên bàn sao
Dựakhuỷu
vào con
số HA
hoặcmột
tâmsốtrưcmg
cho nếp

phải bao được
ít nhất
vi cánh tay. Người to béo bao quấn
Bản thân con số HA chưa đánh giá được mức độ nặng của bệnh mà cần
lớn hơn
phải xác định các yếu tố nguy cơ tim mạch và tổn thương cơ quan đích.
Nên dùngĐánh
máy giá
đo thuỷ
tuy nhiên
đoáp
đồng
hồ hay điện tử cũng
1.1.3.3.
một ngân,
bệnh nhản
tăngmáy
huyết
[12].
được.
Con số huyết áp tâm thu ứng vói pha I của KortkolT và tâm trương là ở pha V.
Việc thăm khám một bệnh nhân THA nhằm 3 mục đích:


7
- Khai thác bệnh sử: Bao gồm

Khai thác tiền sử THA, thời gian, mức độ THA.

Tiền sử các bệnh tim mạch, các triệu chứng bệnh tim mạch, suy tim,

hoặc LDL-C > 4,0 mmol/L(160mg/dl).

6) . HDL-C

10

hiện ban đầu của bệnh thận mạn tính có thể là vi đạm niệu và đái máu vi thể,
nặng hơn là prôtêin niệu đại thể, đái máu đại thể và cuối cùng là suy giảm mức
lọc cầu thận ở các mức độ...
1.1.4.4.

Biến chứng ở mắt

THA có thế gây ra những biến chứng ở mắt làm giảm thị lực, thậm chí
mù loà. Keith -Wagener-Barker đã đề xuất phương pháp đánh giá các tổn
thương đáy mắt do THA theo 4 giai đoạn sau:

Giai đoạn 1: các động mạch co nhỏ, óng ánh như sợi dây đồng.

Giai đoạn 2: có dấu hiệu động mạch bắt chéo các tĩnh mạch (dấu hiệu
Salus Gunn).

Giai đoạn 3: có xuất huyết và xuất tiết ở võng mạc.

Giai đoạn 4: xuất huyết, xuất tiết + phù gai thị.
1.1.4.5.

Biến chúng mạch máu lớn [46]

Phình động mạch chủ (ĐMC) bụng: THA là một trong các yếu tố nguy
cơ chính gây phình ĐMC bụng, có sự liên quan giữa chỉ số HA và tỷ lệ mắc
phình ĐMC bụng: khoảng 3% những người THA nhẹ có tuổi từ 60-75 bị phình
ĐMC bụng trong khi tỷ lệ này là 11% ở những người có HA tâm thu >195

1.2. TÓNG QUAN VÈ YOGA

Yoga là một nghệ thuật cố xưa có nền tảng là một môn khoa học cực kỳ
tinh tế nghiên cứu về thể xác, tâm trí và tinh thần. Yoga có nguồn gốc từ Ân Độ
từ khoảng 5000 năm trước, là một trong sáu hệ thống chính của triết học Ản Độ.
Từ Yoga có nguồn gốc từ tiếng Phạn là yuj , có nghĩa là “hợp nhất lại” hoặc
“kết nối lại”, còn một nghĩa khác có liên quan là “đặt trọng tâm vào” hoặc “sử
dụng”. Trong thuật ngữ triết học thì sự hợp nhất giữa cá nhân và vũ trụ
paramatma chính là Yoga.

Yoga là môn khoa học trị liệu có nguồn gốc từ Ân Độ chứa đựng tinh hoa
trí
tuệ nhân loại đang được nhiều nước áp dụng tập luyện đê tăng cường sức khoẻ,
phòng chữa bệnh tật có hiệu quả [76].


13

nó là Khoa Luyện Trường Sinh. Ngày nay môn Yoga phổ biến và thịnh hành ở
các nước Tây Phương là Hatha Yoga.

Một Yogi (người tập luyện Yoga) muốn đạt đến đỉnh cao phải qua ngưỡng cửa
của Hatha Yoga. Hatha Yoga là nền tảng của tất cả các môn Yoga, là cân bằng
giữa căng và giãn, vận động và nghỉ ngơi. Gọi Hatha Yoga là dưỡng sinh tức là
đánh thấp giá trị của nó vì trong Hatha Yoga có các môn khác và trong các môn
khác đều có Hatha Yoga. Dù ở vào pháp môn nào, các bước căn bản mà một
Yogi phải theo là [76]:

<§> Giới (Yama): Đây là một trong những phần quan trọng nhất. Một Yogi
(người tập Yoga) cần có những yếu tố đạo đức của một con người tốt như:

hợp nhất; tâm được tập trung trên một điểm duy nhất của đối tượng, không còn
tán loạn [51,55].

Tập trung vào hơi thở và vận chuyển khí bao gồm hít vào và thở ra, luyện
tập khống chế nhịp thở. Theo quan niệm của Yoga, hơi thở bao gồm không khí
bên ngoài và khí bên trong cơ thể. Prana là sự kết nối giữa cơ thể con người
(bên trong) và vũ trụ (bên ngoài).

Điều tâm (Pratyahara): Sự khống chế các giác quan và tập trung vào bên
trong cơ thể, “đóng cửa” và tránh sự ảnh hưởng tác động của thế giới bên ngoài.

Tập trung (Dharana): Khi cơ thế được khoẻ mạnh bởi việc luyện tập thê
dục (asana), khí thông suốt bởi hơi thở (pranayama), và các giác quan được
khống chế tập trung sẽ dẫn đến việc tập luyện nhánh thứ sáu là dharana - một
sự tập trung cao độ vào một vật thể, hoặc một thứ cụ thể. Đe đạt được mức độ
này cần có một sự luyện tập lâu dài bền bỉ.


15
1.3. Lợi ích của thực hành Yoga đối với sức khoẻ
1.3.1.

Đặc điểm và tác dụng của hô hấp (pranayama) trong Yoga

Đặc điếm của hô hấp trong Yoga là có sự kết hợp giữa hô hấp bằng ngực,
hô hấp bằng bụng (hô hấp bằng cơ hoành) và 8 kỹ thuật thở khác ừong Yoga.

Hô hấp bằng ngực là hô hấp nhờ các cơ bám vào xương sườn của lồng
ngực. Hô hấp bằng ngực làm cho các thuỳ trên, thuỳ giữa và một phần phối của
thuỳ dưới được giãn nở để đưa không khí vào và ép để đưa không khí ra. Tuy

có sử dụng cơ này. Chỉ có cách thở bụng mới tận dụng được nó, theo cách thở
nay khi ta hít vào thật chậm, sâu thì không khí đi vào phần dưới đáy phối, cơ
hoành đẩy xuống làm cho thận, gan, dạ dày bị ép liên tục. Khi thở ra nó lại co
lên kéo giãn các tạng phủ. Như vậy toàn bộ các cơ quan trong người được mát
xa liên tục. Và sự hô hấp sâu sẽ tác động trên từng tế bào của cơ thê chứ không
phải chỉ là ở hai lá phổi. Phổi thực chất là một cái bơm, bơm khí vào ra "phình
xẹp" vậy thôi. Lồng ngực là cái xi-lanh, còn pít-tông chính là cơ hoành nằm vắt
ngang giữa bụng và ngực. Khi cơ hoành thụt lên thụt xuống thì không khí được
hút vào đẩy ra ở phổi. Cơ hoành hoạt động càng mạnh thì trái tim càng khỏe, có
người ví von rằng cơ hoành là "trái tim thứ hai", là một thành phần tưởng không
giữ vai trò nào nổi bật trong cơ thể, ấy vậy mà lại có thể trở thành đòn bấy cho
trái tim khỏe mạnh. Và nói theo lời của các đạo sư Yoga " không phải sự hô hấp
sinh ra vận động của phổi và ngực lại sự chính sự vận động của phối và cơ
hoành mới tạo ra sự hô hấp". Điều này ta có thể chứng minh bằng cách là "dùng
hai ngón tay bóp vào hai lỗ mũi một người đang ngủ" ta sẽ thấy phần ngực và
cơ hoành chuyển động rất mạnh.

Phương pháp thở bụng 4 thì trong yoga : thở vào - ngừng thở - thở ra ngừng thở [76]. Thực hành bắt đầu bằng thở ra. Việc thở bụng phải tuân thủ 4
nguyên tắc sau: chậm, êm, dài, sâu. Cách thở nay không những tăng cường nội
lực mà còn giúp điều hòa các rối lọan tạng phủ.


17

hoàn toàn nhất, tránh được khả năng đào thải những chất có gốc tự do gây bệnh
và các chất oxy hóa từ tế bào tự hủy vì thiếu oxy, đó là mầm mong của bệnh tật.
Thở vào sâu, sẽ làm cho lượng bợt khí NITRIC OXIDE li ti xuất hiện nhiều
trong máu, chất nầy tác động lên đầu các nưron thần kinh, làm tăng trao đổi
điện hóa giữa các dây thần kinh, tăng chất Dopgamine và Endorphine trong
máu.


Trước khi vào bài tập thở 4 thì, người tập thường phải ốn định tâm thân,
niệm thần “tôi đang theo dõi hơi thở” và tập trung chú tâm vào vùng bụng dưới,
cảm nhận dòng không khí từ ngoài vào tận các phế nang và đưa không khí cặn
từ phế nang ra ngoài.
- Thở Bharmari Pranayama là một loại thuốc bố cho não [85]

Bharmari Pranayama từ có nguồn gốc từ tiếng Phạn Bharmari
pranayogama từ có nghĩa là thở ong vò vẽ. Hiệu quả dễ thấy nhất của nó là làm
thư giãn não. Thực hiện thường xuyên có thể có tác động tích cực trên sự căng
thẳng, mệt mỏi và tăng huyết áp. Bởi những rung động vỏ não sẽ chuyển xuống
trực tiếp đến vùng dưới đồi, kiểm soát của tuyến yên tuyến, tuyến tùng .
Bhramari Pranayama là rất hiệu quả trong việc ngay lập tức làm dịu tâm trí của
người tập xuống . Đây là một trong các bài tập thở tốt nhất đê giải phóng tâm trí
của sự tức giận, lo âu, thất vọng. Đây là một kỹ thuật thở rất hiệu quả cho những
người bị tăng huyết áp vì nó bình tĩnh lại tâm kích động. Ngoài ra, Bharmari
giúp giảm thiểu chứng đau nửa đầu, cải thiện sự tập trung và trí nhớ, xây dựng
sự tự tin, giúp giảm huyết áp.
1.3.2. Tác dụng của Yoga lên hệ thần kỉnh

Trong một nghiên cứu về tác dụng trực tiếp của Yoga lên hệ thần kinh,
tác giả nhận thấy luyện tập Yoga cải thiện rõ nét về độ tập trung, tăng thị lực và
khả năng đáp ứng vói các tình huống bất ngờ. Trong một nghiên cứu khác cho
thấy những người luyện tập Yoga có khả năng phối hợp tay mắt, tốc độ và độ


19

ra rằng nhóm luyện tập Yoga cải thiện rõ rệt nồng độ adiponectin, lipit huyết
thanh và giảm các yếu tố nguy cơ hội chứng chuyển hóa ở phụ nữ béo phì sau

Các tư thế trong Yoga đa dạng, chủ yếu là ép và kéo giãn, luôn làm thay
đổi
tuần hoàn máu đế cơ, cơ quan nội tạng, giảm áp suất thành mạch

Đặc diêm của hô hấp trong Yoga là chậm, sâu, đầy, đều. Điều này có nhiều
hiệu ứng, cả về thể chất và tinh thần. Các bài tập thở cho người huyết áp tăng
đều chú trọng kéo dài hơi thở ra hoặc 3 thì (Hít vào - Thở ra- Nín thở). Điều
này có tác dụng gây cường hệ thần kinh phó giao cảm. Khi hệ thần kinh phó
giao cảm được tăng cường chức năng thì tim đập chậm hơn, yếu hơn và thành
mạch gian, hạ huyết áp cả tâm thu và tâm trương

Hít thở trong Yoga cùng với sự thực hành các tư thế trong Yoga có tác
dụng làm mạnh cơ bắp nói chung, trong đó có cơ hô hấp. Khí C02 được tống ra
nhiều và khí nạp vào nhiều oxy. Thêm vào đó, thường xuyên thực hành các bài
tập thở sẽ giúp nâng cao tính tập trung, ý chí, bản lĩnh của người tập. Người tập
sẽ cảm thấy bình tĩnh hơn, tập trung tâm trí vào hơi thở, giúp loại bỏ những suy
nghĩ tiêu cực phát sinh [83].


21

Tăng huyết áp ảnh hưởng đến các cơ quan nội tạng như tim, phổi, gan và
thận. Thực hành của asana và Pranayama giúp giảm thiểu thiệt hại do tăng huyết
áp. Trong thực hành asana, cơ vừa có sự hoạt động tĩnh lực vừa có sự thay đổi
sang hoạt động động lực. Chính vì vậy hoạt động cơ bắp ít căng thăng hơn, có
nhiều pha thả lỏng giúp cơ bắp thư giãn và hồi phục. Tạo điều kiện cho tuần
hoàn máu đến tất cả các mao mạch trên cơ thể. Khi lưu thông máu được cải
thiện, não hấp thụ nhiều oxy hơn và điều này giúp ta tỉnh táo, tăng cường kỹ
năng tập trung và cải thiện tính khí thất thường. Khi căng thăng giảm, hệ thống
miễn dịch của cơ thể được một tăng. Do đó thực hành Yoga hàng ngày còn có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status